Tiến sĩ LÊ ĐỨC MAO ( 1462-1529), với "BÀI HÁT XUÂN
Đ̀NH" nói lên cảnh mùa Xuân thanh b́nh của một thời thịnh trị :
Nhị nguyệt huyên
ḥa tuyết
Thập đ́nh cổ vũ
xuân
Tiệc mở hát thồ
thần kỳ phúc
Vạn vạn niên tề
chúc thánh cung
Hoan thanh ba
tiếng hô tung
Hương nghi ngút
khói
rượu nồng nàn
hoa
Đ́nh tấu nhạc
miếu dâng ca
Vẻ thanh múa
phượng
khúc ḥa bay
loan
Ngày xuân xuân
tịch thừa hoan
Thọ trăm tiếng
chúc phúc ngàn câu ca
Kể từ đó b́nh
ḥa vĩnh nhạ
Vỗ tay mừng huệ
ngă vô cương
Xuân kỳ giải
thưởng đào nương
Cửu như dâng
phúc
ba hàng nức vui
Cảnh đón Xuân nhàn nhă, tiêu dao của NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491-1585) :
THÚ NHÀN
Lẩn thẩn ngày
qua lại tháng qua
Mät năm Xuân tới,
một phen già
Aùi ưu vằng vặc
trăng in nước
Danh lơị dửng
dưng gió thổi hoa
Aùn sách hăy c̣n
án sách cũ
Nước non bạn với
nước non nhà
TỰ TIÊU DAO
Xóm tự nhiên,
lều một căn
Quét không thảy
thảy bụi hồng trần
Ngh́n hàng cam
quất, con đ̣i cũ
Mấy đưá ngư tiều,
bộ bạn thân
Thấy nguyệt tṛn
th́ kể tháng
Nh́n hoa nở mới
hay Xuân.
Bài thơ TRỪ TỊCH nổi tiếng của ĐẶNG ĐỨC
SIÊU (1755-1813), gồm 8 câu, nhưng hai câu 5 và 6 bị thất truyền. Năm
1926, người ta chỉ đọc được trên Văn Đàn Bảo Giám sáu câu (bốn câu đầu và
hai câu 7-8). Hai câu 5-6 dưới đây là do thi sĩ Đông Hồ viết để điền vào :
Tháng lụn năm
cùng sự chẳng cùng
Nửa đêm xuân lại
nửa đêm đông
Chi lan tiệc cũ
hương man mác
Đào lư vườn xưa
tuyết lạnh lùng
(*Đất có bâng
khuâng chờ hội ngộ
*Trời như thao
thức đợi tao phùng)
Gà kêu pháo nổ
năm canh trót
Mừng cội mai già
gặp chúa Đông
Bài thơ
T̀NH XUÂN, viết theo điệu Tây Giang Nguyệt
của Tiêu Sơn Tráng Sĩ PHẠM THÁI (1777-1813) trong Thi Tập "Sơ Kính Tân
Trang" :
Ai lên tử các
thanh vân
Hỏi thăm ả Tố
chiều xuân thế nào
Cầm âm một khúc
gởi trao
Cậy ḷng d́ gió
đưa vào xuân cung
Oanh yến véo von
gọi khách
Cỏ hoa hớn hở
mừng ai
Gió xuân hây hẩy
dịu đưa người
Dễ khiến ḷng
thơ bối rối
Thấp thoáng thoi
oanh dệt liễu
Thung thăng phấm
bướm dồi mai
Vũ lăng xa viễn
biết bao vời
Khôn hỏi đào
nguyên đâu tá
Khôn hỏi đào
nguyên đâu tá
Ḍng ngự câu đeo
lá t́nh thi
May thay một hội
tương kỳ
Đă bên t́nh phận
lại bề phong lưu
Câu hảo cầu đợi
người thục nữ
Năm mây phong
đôi chữ đồng tâm
Đón xuân nhắn
với tri âm
Tính t́nh xin tỏ
tiếng cầm này cho
Rắp hẹn ḥ ngồi
hoa đứng tuyết
Ḷng c̣n e không
biết nói năng
Bây giờ mượn gió
cung Đằng
V́ duyên đưa mối
xích thằng lại đây
Bài thơ "CẢNH TẾT" của nhà thơ khá quen thuộc,
NGUYỄN CÔNG TRỨ (1778 - 1858);
Ai dám chê ta
tết nhất nghèo
Nghèo mà lịch sự
đố ai theo
Bánh chưng chất
chặt chừng ba chiếc
Rượu thuốc ngâm
đầy độ nửa siêu
Trừ tịch kêu
vang ba tiếng pháo
Nguyên tiêu cao
ngất một gang nêu
Ai xuân ta cũng
chơi xuân với
Chung đỉnh ơn
vua ngày tháng nhiều .
Bài thơ "XUÂN
CẢM" của nhà thơ Tam Nguyên Yên Đổ NGUYỄN- KHUYẾN (1835 -
1909):
Tuổi thêm thêm
được tóc râu phờ
Nay đă năm mươi
có lẻ ba
Sách vở ích ǵ
cho buổi ấy
Aùo xiêm nghĩ
lại thẹn thân già
Xuân về ngày
loạn c̣n lơ láo
Người gặp khi
cùng cũng ngất ngơ
Lẩn thẩn lấy chi
đền tấc bóng
Sao con đàn hát
vẫn say sưa
Trong thi ca Việt Nam cuối thề kỷ XIX, TÚ XƯƠNG (1869 - 1906) là người đă
để lại nhiều bài thơ cay đắng nhất cho phận ḿnh, cho đời. Trong cái cay
đắng ấy đuợm nỗi buồn xa vắng, nỗi nhớ mênh mông, làm cho ngựi đọc cảm
động vô cùng. Trong đó có nhiều bài thơ về Xuân về Tết.
TẾT SUÔNG
Anh em đừng nghĩ
Tết tôi nghèo
Tiền bạc trong
kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn
đem hàng biếng quẩy
Chè sen mượn hỏi
giá c̣n kiêu
Bánh đuờng sắp
gói e mồm chảy
Gị lụa toan làm
sợ nắng thiu
Thôi thế th́
thôi đành Tết khác
Anh em đừng nghĩ
Tết tôi nghèo
XUÂN HỨNG
Một ngọn đông
phong sẽ thổi phào
Đông quân nhường
tỏ lối ra vào
Tường mai ngơ
hạnh tuy như cũ
Lá bướm cành
chim đă thế nào
Tranh pháo vui
xem con trẻ nọ
Tóc râu thêm sợ
tuổi trời cao
T́m xuân dễ biết
xuân đâu tá
Hương khói nhà
ai cũng ngạt ngào
CHÚC TẾT
Bắt chước ai ta
chúc mấy lời
Chúc cho khắp
hết cả trong đời
Vua quan sĩ thứ
người muôn nước
Sao được cho ra
cái giống người
TẢN ĐÀ Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939) với bài thơ "GẦN
TẾT TIỄN NĂM CŨ":
Gần Tết bao
nhiêu cảnh khác nhau
Người vui sắm
sửa, kẻ lo sầu
Phong lưu thiên
hạ nghe chừng ít
Lo Tết trần gian
chẳng thiếu đâu !
Quanh năm luống
những túng cùng lo
Tết nhất xem ra
cũng lắm tṛ
Lễ nghĩa muốn
thôi, thôi chẳng rứt
Nợ nần vay trả,
khất quanh co
. . . . .
Tiễn năm ta có
mấy vần thơ
Năm hết cho
người cũng hết lo
Sắp sửa cành nêu
Xuân đón chúa
Thử xem năm mới
có ra tṛ !
Năm 1936, nhà thơ "Hương Đồng Cỏ Nội" NGUYỄN BÍNH, viết bài thơ MƯA XUÂN,
với nhiều t́nh tự thật dễ thương :
Em là cô gái
trong khung cửa
Dệt lụa quanh
năm với mẹ già
Ḷng trẻ c̣n như
cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán
chợ làng xa
Bữa ấy mưa xuân
phơ phới bay
Hoa xoan lớp lớp
rụng vơi đầy
Hội chèo làng
Đặng đi ngang ngơ
Mẹ bảo "thôn
Đoài hát tối nay"
Ḷng thấy giăng
tơ một mối t́nh
Em ngừng tay lại
giữa tay xinh
H́nh như hai má
em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ
đến anh
Bốn bên làng xóm
đă lên đèn
Em ngữa bàn tay
trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay
từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy
chả sang xem
Em xin phép mẹ
vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể
mẹ nghe
Mưa bụi nên em
không ướt áo
Thôn Đoài cách
có một thôi đê
Thôn Đoài vào
đám hát thâu đêm
Em mải t́m anh
chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay
giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ
ngón tay em
Chờ măi anh sang
anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ
hát bên làng
Năm tao bảy
tuyết anh ḥ hẹn
Để cả mùa xuân
cũng nhỡ nhàng !
Ḿnh em lầm lũi
trên đưiờng về
Có ngắn ǵ đâu
một dải đê !
Aùo mỏng che đầu
mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm
tủi với canh khuya
Bửa ấy mưa xuân
đă ngại bay
Hoa xoan đă nát
dưới chân giày
Hội chèo làng
Đặng về ngang ngơ
Mẹ bảo "mùa xuân
đă cạn ngày"
Anh ạ ! Mùa xuân
đă cạn ngày
Bao giờ em mới
gặp anh đây ?
Bao giờ hội Đặng
di ngang ngơ
Để mẹ em rằng
hát tối nay ?
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1915 - 1976) với hai bài thơ Năm Dậu:
1.-Xuân Kỷ Dậu 1789 là mùa xuân rạng rỡ nhất trong lịch sử nước ta ,
khi Vua Quang Trung đại phá quân Thanh vào mấy ngày Tết. Đúng 180 năm sau,
Xuân Kỷ Dậu 1969, nhà thơ Vũ Hoàng chương nhớ lại và hào hứng làm bài thơ
chữ Hán :
KỶ DẬU HỒI THANH
Kê minh nhật
thướng cựu sơn xuyên
Hồi ức Quang
Trung vũ hịch truyền
Sơn vĩ sơn đầu
hoa giải ngữ
Hoà âm xuân thảo
nhiễu b́nh nguyên
Đặng Tiến dịch :
Gà thúc b́nh
minh sông núi xưa
Quang Trung thuở
nọ, hịch truyền đưa
Sườn non lưng
núi lời hoa nở
Nội cỏ ḥa xuân,
nhạc tấu mùa
2.- Và cũng mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1969, lúc ông vừa được 55 tuổi, khi
nghe ḥa hội Paris vừa khai mở, hy vọng ḥa b́nh ló dạng, Ông phấn khởi
viết bài thơ "MỞ BÚT GHI ĐIỀM" sau đây:
Tin Xuân gà gáy
rách trời đêm
Tuổi nửa trăm
vừa nửa chục thêm
Đủ thấy điềm
lành hai nửa nước
Một nhà trong ấm
với ngoài êm
Tiếc thay, "điềm lành" ấy đă không đến với ông. Năm 1976 ông bị bắt
giam, bị bệnh nặng trong tù và mất ngày 06.09.76, nhằm ngày 13 tháng 8 năm
Bính Th́n:
Để nhớ về tuổi ấu thơ, ta hăy nghe nhà thơ Lan-Sơn kể lại :
Thuở
bé tôi đeo chiếc khánh vàng
Quần đào xẻ đũng,
áo hàm lam
Chân đi hài đỏ,
tay thu pháo
Nhộn cả nhà lên,
tiếng hát vang
Tự những ngày xa xưa, bà con đă đón Tết với ḷng ước mơ đất nước thanh
b́nh, Bàng Bá Lân với bài thơ Khai Bút năm Đinh Dậu 1957:
Cảm hứng trước đất trời mùa Xuân, Hàn Mặc Tử đă viết những vần thơ thật
dễ thương trong Mùa Xuân Chín:
Và ta hăy nghe nhà thơ Trần Trung Phương tả lại cảnh gia đ́nh đón giao
thừa :