Nhân dịp Xuân về, chúng tôi xin
sưu tầm
một số câu đối để chúng ta cùng thưởng
thức một thú vui tao nhă của tiền nhân mà
ngày nay chẳng c̣n được mấy người chơi.
Người Việt xưa từ triều
đ́nh xuống dân giă,
từ Nho sĩ đến b́nh dân, đâu đâu cũng ưa
chuộng câu đối. Câu đối được sử dụng như
một món quà văn hóa tinh thần cao quư để tặng nhau. Câu đối được dùng để
trang hoàng chốn cung đ́nh, nơi công sở, đ́nh chùa miếu mạo... Câu đối
được dùng để trang trí nhà cửa, nhất là vào những dịp Tết, tân gia, quan,
hôn, tang, tế... Các nhà Nho viết câu đối trên giấy hồng đơn dán cột nhà,
trước hiên, ngoài cổng. Các nhà giàu thuê người khắc câu đối trên gỗ khảm
(cẩn) xa cừ hay sơn son thếp vàng, treo thành cặp song song 2 bên bàn thờ
tổ tiên hay nơi pḥng khách. Thường th́ người ta đi mua các câu đối được
viết sẵn của các ông đồ, v́ câu đối không thể thiếu trong ngày Tết:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh
(Trần Tế Xương)
Câu đối là thể văn cổ điển gồm 2
câu (vế) có số lượng từ bằng nhau và đối chọi với nhau cả về lời lẫn ư.
Câu đối: chữ Hán gọi là đối liên hay doanh thiếp (doanh: cột nhà, thiếp:
mảnh giấy có viết chữ). Câu đối, phú, văn tế thuộc văn biền ngẫu. Biền
ngẫu là loại văn gồm những cặp câu có hai vế đối nhau, c̣n đối ngẫu là đối
nhau về lời và ư theo từng cặp trong văn biến ngẫu. Ngày xưa người ta xem
câu đối là một nghệ thuật chơi chữ uyên bác trí thức, qua đó người ta có
thể đo lường được tŕnh độ, kiến thức, tài văn chương chữ nghĩa, sự thông
minh nhanh trí cũng như tài ứng khẩu đối đáp của một người, ngày nay câu
đối vẫn c̣n thấy rải rác trên một vài tờ báo Xuân. Tóm lại, người ta dùng
câu đối để thử sức, đua tài, đấu trí với nhau như thú chơi cờ tướng vậy.
Ngoài những quy luật cấu tạo chặt
chẽ từ h́nh thức đến nội dung, nhiều câu đối được gói thêm những ư ngầm,
cài thêm những chữ lắt léo hay điển tích sâu xa... mà mới đọc qua người ta
không dễ ǵ hiểu nổi. Chính những điều khúc mắc thâm thúy và cao tay này
mà câu đối thu hút người chơi.
I. LUẬT TẮC
1. Số chữ trong mỗi vế:
Mỗi câu đối gồm 2 vế: vế phải vế trái, hay vế trên vế dưới, hay vế xuất
vế đối, hay vế xướng vế họa. Mỗi vế có nhiều đoạn, tiểu đoạn, không hạn
chế dài ngắn. Số chữ trong 2 vế bằng nhau và đối chọi với nhau.
2. Đối thanh:
Thanh bằng (chữ có dấu huyền hay không dấu) đối với thanh trắc (chữ có
dấu sắc, nặng, hỏi, ngă) và ngược lại.
3. Đối tự loại:
Danh từ đối danh từ, chủ từ đối chủ từ, số lượng đối số lượng, tên
riêng đối tên riêng, âm thanh với âm thanh, màu sắc đối màu sắc, h́nh ảnh
đối h́nh ảnh, tục ngữ đối tục ngữ, điển tích đối điển tích, v.v...
4. Đối ư: Gồm:
Đối thuận: 2 vế có ư nghĩa tương quan nhất quán nhau.
Đối nghịch: 2 vế có ư nghĩa biệt lập, đối chọi, tương phản nhau.
5. Đối về hàm ư:
Nếu vế trên chứa ẩn ư, ư ngầm mà người đọc phải thông hiểu điển tích
lai lịch về người và sự kiện liên hệ mới hiểu được th́ vế dưới cũng phải
đối được như vậy mới có giá trị.
6. Tiểu đối: là câu đối ngắn thường có từ 3 đến 6 chữ như:
Trường đồ tri mă lực
Cư cửu kiến nhân tâm
Cá đối nằm trong cối đá
C̣ lửa đậu giữa cửa ḷ
7. Thi đối: là câu đối dài trung b́nh 7 chữ như 2 cặp thực luận trong
một bài Đường luật:
Chở bao
nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
(Nguyễn Đ́nh Chiểu)
8. Phú đối: là câu dài ngắn vô hạn định như trong thể văn phú. Phú (nghĩa
đen là bày tỏ) là thể văn vần có số âm tiết trong mỗi câu và số câu trong
mỗi bài không hạn định, câu thường chia làm 2 vế bằng nhau và đối nhau,
dùng để tả cảnh vật, phong tục, hay tánh t́nh của con người. Gồm:
Phú song quan: (2 cửa): có từ 5 đến 9 chữ, như:
Con ruồi đậu trên mâm xôi đậu
Cái kiến ḅ dưới dĩa thịt ḅ
Phú cách cú (ngăn câu) như:
Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
Đá xanh xây cống, ḥn dưới nống ḥn trên
Phú gối hạc: mỗi vế có từ 3 đoạn trở lên, như:
Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai (Đặng Trần
Thường)
Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế (Ngô Thời
Nhậm)
Câu đối cũng giống như cặp thực, luận trong bài Đường luật thất ngôn
bát cú tuân theo quy tắc căn bản:
Nhất tam ngũ bất luận
Nhị tứ lục phân minh
Để làm sáng tỏ những luật tắc nói
trên, chúng tôi xin dẫn chứng một số ví dụ:
Ví dụ 1:
Xuân tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ (Xuân thêm ngày tháng, người thêm
tuổi)
Phúc măn càn khôn lộc măn đường (Phúc đầy trời đất, lộc đầy nhà)
Ví dụ 2:
Ông ra bắc là may, quyền kinh lược tước quận công,
bốn bể không nhà mà nhất nhỉ!
Cụ về tây cũng tiếc, trong triều đ́nh ngoài thôn
dă, một ḷng v́ nước há hai đâu?
Câu đối này do một người làm để đi
điếu ông Hoàng Cao Khải người Nghệ An theo Tây làm chức Kinh lược Bắc kỳ,
có những tiểu đoạn lắt léo như bốn bể không nhà mà nhất nhỉ, về tây cũng
tiếc, một ḷng v́ nước há hai đâu rất kín đáo và cao tay đă được sử dụng
để mỉa mai khinh bỉ một kẻ theo giặc.
Ví dụ 3:
Thượng tọa bay bàn tọa
Văn B́nh sứt miệng b́nh
Câu đối này của nhà thơ Tú Thịt có ngầm ư trào phúng nhà văn Chu Tử Chu
Văn B́nh và Thượng Tọa Thích Thiện Minh, trước 1975 không ưa nhau cùng bị
kẻ ác ám sát, Thượng Tọa bị thương ở bàn tọa, Nhà Văn bị thương ở quai hàm.
Ví dụ 4:
Nam Sơn trúc bất tận (Trúc Nam
Sơn bất tận)
Đông Hải ba vô cùng (Sóng Đông Hải Vô cùng)
Khi Vi Văn Định được Pháp tin dùng
cho làm Tổng Đốc Hà Đông có nhờ một nhà nho ở tỉnh Nam Định làm cặp đối
trên để treo trong nhà rất lấy làm đắc ư, v́ không hiểu điển tích nên ông
ta không thấy câu đối có ngầm ư nguyền rũa ông ta. Đông Ba Hải và Nam Sơn
Trúc là những chữ rút trong bài hịch của Lư Mật nhà Đường kể tội Tùy Dạng
Đế thời xưa:
Quyết Đông hải chi ba lưu ác bất tận
(Khơi sóng biển Đông ác bất tận)
Khánh Nam sơn chi trúc thư tội vô cùng
(Viết trúc Nam hải tội vô cùng)
Ví dụ 5:
Đông tây! Đông tây!
Vắng khách! Vắng khách!
Câu đối trên của một nhà văn làm
tặng nhà văn Hoàng Tích Chu khi Chu đi hát cô đầu, Chu vốn là chủ báo Đông
Tây là tờ báo chủ xướng lối viết ngắn gọn nhưng lại ít đọc giả. Câu đối
rất ngắn gọn này có những chữ có nghĩa đôi như Đông: hướng Đông, đông đúc.
Tây: hướng Tây, người Tây. Vừa có ư châm biếm cái quán cô đầu nhiều Tây
nhưng vắng khách, vừa có ư châm biếm tờ báo Đông Tây ít đọc giả.
Ví dụ 6:
Viên Khâm sứ Pháp gặp vua Duy Tân ra câu đối:
Rút ruột vương thành ba
(Trong chữ Hán: Vương là vua, nếu rút mất một nét dọc ở phần
ruột th́ thành ra chữ tam là ba).
Vua Duy Tân đă ứng khẩu đáp lại:
Chặt đầu tây c̣n bốn
(Chữ Tây là hướng Tây, là người Pháp, nếu chặt mất một nét trên đầu
th́ thành ra chữ tứ là bốn).
II. TỤC CHƠI CÂU ĐỐI
Ngày Tết có tục chơi câu đối, người ta dùng 2 mảnh giấy dài (hoặc vải,
hay gỗ) màu đỏ rực rỡ, trên đó viết 2 câu đối bằng mực xạ đen nhánh treo
(hay dán) thành cặp song song với nhau. Ví dụ:
Tối ba mươi khép cửa càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào
(Hồ Xuân Hương)
Đây là một trong những câu đối tuyệt bút của văn học VN.
Tú Xương làm câu đối Tết để nói về cảnh nghèo của ḿnh:
Không dưng Xuân đến chi nhà tớ
Có nhẽ Trời mà đóng cửa ai
Thiên hạ xác rồi c̣n đốt pháo
Nhân t́nh trắng thế lại bôi vôi
- Nực cười thay: nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết (ngày
xưa dùng vôi bột rắc h́nh cung tên để trừ ma quỷ trong ba ngày Tết)
Thôi cũng được: rượu có, nem có, bánh chưng cũng có, thừa chơi
Xuân về chớ để Xuân đi, thương kẻ quạt nồng cùng ấp lạnh
Năm mới khác ǵ năm cũ, van người bán muối với mua vôi
Nợ có chết ai đâu, chưỡi chó mắng mèo eo óc
Trời để sống ta măi, lên xe xuống ngựa lắm phen
Nhà thơ nông thôn Nguyễn Khuyến có viết 2 câu đối chia xẻ cảnh bần cùng
của người dân quê VN trong ba ngày Tết:
Tối ba mươi nợ réo tít mù, ờ ờ Tết
Sáng mồng một rượu say túy lúy, à à Xuân
Hay:
Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đ́ đùng thêm mất chó
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo
Bà Hồ Xuân Hương có lần ra câu đối trêu chọc ông Chiêu Hổ:
Mặc áo giáp, dải cài
chữ đinh, mậu, kỷ canh, khoe ḿnh rằng quư
(Câu này sử dụng 6 chữ trong thiên can của lư số)
Ông Chiêu Hổ đối lại rất hay như sau:
Làm đĩ càn, tai đeo hạt khảm, tốn ly, đoài, khéo nói rằng khôn
(Câu này dùng 6 quẻ của bát quái trong kinh Dịch)
Bà Hồ Xuân Hương có 2 câu đối sử dụng nghệ thuật nói lái với lời thanh
ư tục:
Khéo khen ai đẽo đá chênh vênh, tra hom ngược để
đơm người đế bá
Gớm con tạo lừa cơ tem hẻm, rút nút xuôi cho lọt
khách cổ kim
Thi tài của bà c̣n được thể hiện trong 2 câu đối độc địa nhầm châm biếm
kẻ quan lại quyền quư:
Vơng đào quan lớn đi trên ấy
Váy thủng bà con vỗ dưới này
Bằng nghệ thuật trào phúng nhẹ nhàng thâm thúy, cụ Tam Nguyên Yên Đỗ đă
viết 2 câu đối để mừng một ông quan vừa được thăng chức:
Cung kiếm hai tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Triều đ́nh cử mục, anh hùng chỉ có một ngươi thôi
Tương tự, Nguyễn Công Trứ cũng có
2 câu đối để châm biếm một ông quan có tŕnh độ dăm chữ.
Tưởng làm dăm chữ mà chơi vậy
Ai ngỡ nên quan đă sướng chưa
Có một giai thoại kể rằng lúc Cao Bá Quát c̣n bé, một hôm nhà vua đi
ngang qua bờ sông, cậu bé đă không tránh mà c̣n cỡi áo nhảy đùng xuống
sông để tắm, bị lính bắt dẫn đến tŕnh Vua, Vua thấy cậu bé có học nên ra
một vế đối:
Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Cậu bé ứng khẩu:
Trời nắng chang chang người trói người
Nhà Vua khen cậu bé thông minh và tha cho.
Trên bước đường hoạn lộ Cao Bá Quát bị cách chức xuống làm một ông giáo
quèn đă làm 2 câu đối như sau:
Nhà trống đôi ba gian, một thầy một cô một chó cái
Học tṛ dăm bảy đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi
Về sau khởi binh chống triều đ́nh thất bại bị bắt, trước khi chết nhà
thơ Cao Bá Quát ứng khẩu 2 câu đối đầy khinh bạc xem tử sinh nhẹ tựa lông
hồng được người đời vô cùng kính phục:
Ba hồi trống giục đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời
Bà Đoàn Thị Điểm, tác giả Chinh Phụ Ngâm có ra 1 vế đối cho Cống Quỳnh
khi Cống Quỳnh đến chơi tại nhà thân phụ Bà như sau:
Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song song
Nhưng Trạng Quỳnh không đối được.
Lần khác bà đang tắm, Cống Quỳnh lên tiếng đ̣i vào, bà không chịu, liền
ra một vế đối:
Da trắng vỗ b́ bạch
Câu này Trạng cũng chào thua, từ đó tới nay vẫn chưa có ai đối được.
Gần
đây trong tập Bút Kư Irina tập I của bà Irina Zisman người Nga, nhà hoạt
động nhân quyền cho biết Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn ở Nga đă đối
được như sau:
Rừng sâu mưa lâm thâm
Câu này hay, nhưng về mặt tượng thanh, tượng h́nh th́ cũng chưa thể
sánh được với câu gốc của Hồng Hà Nữ Sĩ.
Vua Tự Đức có viết một vế xuất hóc búa, đến nay cũng chưa có ai đối
được:
Không vô trong nội nhớ hoài.
(Theo tự điển: Không là vô, trong
là nội, nhớ là hoài)
Vế xuất của một tác giả khuyết danh cũng thế:
Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương phụ tử
(Phụ tử hồi hương có nghĩa là cha con về quê, và cũng là tên của 2 vị
thuốc Bắc).
Nhà văn Khái Hưng có làm một câu đối Tết:
Bốn ngh́n lần:
Xuân Hạ Thu Đông vạn vật loanh quanh ṿng lẩn quẩn
Ba ngày Tết: xôi dê
rượu thịt muôn dân h́ hục chén no nê
Trong
dân gian có những câu đối rất ngộ nghĩnh, sử dụng nghệ thuật chơi chữ và
nói lái tuyệt vời như sau:
Tết túng tiền tiêu, toan tính t́m tay tử tế
Xuân xài xu xịn, xong xuôi xuống xưởng xác xơ
Súc sinh say sưa sàm sỡ sỗ sàng, sư săi sợ sệt sự sinh sinh sự
Rắn rít ŕnh rập rơ ràng ráo riết, rừng rú rầm ŕ răng rớt rớt răng
Vợ cả vợ hai hai vợ đều là vợ cả
Con nuôi con đẻ đẻ con há cậy con nuôi
Nhà thuê nhà tậu tậu nhà hết ở nhà thuê
Thầy giáo tháo giày đi chợ Tết
Giáo chức dứt cháo dự hội Xuân
III. TÍNH ĐỐI NGẪU TRONG THƠ
Thời xa xưa đời sống trầm lặng, cha ông chúng ta có những thú tiêu
khiển thanh tao như cầm kỳ thi họa. Thi có nhiều thể loại như Đường luật,
lục bát, song thất lục bát, phú, ḥ, vè, hát nói, văn tế, câu đối... tuy
khác nhau nhưng đều có chung một đặc điểm là nặng tính đối ngẫu. Câu Đối,
Phú, Văn Tế là loại văn biền ngẫu. Các thể thơ khác tuy không chuyên về
đối ngẫu nhưng cũng không thiếu những cặp song đối tiểu đối... chứng tỏ đa
số người Việt xưa thích sự cân đối, vững chăi, khuôn thức và tinh thần
người Việt xưa thường an nhiên, tự tại, b́nh thản:
Chinh Phụ Ngâm (thể Song Thất lục Bát):
Ng̣i đầu cầu nuớc trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc c̣n non
Cung Oán Ngâm Khúc (thể Song Thất Lục Bát):
Ch́m đáy nước cá lờ đờ lặn
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa
Đoạn Trường Tân Thanh (thể Lục Bát)
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Thể Đường luật:
Thế sự trai yêu thiếp mọn (Tục ngữ: Trai yêu thiếp mọn)
Nhân t́nh gái nhớ chồng xưa (Tục ngữ: Gái nhớ chồng xưa)
(Nguyễn Trăi)
Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm
(Tục nhữ: Cố đấm ăn xôi)
Cầm bằng làm mướn mướn không công
(Tục ngữ: Làm mướn không công)
(Hồ Xuân Hương)
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
(Tục ngữ: Con gà phải cáo)
Văn chương liều lĩnh
đấm ăn xôi (Tục ngữ: Chịu đấm ăn xôi)
(Trần Tế Xương)
IX. KẾT LUẬN
Đa số các nhà thơ cổ điển Việt Nam
đều thích làm câu đối, nhiều câu đối đă trở thành những tác phẩm văn
chương tuyệt bút như các câu đối của Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Cao
Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, v.v...
Đặc biệt nữ giới cũng tham gia tích cực vào thú vui tao nhă này, không
những đối đáp lanh lẹ, dùng từ sắc sảo, gởi gắm t́nh ư sâu xa mà c̣n chủ
động đưa ra những vế xuất tuyệt vời làm chới với các đấng tài danh, đó là
các bà Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương.
Ngoài câu Da trắng vỗ b́ bạch để đời của bà Đoàn Thị Điểm, chúng tôi
xin trích hai bài thơ tứ tuyệt xướng họa sau đây để thấy sự nhanh nhẹn,
duyên dáng, táo bạo, tài dùng chữ và xuất khẩu thành thơ của người xưa:
Những bấy lâu
nay luống nhắn nhe
Nhắn nhe toan
những sự ghùn ghè
Ghùn ghè nhưng
vẫn c̣n chưa dám
Chưa dám cho nên
phải rụt rè
(Trách Chiêu Hổ 3 của Hồ Xuân Hương)
Hỡi hỡi cô bay
tớ bảo nhe
Bảo nhe không
được gậy ông ghè
Ông ghè không
được ông ghè măi
Ghè măi rồi lâu
cũng phải rè
(Chiêu Hổ họa lại)

VINH HỒ
Tài liệu tham khảo:
Việt
Nam Văn Học Sử Yếu , Dương Quảng Hàm, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1941.
Thú
Chơi Câu Đối, Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do, báo Hương Quê số 18, 1996.
"Ngày Tết Nói Chuyện Câu Đối: Câu Đối Trong Tiếng Việt", Phụng
Nghi, báo Rạng Đông số 123.
Ngày Xuân Nói Chuyện Câu Đối, Vi Khuê, báo Kỷ Nguyên Mới, số
28, tháng 1/2003.