NHÂN MÙA XUÂN ẤT DẬU
THỬ T̀M BÓNG DÁNG CON GÀ
TRONG NGÔN NGỮ DÂN GIAN VÀ
TRONG VĂN THƠ VIỆT NAM.
Con gà, và đặc biệt là tiếng gà gáy là những h́nh ảnh
và âm thanh thân thương quen thuộc ở nông thôn, làng xóm Việt
Nam.
"Chó giữ
nhà, gà gáy trống canh". Chính v́ vậy người ta rất dễ t́m thấy h́nh ảnh con
gà và tiếng gà gáy trong nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, cũng như trong văn
thơ, có liên quan đến đặc tính của gà, xấu cũng có mà tốt cũng nhiều.
Con gà có một nhược điểm mà ngôn ngữ dân gian ghi nhận,
chính là thị giác kém cỏi vào lúc trời chạng vạng tối:
Quáng Gà. Ngoài ra
loài gà thường mắc chứng bệnh sâu mắt làm hỏng thị giác, v́ vậy nó bị gán
thêm hai chữ gà mờ. Hai tiếng này thường được dùng theo nghĩa bóng, chỉ
những kẻ thiếu hiểu biết trong một lănh vực nào đó. Từ đó mới có thêm câu
ngây ngô như gà mờ, lờ mờ như đom đóm đực.
Ngoài ra, gà có dáng dấp ngơ ngác, lơ láo, nên người ta
thường bảo ngơ ngác như
gà con mất mẹ, gà mở cửa mả. Thành ngữ
gà mở cửa
mả là một lối nói đặc biệt của phương ngữ Nam bộ, được nhà tự điển Huỳnh
Tịnh Của giải thích như sau:
gà dùng mở cửa mả rồi th́ khờ, không c̣n biết
đàng nào mà đi.
Trong Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức (Lê ngọc Trụ hiệu
đính) đă nói rơ hơn : Con gà ôm từ nhà ra nghĩa địa rồi được thả ra giữa
đông người, trước tiếng mỏ tiếng chuông và tiếng tụng kinh trong lễ mở cửa
mả, nên khờ khạo ngơ ngác. Tội nghiệp nhất là mấy chú gà con lạc mẹ, đă
không tự kiếm ăn được mà c̣n bị đe dọa bởi sự xuất hiện của mấy con quạ,
con diều hâu, v́ thế nên có câu: sểnh nạ quạ tha, (nạ là mẹ).
Con gà, trong lúc t́m thức ăn, thường hay bới móc bừa
băi lung tung, nên có câu vắng chủ nhà gà bới bếp, hay
vắng chủ nhà gà vọc
niêu tôm (Câu này bị tam sao thất bổn, nên có nhiều nơi nói là vắng chủ
nhà gà mọc đuôi tôm). Thành ngữ này thường được dùng để ám chỉ khi ông sếp
(hay cha mẹ) đi vắng th́ nhân viên (hay con cái) tha hồ làm ǵ th́ làm. Gà
nhà bươi phá trong nhà đă đành, nhưng gà của hàng xóm mà vào bươi phá nhà
ḿnh mới là phiền. V́ vậy có câu
trấu trong nhà để gà ai bới.
Phương tiện chính để kiếm ăn của gà là cặp gị. Nếu cặp
gị mà có bề ǵ th́ con gà đành nằm một chỗ, chỉ c̣n cái mỏ mổ bậy chung
quanh, v́ vậy có câu gà què ăn quẩn cối xay.
Riêng mấy chị gà mái, ngay sau khi đẻ trứng th́ kêu lên
inh ỏi, nên có câu gà đẻ gà cục tác, Câu này ám chỉ những hành động
ngớ ngẩn dại dột cái kiểu lạy ông tui ở bụi này... Nhưng cũng có nhiều chị
gà mái không hiền, nên mới có câu gà mái đá gà cồ. Nhiều người đă
dí dỏm ghép chung với câu tiếng Hán nữ kê tác quái
gà mái đá gà cồ. Mượn
h́nh ảnh của một nữ quái kê để ám chỉ mấy mụ đàn bà có thói ăn hiếp đức
ông chồng..
Trong khi con gà mái bị chê v́ hành động lấn lướt đức
lang quân, th́ anh gà trống lại được khen về đức độ đảm đang và đùm bọc
đám con cái, nên có câu gà trống nuôi con. Câu nói này để chỉ những
người đàn ông góa vợ, mà vẫn một ḷng tận tụy nuôi con.
Liên quan đến tiếng gáy, dân gian c̣n nhận xét rằng
gà
tức nhau tiếng gáy, câu nói này c̣n ám chỉ nhừng ngựi có tính hơn thua.
Gà một chuồng, có khi cùng một mẹ, có lúc bôi mặt đá nhau. Và cũng để
tránh cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn, dân gian đă có lời khuyên
khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Ngày xưa, mỗi khi muốn xin xỏ việc ǵ, người dân thường
phải nhờ đến mấy ông thầy kư viết đơn hộ. Khi đơn viết xong, phải giết gà
mà đăi ông ta. V́ vậy mới có câu bút sa gà chết. Câu này cũng nhắc
nhở mọi người, trước khi quyết đinh điều ǵ phải cân nhắc kỹ lương, nhất
là khi đặt bút xuống kư trên bất cứ giấy tờ ǵ.
Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam, con gà trống chưa bao
giờ có đuợc h́nh ảnh kiêu kỳ, uy nghi như trong ngôn ngữ dân gian của Pháp,
chẳng hạn như Fier comme un coq
(kênh kiệu như con gà trống). Người
nông dân Pháp quan niệm rằng con gà trống là vua trong sân gia cầm
(roi de la basse-cour), từ đó mà có lối nói ẩn dụ:
être le coq du village
(là nhân vật quan trọng nhất làng). Người Anh cũng đă dùng danh từ con gà
trống: the cock để ám chỉ ngưới cầm đầu, kẻ tai mắt. Đây là một cương vị
mà con gà trống Việt Nam chưa có được. Trong ngôn ngữ dân gian, dường như
người ta chỉ vờ khen bộ lông con gà trống:
con gà tốt mă v́ lông để mà chê
bai về một khả năng của giống đực khác;....nhanh như gà.. !
Chỉ trong một số câu đố dân gian, th́ anh gà trống mới
được mô tả oai phong một chút :
Chân đạp miền thánh địa
Đầu đội mũ b́nh thiên
Ḿnh th́ bận áo mă tiên
Ban ngày bảy vợ, đêm nằm riêng kêu trời
Hoặc là :
Trên đầu đội sắc vua ban
Dưới thời yếm thắm, dây vàng xum xoe..


Con gà th́ chẳng có ǵ hay ho lắm, tuy nhiên tiếng
gáy của con gà lại mang nhiều biểu tượng, mà biểu tượng đặc biệt là về
thời gian. Khi mà người ta c̣n tính thời gian đêm năm canh ngày sáu khắc,
lúc mà chiếc đồng hồ vẫn c̣n là một cái ǵ xa lạ với dân gian, th́ tiếng
gà gáy là một cái ǵ thật quan trọng:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương.
Tiếng gà gáy th́ vô tri vô thức, nhưng khi đưa vào văn
thơ, đă trở thành một hiện tượng quan hệ mật thiết với con người. Trong
văn học, tiếng gà cất lên giữa vui buồn ch́m nổi, giữa thao thức trằn trọc
của con người. Ta hăy nghe Nguyễn Du tả trong truyện Kiều :
Những là đo đắn ngược xuôi
Tiếng gà nghe gáy đă soi mái tường
Lầu mai giữa lúc c̣i sương
Mă Sinh giục giă vội vàng ra đi
Lúc này Kiều đă bán ḿnh chuộc cha, Mă Giám Sinh hối hả
đưa Kiều về nhà chứa tú bà, để sau đó Kiều mắc mưu phải bỏ trốn theo Sở
Khanh :
Tiếng gà xao xác gáy mau
Tiếng người đâu đă mé sau dây dàng
Nàng càng thổn thức gan vàng
Sở Khanh đă rẽ dây cương lối nào
Khi rơi vào tay của Hoạn thư, Kiều lại t́m đuờng bỏ
trốn :
Mịt mù dặm cát đồi cây
Tiếng gà điểm nguyệt dấu giày cầu sương
Canh khuya thân gái dặm trường
Phần e đường sá phần e dăi dầu
Trong Chinh Phụ Ngâm, người chinh phụ đêm ngày nhớ
thương trông ngóng chồng, năm canh trằn trọc:
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương
Gà eo óc gáy sương năm trốn
Ḥe phất phơ rũ bóng bốn bên
Đến Thơ Mới thời 1932-1945, con người thường hiện ra bơ
vơ, lạc loài, ngơ ngác giữa xă hội nhân quần , ta hăy nghe Huy Cận than
thở:
Tới ngă ba sông nước bốn bề
Đến chiều gà lại gáy bên đê
Tiếng gà gáy ban đêm làm cho ngưới ta thêm ưu tư trằn
trọc, xót thương cho thân phận cô đơn chiếc bóng của ḿnh. Tiếng gà gáy
buổi chiều càng thúc giục người ta trước một quyetá định khó khăn nào đó.
Nhưng tiếng gà gáy buổi trưa lại làm cho ḷng dạ năo nùng, da diết nhớ lại
những kỷ niệm buồn từ một thời nào đó xa xăm. Nhà thơ Lưu Trọng Lư viết :
Những lần nắng mới hắt qua sông
Xao xác gà trưa gáy năo nùng
Ḷng rượi buồn theo thời dĩ văng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tiếng gà cũng là biểu hiện của những cuộc chia tay. Lúc
ấy tiếng gà lại là nỗi lo âu của những ngưới sắp phải nói lên lời từ biệt.
Ta hăy nghe tiếng gà của Xuân Diệu trong bài thơ nỗi tiếng Lời Kỹ Nữ:
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà
lạnh buốt,
Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách đi
Du khách đă đi rồi
Và tiếng gà của Lưu Trọng Lư trong bài thơ Giang Hồ :
Mời anh cạn hết chén này
Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn
Tiếng gà đă rộn trong thôn
Nửa đời phiêu lăng chỉ c̣n đêm nay
..
Khi tiếng gà gáy dồn dập, hối thúc, như tiếng đập cửa
réo gọi giang hồ kiếp ấy trọn đời phiêu linh, và gỡ tay vướng để theo lời
non nước. V́ vậy, với nhà cách mạng Phan Bội châu, tiếng gà chính là biểu
tượng của thức tỉnh, của đấu tranh :
Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ư chào mừng
Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng
Đời đă mới, người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rơ ràng tân vận hội
Xúm vai vào gánh vác cựu giang sơn
Trong kho tàng văn chương Việt
Nam, tiếng gà gáy đă có
một vị trí nhất định của nó. Và với mỗi một người trong chúng ta chắc chắn
tiếng gà gáy cũng đă để lại trong ḷng ít nhiều kỷ niệm. Riêng những người
sống tha phương, đă bao nhiêu năm thiếu vắng tiếng gà trong đời sống, nếu
có lần trở lại quê nhà, bất chợt nghe được tiếng gà gáy, sẽ cảm thấy ḷng
man mác bâng khuâng, nhớ lại một thời vui buồn nào đó. Tiếng gà, cuối cùng,
cũng đă trở thành một biểu tượng của quê hương, của một mất mát, trong
ḷng những người Việt Nam xa xứ.
Thụy Nguyên
(phỏng theo tài liệu của Liễu Thy và Lê Đ́nh Ky)