Nhân dịp Xuân về, chúng tôi xin sưu tầm
  một số câu đối để chúng ta cùng thưởng
  thức một thú vui tao nhă của tiền nhân mà
  ngày nay chẳng c̣n được mấy người chơi.

  Người Việt xưa từ triều đ́nh xuống dân giă,
  từ Nho sĩ đến b́nh dân, đâu đâu cũng ưa
  chuộng câu đối. Câu đối được sử dụng như
một món quà văn hóa tinh thần cao quư để tặng nhau. Câu đối được dùng để trang hoàng chốn cung đ́nh, nơi công sở, đ́nh chùa miếu mạo... Câu đối được dùng để trang trí nhà cửa, nhất là vào những dịp Tết, tân gia, quan, hôn, tang, tế... Các nhà Nho viết câu đối trên giấy hồng đơn dán cột nhà, trước hiên, ngoài cổng. Các nhà giàu thuê người khắc câu đối trên gỗ khảm (cẩn) xa cừ hay sơn son thếp vàng, treo thành cặp song song 2 bên bàn thờ tổ tiên hay nơi pḥng khách. Thường th́ người ta đi mua các câu đối được viết sẵn của các ông đồ, v́ câu đối không thể thiếu trong ngày Tết:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh
       
(Trần Tế Xương)

Câu đối là thể văn cổ điển gồm 2 câu (vế) có số lượng từ bằng nhau và đối chọi với nhau cả về lời lẫn ư. Câu đối: chữ Hán gọi là đối liên hay doanh thiếp (doanh: cột nhà, thiếp: mảnh giấy có viết chữ). Câu đối, phú, văn tế thuộc văn biền ngẫu. Biền ngẫu là loại văn gồm những cặp câu có hai vế đối nhau, c̣n đối ngẫu là đối nhau về lời và ư theo từng cặp trong văn biến ngẫu. Ngày xưa người ta xem câu đối là một nghệ thuật chơi chữ uyên bác trí thức, qua đó người ta có thể đo lường được tŕnh độ, kiến thức, tài văn chương chữ nghĩa, sự thông minh nhanh trí cũng như tài ứng khẩu đối đáp của một người, ngày nay câu đối vẫn c̣n thấy rải rác trên một vài tờ báo Xuân. Tóm lại, người ta dùng câu đối để thử sức, đua tài, đấu trí với nhau như thú chơi cờ tướng vậy.

Ngoài những quy luật cấu tạo chặt chẽ từ h́nh thức đến nội dung, nhiều câu đối được gói thêm những ư ngầm, cài thêm những chữ lắt léo hay điển tích sâu xa... mà mới đọc qua người ta không dễ ǵ hiểu nổi. Chính những điều khúc mắc thâm thúy và cao tay này mà câu đối thu hút người chơi.
 

I. LUẬT TẮC

1. Số chữ trong mỗi vế:

Mỗi câu đối gồm 2 vế: vế phải vế trái, hay vế trên vế dưới, hay vế xuất vế đối, hay vế xướng vế họa. Mỗi vế có nhiều đoạn, tiểu đoạn, không hạn chế dài ngắn. Số chữ trong 2 vế bằng nhau và đối chọi với nhau.

2. Đối thanh:

Thanh bằng (chữ có dấu huyền hay không dấu) đối với thanh trắc (chữ có dấu sắc, nặng, hỏi, ngă) và ngược lại.

3. Đối tự loại:

Danh từ đối danh từ, chủ từ đối chủ từ, số lượng đối số lượng, tên riêng đối tên riêng, âm thanh với âm thanh, màu sắc đối màu sắc, h́nh ảnh đối h́nh ảnh, tục ngữ đối tục ngữ, điển tích đối điển tích, v.v...

4. Đối ư: Gồm:

Đối thuận: 2 vế có ư nghĩa tương quan nhất quán nhau.
Đối nghịch: 2 vế có ư nghĩa biệt lập, đối chọi, tương phản nhau.

5. Đối về hàm ư:

Nếu vế trên chứa ẩn ư, ư ngầm mà người đọc phải thông hiểu điển tích lai lịch về người và sự kiện liên hệ mới hiểu được th́ vế dưới cũng phải đối được như vậy mới có giá trị.

6. Tiểu đối: là câu đối ngắn thường có từ 3 đến 6 chữ như:

Trường đồ tri mă lực
Cư cửu kiến nhân tâm

Cá đối nằm trong cối đá
C̣ lửa đậu giữa cửa ḷ

7. Thi đối: là câu đối dài trung b́nh 7 chữ như 2 cặp thực luận trong một bài Đường luật:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
(Nguyễn Đ́nh Chiểu)

8. Phú đối: là câu dài ngắn vô hạn định như trong thể văn phú. Phú (nghĩa đen là bày tỏ) là thể văn vần có số âm tiết trong mỗi câu và số câu trong mỗi bài không hạn định, câu thường chia làm 2 vế bằng nhau và đối nhau, dùng để tả cảnh vật, phong tục, hay tánh t́nh của con người. Gồm:

Phú song quan: (2 cửa): có từ 5 đến 9 chữ, như:

Con ruồi đậu trên mâm xôi đậu
Cái kiến ḅ dưới dĩa thịt ḅ

Phú cách cú (ngăn câu) như:

Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
Đá xanh xây cống, ḥn dưới nống ḥn trên

Phú gối hạc: mỗi vế có từ 3 đoạn trở lên, như:

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai (Đặng Trần Thường)

Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế (Ngô Thời Nhậm)

Câu đối cũng giống như cặp thực, luận trong bài Đường luật thất ngôn bát cú tuân theo quy tắc căn bản:

Nhất tam ngũ bất luận
Nhị tứ lục phân minh

Để làm sáng tỏ những luật tắc nói trên, chúng tôi xin dẫn chứng một số ví dụ:

Ví dụ 1:

Xuân tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ (Xuân thêm ngày tháng, người thêm tuổi)

Phúc măn càn khôn lộc măn đường (Phúc đầy trời đất, lộc đầy nhà)

Ví dụ 2:

Ông ra bắc là may, quyền kinh lược tước quận công, bốn bể không nhà mà nhất nhỉ!

Cụ về tây cũng tiếc, trong triều đ́nh ngoài thôn dă, một ḷng v́ nước há hai đâu?

Câu đối này do một người làm để đi điếu ông Hoàng Cao Khải người Nghệ An theo Tây làm chức Kinh lược Bắc kỳ, có những tiểu đoạn lắt léo như bốn bể không nhà mà nhất nhỉ, về tây cũng tiếc, một ḷng v́ nước há hai đâu rất kín đáo và cao tay đă được sử dụng để mỉa mai khinh bỉ một kẻ theo giặc.

Ví dụ 3:

Thượng tọa bay bàn tọa
Văn B́nh sứt miệng b́nh

Câu đối này của nhà thơ Tú Thịt có ngầm ư trào phúng nhà văn Chu Tử Chu Văn B́nh và Thượng Tọa Thích Thiện Minh, trước 1975 không ưa nhau cùng bị kẻ ác ám sát, Thượng Tọa bị thương ở bàn tọa, Nhà Văn bị thương ở quai hàm.

Ví dụ 4:

Nam Sơn trúc bất tận (Trúc Nam Sơn bất tận)
Đông Hải ba vô cùng (Sóng Đông Hải Vô cùng)

Khi Vi Văn Định được Pháp tin dùng cho làm Tổng Đốc Hà Đông có nhờ một nhà nho ở tỉnh Nam Định làm cặp đối trên để treo trong nhà rất lấy làm đắc ư, v́ không hiểu điển tích nên ông ta không thấy câu đối có ngầm ư nguyền rũa ông ta. Đông Ba Hải và Nam Sơn Trúc là những chữ rút trong bài hịch của Lư Mật nhà Đường kể tội Tùy Dạng Đế thời xưa:

Quyết Đông hải chi ba lưu ác bất tận
(Khơi sóng biển Đông ác bất tận)

Khánh Nam sơn chi trúc thư tội vô cùng
(Viết trúc Nam hải tội vô cùng)

Ví dụ 5:

Đông tây! Đông tây!
Vắng khách! Vắng khách!

Câu đối trên của một nhà văn làm tặng nhà văn Hoàng Tích Chu khi Chu đi hát cô đầu, Chu vốn là chủ báo Đông Tây là tờ báo chủ xướng lối viết ngắn gọn nhưng lại ít đọc giả. Câu đối rất ngắn gọn này có những chữ có nghĩa đôi như Đông: hướng Đông, đông đúc. Tây: hướng Tây, người Tây. Vừa có ư châm biếm cái quán cô đầu nhiều Tây nhưng vắng khách, vừa có ư châm biếm tờ báo Đông Tây ít đọc giả.

Ví dụ 6:

Viên Khâm sứ Pháp gặp vua Duy Tân ra câu đối:

Rút ruột vương thành ba
(Trong chữ Hán: Vương là vua, nếu rút mất một nét dọc ở phần ruột th́ thành ra chữ tam là ba).

Vua Duy Tân đă ứng khẩu đáp lại:

Chặt đầu tây c̣n bốn
(Chữ Tây là hướng Tây, là người Pháp, nếu chặt mất một nét trên đầu th́ thành ra chữ tứ là bốn).
 

II. TỤC CHƠI CÂU ĐỐI

Ngày Tết có tục chơi câu đối, người ta dùng 2 mảnh giấy dài (hoặc vải, hay gỗ) màu đỏ rực rỡ, trên đó viết 2 câu đối bằng mực xạ đen nhánh treo (hay dán) thành cặp song song với nhau. Ví dụ:

Tối ba mươi khép cửa càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới

Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào
(Hồ Xuân Hương)

Đây là một trong những câu đối tuyệt bút của văn học VN.

Tú Xương làm câu đối Tết để nói về cảnh nghèo của ḿnh:

Không dưng Xuân đến chi nhà tớ
Có nhẽ Trời mà đóng cửa ai

Thiên hạ xác rồi c̣n đốt pháo
Nhân t́nh trắng thế lại bôi vôi

  • Nực cười thay: nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết (ngày xưa dùng vôi bột rắc h́nh cung tên để trừ ma quỷ trong ba ngày Tết)

Thôi cũng được: rượu có, nem có, bánh chưng cũng có, thừa chơi

Xuân về chớ để Xuân đi, thương kẻ quạt nồng cùng ấp lạnh

Năm mới khác ǵ năm cũ, van người bán muối với mua vôi

Nợ có chết ai đâu, chưỡi chó mắng mèo eo óc

Trời để sống ta măi, lên xe xuống ngựa lắm phen

Nhà thơ nông thôn Nguyễn Khuyến có viết 2 câu đối chia xẻ cảnh bần cùng của người dân quê VN trong ba ngày Tết:

Tối ba mươi nợ réo tít mù, ờ ờ Tết
Sáng mồng một rượu say túy lúy, à à Xuân

Hay:

Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đ́ đùng thêm mất chó
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo

Bà Hồ Xuân Hương có lần ra câu đối trêu chọc ông Chiêu Hổ:

Mặc áo giáp, dải cài chữ đinh, mậu, kỷ canh, khoe ḿnh rằng quư (Câu này sử dụng 6 chữ trong thiên can của lư số)

Ông Chiêu Hổ đối lại rất hay như sau:

Làm đĩ càn, tai đeo hạt khảm, tốn ly, đoài, khéo nói rằng khôn (Câu này dùng 6 quẻ của bát quái trong kinh Dịch)

Bà Hồ Xuân Hương có 2 câu đối sử dụng nghệ thuật nói lái với lời thanh ư tục:

Khéo khen ai đẽo đá chênh vênh, tra hom ngược để đơm người đế bá

Gớm con tạo lừa cơ tem hẻm, rút nút xuôi cho lọt khách cổ kim

Thi tài của bà c̣n được thể hiện trong 2 câu đối độc địa nhầm châm biếm kẻ quan lại quyền quư:

Vơng đào quan lớn đi trên ấy
Váy thủng bà con vỗ dưới này

Bằng nghệ thuật trào phúng nhẹ nhàng thâm thúy, cụ Tam Nguyên Yên Đỗ đă viết 2 câu đối để mừng một ông quan vừa được thăng chức:

Cung kiếm hai tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Triều đ́nh cử mục, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

Tương tự, Nguyễn Công Trứ cũng có 2 câu đối để châm biếm một ông quan có tŕnh độ dăm chữ.

Tưởng làm dăm chữ mà chơi vậy
Ai ngỡ nên quan đă sướng chưa

Có một giai thoại kể rằng lúc Cao Bá Quát c̣n bé, một hôm nhà vua đi ngang qua bờ sông, cậu bé đă không tránh mà c̣n cỡi áo nhảy đùng xuống sông để tắm, bị lính bắt dẫn đến tŕnh Vua, Vua thấy cậu bé có học nên ra một vế đối:

Nước trong leo lẻo cá đớp cá

Cậu bé ứng khẩu:

Trời nắng chang chang người trói người

Nhà Vua khen cậu bé thông minh và tha cho.

Trên bước đường hoạn lộ Cao Bá Quát bị cách chức xuống làm một ông giáo quèn đă làm 2 câu đối như sau:

Nhà trống đôi ba gian, một thầy một cô một chó cái
Học tṛ dăm bảy đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi

Về sau khởi binh chống triều đ́nh thất bại bị bắt, trước khi chết nhà thơ Cao Bá Quát ứng khẩu 2 câu đối đầy khinh bạc xem tử sinh nhẹ tựa lông hồng được người đời vô cùng kính phục:

Ba hồi trống giục đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời

Bà Đoàn Thị Điểm, tác giả Chinh Phụ Ngâm có ra 1 vế đối cho Cống Quỳnh khi Cống Quỳnh đến chơi tại nhà thân phụ Bà như sau:

Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song song

Nhưng Trạng Quỳnh không đối được.

Lần khác bà đang tắm, Cống Quỳnh lên tiếng đ̣i vào, bà không chịu, liền ra một vế đối:

Da trắng vỗ b́ bạch

Câu này Trạng cũng chào thua, từ đó tới nay vẫn chưa có ai đối được.

Gần đây trong tập Bút Kư Irina tập I của bà Irina Zisman người Nga, nhà hoạt động nhân quyền cho biết Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn ở Nga đă đối được như sau:

Rừng sâu mưa lâm thâm

Câu này hay, nhưng về mặt tượng thanh, tượng h́nh th́ cũng chưa thể sánh được với câu gốc của Hồng Hà Nữ Sĩ.

Vua Tự Đức có viết một vế xuất hóc búa, đến nay cũng chưa có ai đối được:

Không vô trong nội nhớ hoài.
(Theo tự điển: Không là vô, trong là nội, nhớ là hoài)

Vế xuất của một tác giả khuyết danh cũng thế:

Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương phụ tử (Phụ tử hồi hương có nghĩa là cha con về quê, và cũng là tên của 2 vị thuốc Bắc).

Nhà văn Khái Hưng có làm một câu đối Tết:

Bốn ngh́n lần: Xuân Hạ Thu Đông vạn vật loanh quanh ṿng lẩn quẩn

Ba ngày Tết: xôi dê rượu thịt muôn dân h́ hục chén no nê

Trong dân gian có những câu đối rất ngộ nghĩnh, sử dụng nghệ thuật chơi chữ và nói lái tuyệt vời như sau:

Tết túng tiền tiêu, toan tính t́m tay tử tế
Xuân xài xu xịn, xong xuôi xuống xưởng xác xơ

Súc sinh say sưa sàm sỡ sỗ sàng, sư săi sợ sệt sự sinh sinh sự
Rắn rít ŕnh rập rơ ràng ráo riết, rừng rú rầm ŕ răng rớt rớt răng

Vợ cả vợ hai hai vợ đều là vợ cả
Con nuôi con đẻ đẻ con há cậy con nuôi
Nhà thuê nhà tậu tậu nhà hết ở nhà thuê

Thầy giáo tháo giày đi chợ Tết
Giáo chức dứt cháo dự hội Xuân
 

III. TÍNH ĐỐI NGẪU TRONG THƠ

Thời xa xưa đời sống trầm lặng, cha ông chúng ta có những thú tiêu khiển thanh tao như cầm kỳ thi họa. Thi có nhiều thể loại như Đường luật, lục bát, song thất lục bát, phú, ḥ, vè, hát nói, văn tế, câu đối... tuy khác nhau nhưng đều có chung một đặc điểm là nặng tính đối ngẫu. Câu Đối, Phú, Văn Tế là loại văn biền ngẫu. Các thể thơ khác tuy không chuyên về đối ngẫu nhưng cũng không thiếu những cặp song đối tiểu đối... chứng tỏ đa số người Việt xưa thích sự cân đối, vững chăi, khuôn thức và tinh thần người Việt xưa thường an nhiên, tự tại, b́nh thản:

Chinh Phụ Ngâm (thể Song Thất lục Bát):

Ng̣i đầu cầu nuớc trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc c̣n non

Cung Oán Ngâm Khúc (thể Song Thất Lục Bát):

Ch́m đáy nước cá lờ đờ lặn
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa

Đoạn Trường Tân Thanh (thể Lục Bát)

Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Thể Đường luật:

Thế sự trai yêu thiếp mọn (Tục ngữ: Trai yêu thiếp mọn)
Nhân t́nh gái nhớ chồng xưa (Tục ngữ: Gái nhớ chồng xưa)

(Nguyễn Trăi)

Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm 
(Tục nhữ: Cố đấm ăn xôi)

Cầm bằng làm mướn mướn không công
(Tục ngữ: Làm mướn không công)

(Hồ Xuân Hương)

Sĩ khí rụt rè gà phải cáo (Tục ngữ: Con gà phải cáo)
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi (Tục ngữ: Chịu đấm ăn xôi)

(Trần Tế Xương)
 

IX. KẾT LUẬN

Đa số các nhà thơ cổ điển Việt Nam đều thích làm câu đối, nhiều câu đối đă trở thành những tác phẩm văn chương tuyệt bút như các câu đối của Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, v.v...

Đặc biệt nữ giới cũng tham gia tích cực vào thú vui tao nhă này, không những đối đáp lanh lẹ, dùng từ sắc sảo, gởi gắm t́nh ư sâu xa mà c̣n chủ động đưa ra những vế xuất tuyệt vời làm chới với các đấng tài danh, đó là các bà Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương.

Ngoài câu Da trắng vỗ b́ bạch để đời của bà Đoàn Thị Điểm, chúng tôi xin trích hai bài thơ tứ tuyệt xướng họa sau đây để thấy sự nhanh nhẹn, duyên dáng, táo bạo, tài dùng chữ và xuất khẩu thành thơ của người xưa:

Những bấy lâu nay luống nhắn nhe

Nhắn nhe toan những sự ghùn ghè

Ghùn ghè nhưng vẫn c̣n chưa dám

Chưa dám cho nên phải rụt rè

(Trách Chiêu Hổ 3 của Hồ Xuân Hương)

Hỡi hỡi cô bay tớ bảo nhe

Bảo nhe không được gậy ông ghè

Ông ghè không được ông ghè măi

Ghè măi rồi lâu cũng phải rè

(Chiêu Hổ họa lại)


 

VINH HỒ

Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Văn Học Sử Yếu , Dương Quảng Hàm, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1941.
Thú Chơi Câu Đối, Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do, báo Hương Quê số 18, 1996.
"Ngày Tết Nói Chuyện Câu Đối: Câu Đối Trong Tiếng Việt", Phụng Nghi, báo Rạng Đông số 123.
  Ngày Xuân Nói Chuyện Câu Đối, Vi Khuê, báo Kỷ Nguyên Mới, số 28, tháng 1/2003.

 

 


  Trang B́a       
  Lá Thư Xuân
  Sớ Táo Quân
  Câu Đối

       

  Năm Gà Nấu Món Gà
       Việt Hải
 
Bánh Tổ
       Phương Lệ
  Gà Rút Xương Bỏ Ḷ
       Diệp Lan Mai
 

  Một Vụ Kiện
       Lương Lệ Huyền Chiêu
 

  Bốn Câu Chuyện Vui
       Nguyễn Thục
  Năm Gà Nói Chuyện Gà
       Nguyễn Văn Xê
  Chuyện Vui
       Nguyễn Phan
 

  Đầu Năm Lại Chuyện Tử Vi
       Việt Hải - Los Angeles
 
Tập Tục Cổ Truyền 3 Ngày Tết
       Vinh Hồ
  Câu Đối
       Vinh Hồ
  T́m Hiểu Nguồn Gốc Niên Lịch
       Phạm Phú Hội
  Vài Nét Về Trà
       Phó Đức Lâm
  Năm Dậu Đàm Tiếu Về Tánh Gà
       Nguyễn Đ́nh Đại Lộc
  Gà Trong Ngôn Ngữ Dân Gian
     
 Thụy Nguyên
  Tản Mạn Về Năm Ất Dậu
     
 Nguyễn Văn Thành
  Năm Dậu Nhắc Chuyện Gà Đá
       Nguyễn Thục
  Sự Khác Biệt Trong Đời Sống
     
 Đoàn Thủy Tiên
 

  Lycopene Của An Tiêm
       Việt Hải
  Đời Sống Lành Mạnh
       Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt

 

  Môn Vũ Cầu Ninh Ḥa
       Huỳnh Minh Tâm
 

  Nhớ Chị
       Phạm Ngọc Sơn Đài
 
PIPA-Đàn Tỳ Bà
       Nguyễn Thị Kim Loan
  Cảnh Ruộng Non
       Nguyễn Phương Linh
  Mừng Xuân
       Nguyễn Phương Linh
  Đôi Bạn Trẻ Đón Xuân Mới
       Hà Mỹ Phụng
 

  T́nh Xuân
       Thanh B́nh
  Cảm Hoa
       Thanh B́nh
  Mùa Xuân Trong Em
       Nguyễn Thị Thanh B́nh
  Dịch Thơ Nguyễn Trăi
       Vinh Hồ & Điềm Ca
  Hứng Mai
       Điềm Ca
  Về Quê Ăn Tết
       Trần Ngọc Chánh
  Xao Xuyến Hồn Quê
       Hữu Công
 
 Xuân
       Nguyễn Thị Ngọc Đến
  Xuân Xa
       Trương Thị Ninh Ḥa
  Bướm Vàng
       Tường Hoài
  Ngày Xuân Nhớ Từ Hải
       Trần Phượng Hoàng
 
Mùa Xuân Nhớ Chị
       Vinh Hồ
  Con Nai Cảnh
       Vơ Hương
  Mộng Xuân
       Nam Kha
  Nhớ Xuân
       Nguyễn Đăng Khoa
  Thương Trẻ Mồi Côi
       Chi Lai
  Bên Thềm Xuân Vắng
     
 Nguyễn Duy Long
  Hoa Súng
       Hải Ly
  Mừng Em Hai Tuổi
     
 Nguyễn Thị Tuyết Mai
  Về Với Tuổi Học Tṛ
     
 Trần Thị Nết
  Xuân Xa Xứ và Nỗi Nhớ
     
 Trần Thị Nết và Nguyễn P. Sơn
  Đêm Xuân Nhớ Chuyện Xưa
     
 Trần Thị Nết
  Tiếng Ngân Chùa Cũ
     
 Trần Thị Minh Nguyệt
  Chén Rượu Mừng Xuân
     
 Phạm Tín An Ninh
  Xuân Tha Hương
       Thu Phương
  Có Những Giấc Mơ
       Thu Phương
  Hai Phương Trời
       Quốc Sinh
  Trên Đỉnh Lang Biang
       Trương Thanh Sơn
  Khoảnh Khắc Cuộc Đời
       Nguyễn Tảng
  Xuân Về
       Vơ Thị Thanh Tâm
  Xuân Về
       Đoàn Thủy Tiên
  Cười Mím Chi
       Thiên Thi
  Xuân Về
       Nguyễn Thục
  Say
       Nguyễn Thục
  Xuân Mong Đợi
       Hà Thị Thu Thủy
  Nhớ
       Thu Thủy
  Lời Cầu Mong Mùa Xuân
       Phạm Dạ Thủy
  Hành Tŕnh Phù Sa
       Phan Đông Thức
  Đón Xuân Đất Khách -
       Nhớ Xuân Ninh-Ḥa

       Nguyễn Thị Tri
  Đọc Văn Thơ Cũ,
       Nhớ Mùa Xuân Xưa

       Phạm Trương
  Nhớ Xuân
       Phương Kỳ Vân
  Xuân Về
    Phương Huyền-Trần Hoàng Vĩnh
  Đêm Giao Thừa
       Anh Vũ
 

  Hành Tŕnh Về Việt Nam
       Nguyễn Dzuy An
  
Khuôn Mặt Ngày Xưa
       Trần Anh
 
Mùa Xuân Ấm Áp T́nh Người
       Lương Lệ Huyền Chiêu
  Ngày Trong Thiên Đường
       Đặng Trùng Dương
  Tôi Viễn Du Ninh Ḥa
       Việt Hải
  Mơ Về Gà Quang Trung
       Việt Hải - Los Angeles
  Rong Chơi Cùng Bùi Giáng
       Chiếu Hiện
  Chút Nhớ Mùa Xuân
       Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa
  Ngày Xuân Tản Mạn Đôi Ḍng
       Tường Hoài
  Xuân Trong Nỗi Nhớ
       Đào Vũ Anh Hùng
  Tết Đến, Vẫn C̣n Sợ
       Phạm Hoài Hương
 
Xuân Và Ninh-HoaDOTcom
       Nguyễn Đăng Khoa
  Mẹ Chồng Tôi
       Ngọc Lan
  Hai Năm Đến Với ninh-hoa.com
       Dương Tấn Long
  Tiến Sĩ Hoa
       Dương Tấn Long - Sưu Tầm
  Tết Đến: Nhớ Quê Hương N H
       Lê Duy Mậu
  Xuân Nữa Con Sẽ Về
       Hoàng Minh Mục
  Cảm Nghĩ Về Ngày Xuân
      Nguyễn Dzuy Nam
  Xuân Đợi
       Yến Nhi
  Cô Con Gái Quá Giang Trong
       Đêm Mồng Mơt Tết

       Phạm Tín An Ninh
  Thược Dược Nhà Tôi
      Phùng Thị Phượng
  Giấc Mơ Xanh
      Nguyễn Khắc Khánh Sơn
  Những Ngày Giáp Tết
       Hữu Tài
  Ninh-hoa.com - Một Cơi 
       Ninh Ḥa

       Phan Thanh Tâm
  Xuân Yêu Thương
       Trần Mỹ Thanh
  Cây Chổi Lông Gà
       Nguyễn Văn Thành
  Quê Chồng
       Nguyễn Diệu Thùy
  Ngày Xuân Đợi Chờ
       Phan Đông Thức
  Ngày Xưa Gà Vịt Chưa Phải...
       Lương Lệ Minh Trí
  Ninh-HoaChamCom Quê Ngoại
       Anh Vũ - Thiện Tín
  Viết Về Những Người Bạn
       Nguyễn Văn Xê