Mục Lục

    Trang Bìa
     
 Ban Biên Tập
 
 Lá T Xuân
     
 Ban Biên Tập
   T Đầu Năm
     
 Lương LHuyền Chiêu
   S Táo Quân
     
 Ban Biên Tập
   Khai Bút Đầu Xuân
     
 Du Sơn Lãng T
   Hình nh Xuân - X Ninh
     
 SXương Hải - Lê Thị Lộc
 

Đọc Truyện
Ngâm T

   Đọc Lá TĐầu Năm
     
 Võ Thị Nguyên
 
 Đọc Truyện/T
     
 Thu Phương
 
 Ngâm T
     
 Thi Thi


Ca Hát

    Tiếng Hát:
     
 Huyền Chiêu -  Thu Thủy
       Thu Phương  - Minh Nguyệt


Văn Hóa
m Thực


   Nghe Những Tàn Phai -
      
Bánh Tro

     
 Đng Trùng Dương
 
  Bánh Bông Lan Mặn
     
 Hi Lộc
 
  Thịt Đầu Heo Ngâm
      
Dấm Đường

     
 Hi Lộc
 
  Bò Kho Cà Rốt
     
 Châu Thị Thanh Mận
 

Năm Đinh Hợi Kể Chuyện Heo


   CHeo Con Đầu Lòng
      
Phùng Thị Phượng
   Tôi Làm M
      
NQ
 
 Tản Mạn Về Năm Đinh Hợi
      
Nguyễn Văn Thành
  
 Dù Nắng Có Mong Manh

      
Nguyễn Thị Thu
   Nhớ NMt Chiều
     Cuối Năm
      
     N
guyễn Thục
   Tết Đinh Hợi - 2007

      
Linh Vũ


Kinh Nghiệm Sống

  Bên B Tuyệt Vọng
      Tâm Đoan


Du Lịch
Việt Nam

  Sau 30  Năm Lìa Xa
      Phan Thanh Tâm


T
ranh
Hình Ảnh

  Hình Chụp Nghệ Thuật
       Mục Đồng
  Tranh Nghệ Thuật
       Hoàng Tiên
  Hình Chụp Nghệ Thuật
       Hoàng Tiên 
 
Hình nh Ninh Hòa
       SXương Hải
 
  nh Đời Sống Loài Heo
       Hải Lộc


Chuyện Đó Đây

  Tết Với Tiết ! Đối Với Điếc !
       Lê Anh Dũng
  Bệnh Thất Tình
       Nguyễn Phan Lê
 
  S Táo Quân
       Trần Thị Nghệ
 
  Huyền Trân Công Chúa-5
       Trương Thanh Sơn
 
  Cây Q Tôi
       Trương Tiếp Trương


Kịch

 

  Cô Gái Lười Biếng
     
 Lương L Huyền Chiêu
 

Vui Cười

   Thiên Bồng Nguyên Soái
      
Nguyễn Phan Lê
 
  Say (2)
      
Lê Lai
 
  Say
      
Lê Quốc
 
  Vài Câu Chuyện Vui
      
Nguyễn Văn Xê
 

Sưu Tầm
 

   10 Bức T Pháp Của
      
Tàn Mộng T

    
  Mục Đồng
    Nghệ Thuật T Đạo
      
Qua Tranh

    
  Mục Đồng
   Ăn Uống Vì Sức Khỏe
    
  Việt Hải
  TVi Lý SĐông Phương
    
  Việt Hải
   Sống Lâu Trăm Tuổi
    
  Vinh H
   Lời Hay Ý Đẹp
    
  Nguyễn Phước Sơn
   Aloe Vera
    
  Thi Thi
   Tập Thở Dưỡng Sinh
    
  Đoàn Thủy Tiên
 

Sức Khỏe

   Viêm Và Loét DDày Do
      
Vi Khuẩn
HELICOBACTER
       PYLORI

    
  BS Nguyễn Vĩ  Liệt
 

Viết v
ninh-hoa.com


   T Đầu Năm
     
 Lương LHuyền Chiêu
   n Ơi Chào Mi
    
  Lê Anh Dũng
   Chúc Mừng Xuân Đinh Hợi
    
  Hải Lộc
   Vài Nét Viết V
      
Ninh-Hòa.com

    
  Thi Thi
   Mừng Sinh Nhật Tròn 4 Tuổi
    
  Hà Thị Thu Thủy
   Cảm Nghĩ V Ninh-Hòa.com
    
  Hoàng Tiên
   Vài Cảm Nghĩ Về WEB
     N
inh-Hòa.com

    
  Người X Vạn
 

Biên Khảo
Kinh Tế
 

  Tổng Kết Kinh Tế Việt Nam
      
Trong 10 Năm Qua

    
  Nguyễn Văn Thành
   Ảnh Hưởng của Hội Nghị
      
Thượng Đỉnh APEC 2006
      
Vào Nền Kinh Tế Việt Nam

     
 Nguyễn Văn Thành
 
   S Gia Nhập Tổ Chức
      
Thương Mại WTO của
       
Việt Nam

      
 Nguyễn Văn Thành
 
  Dow Jones
      
Nguyễn Văn Thành


Tập Tục Việt

  Cầm, Kỳ, Thi, Tửu - T T
      
Phong Lưu Của Người Việt

    
  Thu Phương
  Tiếng Việt K Diệu Qua Cái
      
Nhìn Của N Văn Võ Phiến
      
và GS Duyên Hạc Lê Thái t

    
  Người XVạn
 

T
 

   Vó Câu !
      
Lê Tâm Anh
 
  Nhớ Mai Ngày Xuân
      
Huy Bạch
 
  Xuân " Bát Giới "
      
Huy Bạch
 
  Xuân Đợi
      
Nguyễn ThịThanh Bình
 
  Lợn N
      
Thanh Bình
 
  Xuân V
      
Trần Ngọc Chánh
 
  Bài TCáo Tật Thị Chúng
      
Mục Đồng
 
  Chờ...
     
Trần Minh Hiền
 
  NGMưa Rơi Bên Thềm
     
Ký Ức

     
Trần Minh Hiền
 
  Hương Yêu
      
M Hiệp
 
  Mai
      
Tường Hoài
 
  Năm Hợi Chúc Tết QÔng
     
Q Bà

     
Vinh H
 
  Hiu Hắt Tàn Đông
     
Nam Kha
 
  Tình Xuân
     
Nguyễn Đăng Khoa
 
  Đoản Khúc Xuân -2
     
Lê Lai
 
  Lòng Xuân
     
Phan Long
 
  Một Xuân Buồn
      
Trần Thị Nết
 
  Lá Hát Với HFallen Leaf
     
Trần Thị Minh Nguyệt
 
  Say
     
Thu Phương
 
  Tình T Tháng Giêng
     
Bích Phượng
 
  Chào Tái Ngộ Khánh Hòa
     
NQ
 
  Cuộc Hẹn Mười Năm
      
Giờ  Giao Thừa

      
NQ
 
Tìm VGiêng Hai
     
ĐCông Q
 
  Mùa Xuân V
     
Tôn Thất PSĩ
 
  Tình m Mùa Đông
     
Dương Anh Sơn  
 
Sen NMùa Xuân
     
Dương Anh Sơn
 
  Lợn Mừng Xuân
     
Du Sơn - Lãng T
 
  Chúc Mừng Xuân
     
Du Sơn - Lãng T
 
  Hội Xuân
     
Du Sơn - Lãng T
 
  Xuân Đất Khách Nhớ  Xuân
      
Q Hương

     
 Nguyễn Văn Thành
 
  Mùa Xuân Trong Ký  c
     
 Thu Thảo
 
  Xuân Tha Hương
     
Thi Thi
 
  Bài T Cho Anh
      
Phan Thị Hương Thu
 
  Nhớ Xuân Xưa
     
 Đoàn Thủy Tiên
 
  Ngày Xuân Mới
     
 Hoàng Tiên
 
  Xuân Viễn X
     
 NTrưởng Tiến
 
  Tết X Người
     
 Nguyễn Tính
 
  Ngậm Ngùi
     
 Nguyễn Thị Tri
 
  Anh Có VĂn Tết ???
      
Nguyễn Thị Thanh T
 
  Tết Nghèo
      
Nguyễn Thị Thanh T
 
  Xuân
      
Phạm Trị
 
  Tình Xưa Hai Xóm
     
 Nguyễn Thanh Ty
 
  Đón Xuân Bên Em
      
Tiểu Vũ Vi
 
  Xuân Vẫn Có Em
      
Tiểu Vũ Vi
 
  Dốc Lết Niềm Đau
     
 Anh Vũ
 
  Nếu Anh Có V
     
 Anh Vũ
 
  Không Em Mất Cả Mùa Xuân
     
 Linh Vũ


Văn


   Mùa Yêu Thương
     
 Lương L Huyền Chiêu
   Tết Ninh Hòa
     
 Lương L Huyền Chiêu
 
  Thêm Tuổi Mới
     
 Mục Đồng
 
  Bánh Căn Ninh Hòa
     
 Việt Hải
   Xuôi Sông Vàm C
       Việt Hải
   Hương Mai
       Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa
   Nàng Xuân - Bạn - Vợ -
      
Người Tình

       Đào Vũ Anh Hùng
   Xuân Và Tết
       Đào Vũ Anh Hùng
   Cali... Ngày Tái Ngộ
       Ái Khanh
   Tản Mạn Ngày Xuân
       Ái Khanh
   Món QMagi
       Lê Lai
   Cảm Nghĩ V Đời Người Và
      
Niềm Mơ Ước

       Hi Lộc
   Em Gái Tôi
       Nguyễn Dzuy Nam
   Mt Chút Gì Xuân
       Trần Thị Nết
   Những Cánh Hoa Màu Tím
       Nguyễn Trọng Nhân
   Đầu Năm Đinh Hợi Nhớ Một
     
 Bài T Xưa của Lý B
ạch

       Phạm Tín An Ninh
   Mùa Xuân Chuyện Tơ Hồng
       Đng Thị Ngọc N
   Tâm S Đầu Xuân Với
      Đ
ức Linh

       Hng Tiên - Phi Ròm
   Mình Ơi !
       Tiểu Thu
   Một Mùa Xuân Hai Nỗi Nhớ
       Phan Đông Thức
   Biết Được Người Bạn Qua
      
Ninh-hoa.com

       Nguyễn Tính
   Vui Xuân Với Ninh-hoa.com
       Nguyễn Tính
  
Má Tôi

     
 Nguyễn Thị Thanh T
   Viết VNhững Người Bạn

     
 Nguyễn Văn Xê
 

 

 


 

 

Cuối cùng Kiên và Kim được đến định cư tại tiểu bang Oklahoma, ở Seiling, một thành phố heo hút cách thủ phủ Oklahoma City chừng 150 dặm do một hội thiện nguyện tiểu bang bảo trợ vào năm 1996. Sở dĩ cả hai đến Hoa Kỳ khá trễ so với các gia đình khác trong diện tù nhân chính trị thường gọi là HO vì Kiên phải lo giải quyết giấy tờ của các con anh với Hà, người vợ trước đây của anh vì Hà viện lý do khác hộ khẩu mà muốn bắt bí Kiên.

Nàng muốn giữ các con lại với nàng để làm con tin vì muốn buộc Kiên phải gửi tiền về nuôi các con hàng tháng sau khi anh được định cư tại Mỹ.

Ngày ấy,Hà là vợ của Thiếu tá Kiên nên Hà không chịu khổ được. Nàng chỉ quen nhận mà không quen cho. Kiên thường bảo người tài xế riêng của mình về nhà xem "Cô" có cần gì không. Thế là Hà quen cái thói xa mã thị thành, nên sau ngày 30 tháng Tư, 1975 Kiên khăn gói quả mướp lên đường đi cải tạo như các bạn đồng ngũ khác và chỉ hai năm sau Hà đã bước thêm một bước khá dài. Nàng lấy một cán bộ huyện, có hôn thú với người chồng mới và sinh thêm được hai đứa con. Vì là cán bộ huyện nên tờ giấy lộn hôn thú đâu có gì khó khăn đối với tên cán ngố này nhưng nàng đâu có biết rằng tên cán bộ họ Sở này đã có vợ và ba con ở ngoài Bắc. Và đến ngày Kiên làm giấy tờ xuất cảnh thì nghe đâu Hà đã bị bỏ rơi sau một trận đòn ghen chí tử mà người vợ lớn ngoài Bắc vào tặng nàng.

Bên cạnh đó Kim cũng rất dè dặt khi phải quyết định đi thêm một lần nữa trong đời. Chồng Kim là Điền, cùng là bạn suốt thời gian cải tạo với Kiên từ Nam ra Bắc. Như định mệnh an bài, hai người lúc nào cũng ở chung cùng láng trại và nằm kề bên nhau.

Sau khi được thả về, đáng lẽ Kiên đến nhà Kim ngay để báo cho nàng biết cái tin không vui này; nhưng vì là những ngày Tết nên Kiên đành thôi. Sau đó mấy hôm Kiên tìm đến nhà Kim để kể cho nàng và bố mẹ chồng nàng nghe những điều mắt thấy tai nghe và anh cũng là nhân chứng duy nhất trong những giây phút cuối cùng của Điền. Cha mẹ chồng Kim rất yêu quí chị và xem chị như là con đẻ của mình vì ông bà chỉ có một đứa con trai duy nhất là Điền và một người con gái đã lấy chồng xa. . Nhưng sau khi nhận được giấy báo tử của Điền, ngoài những tháng năm nhớ thương người chồng cũ, nàng rất lúng túng và ngần ngại không biết rồi đây phải ăn nói thế nào với bố mẹ chồng nàng về việc qua lại thăm hỏi của Kiên, và lúc ấy nàng biết mình còn quá trẻ để làm một thiếu phụ. Có những đêm trăn trở về số phận hồng nhan bạc mệnh của mình, nàng muốn xin phép bố mẹ chồng để về sống với bộ mẹ đẻ của mình nhưng nàng không dám quyết định làm việc này vì nếu nàng bỏ đi thì ai sớm hôm hầu hạ bố mẹ của Điền vì dù sao nàng cũng còn sống với tình nghĩa phu thê và cái ràng buộc Nho giáo nặng nề và phức tạp kia với gia đình chồng.

Bố mẹ chồng Kim thấy Kiên thường lui đến thăm viếng ông bà và con dâu mình và hình như ông cũng đọc được ý định của chàng, nên một hôm sau bữa cơm chiều, bố chồng Kim gọi nàng lên phòng khách và ôn tồn bảo Kim:

... Kim này, từ ngày thằng Điền mất đến giờ cũng hơn chín năm rồi. Bố mẹ thấy con thui thủi, côi cút đi về một bóng; bố mẹ thương con quá nhưng chẳng biết làm sao để con vui. Mấy năm nay bố mẹ thấy anh Kiên thường lui tới gia đình nhà ta và hình như bố mẹ thấy anh ấy cũng có tình ý yêu thương con. Con nghĩ sao về vấn đề này và con cứ mạnh dạn nói cho bố mẹ biết để giúp đỡ con?...

Từ ngày Điền mất đây là lần đầu tiên nàng ngồi đối diện với bố chồng, mặt chị cúi xuống, tay vân vê vạt áo ngắn màu cánh sen, và bỗng nhiên chị ngước đầu lên và thưa với một giọng tha thiết nghẹn ngào:

"Thưa bố! Cám ơn bố mẹ đã nghĩ đến thân phận dâu con của con và hoàn cảnh hiện tại của con. Nhưng phận làm dâu con chẳng dám nghĩ xa hơn thế vì dù sao con cũng muốn... ở lại để sớm hôm phụng dưỡng bố mẹ đến lúc tuổi già vì nhà con chẳng may mất sớm".

Sau khi nghe Kim nói xong, ông ngụm một hớp trà tàu và thong thả đặt tách trà xuống đĩa và nói:

"Bố mẹ cũng biết con là đứa con hiền dâu thảo, nhưng thời đại bây giờ các con cũng nên quên cái câu phu tử tòng tử ấy đi cho nhẹ việc vì dù sao con cũng chưa có con cái gì với thằng Điền nhà bác, vả lại con cũng còn ở độ xuân thì mà bố mẹ không muốn cái xuân sắc của con nó bị phôi pha đi. Bố đã bàn với mẹ con, nêáu con muốn đi thêm một bước nữa thì con nên quyết định ngay đi, đừng chần chừ nữa. Mà bố mẹ muốn thấy con nên làm điều ấy vì con cứ do dự là mất cơ hội đấy con ạ!"

Nghe đến đây, tự nhiên nước mắt nàng chảy trên đôi má lúc nào không hay vì không ngờ bố mẹ nàng lại cảm thông và thấu hiểu thế hệ nàng hôm nay. Hiểu được điều ấy nàng không lấy làm vui nhưng trái lại nàng cảm thấy yêu thương bố mẹ chồng nàng hơn. Cũng từ đêm hôm ấy, câu hỏi luôn luôn quẩn quanh trong đầu nàng là "đi hay ở?" và mãi gần hai năm sau nàng mới quyết định lấy Kiên.

Trước khi lấy Kim làm vợ, cứ hai tuần anh thường đến nhà thăm gia đình nàng và anh thường xin phép bố mẹ chồng để đưa Kim đi chơi xa hơn. Khi thì hai người đưa nhau ngồi bên quán nước trên bờ sông Sài Gòn cạnh cư xá Thanh Đa để nói chuyện trời trăng mây nước; có khi đưa nhau về Lái Thiêu đến những vườn trái cây tha hồ tình tựï. Nàng nhớ lại,trong lúc Kiên chở Kim trên chiếc xe gắn máy thổ tả mà chàng mượn được của ông anh rể, Kiên hỏi nàng có nhớ bài thơ Mẹ Mốc của nhà thơ Nguyễn Khuyến ngày xưa không và Kiên liền đọc hai câu thơ mà anh tâm đắc nhất:

Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc

Tâm trung thường thủ tự kiên kim

Thế là Kiên được dịp giải thích cho Kim nghe và khuyên nàng đừng là Mẹ Mốc của thời xa xưa ấy thủ tiết thờ chồng mà phải cần thông thoáng hơn trong tình yêu của thế hệ chàng và nàng. Nhưng điều thích thú duy nhất đối với Kiên là khi chàng đọc đến hai chữ cuối, anh thường đọc thật lớn và thật lâu để ngầøm ý cho Kim biết rằng hai chữ kiên-kim bao giờ cũng đi cạnh bên nhau.

...Ngày đầu tiên hai người đến định cư tại thành phố này, Kiên và Kim mới biết rằng tại đây chỉ có hơn mười gia đình người Việt Nam sinh sống mà phần đông là anh em gia đình HO; bởi thế cho nên sự giao tiếp và sự hướng dẫn của bà con đến trước vô cùng cần thiết đối với vợ chồng anh. Nhưng trước khi ra đi, ở quê nhà vợ chồng anh cũng đã tìm hiểu một số thông tin về sinh hoạt và sự hội nhập của nguời Việt trong xã hội Mỹ như thế nào nên vợ chồng anh không cảm thấy khó chịu khi nghe một số người Việt trong thành phố của vợ chồng anh đang cư ngụ nói về những mẩu chuyện xa thực tế trong đó ngầm ý khoe khoang cho rằng mình là người đến trước hiểu hết mọi việc.

Vợ chồng anh dọn vào một căn hộ một phòng do hội thiện nguyện thuê sẳn từ khi hai người chưa đến. Đồ đạc vật dụng trong nhà cũng chẳng có bao nhiêu, ngoài một số nồi, niêu, soong chảo, mấy cái tô chén sành, và một chiếc nệm đặt giữa phòng ngủø. Nhìn cảnh này hai vợ chồng bùi ngùi lắm nhưng chẳng biết nói sao vì tiền trợ cấp lúc ban đầu hội đã phải trả tiền thuê nhà và sau này nhân viên cán sự đến giải thích thì vợ chồng anh mới hiểu ra.

Những ngày sau đó, đồng hương trong vùng đến thăm gia đình anh. Người thì tặng vợ chồng anh chiếc truyền hình cũ nhưng còn khá tốt, người khác thì cho bàn ghế, đèn ngủ, đèn đọc sách, nồi cơm điện....

Trong những người thường lui tới thăm gia đình vợ chồng anh là bà Thà. Gia đình bà là một gia đình ra đi theo chương trình HO sớm nhất và đến định cư tại thành phố này từ cuối năm 1989. Bây giờ gia đình bà đã có cơ ngôi vững vàng. Các con bà cũng đã lớn có đứa học ra trường và đi làm ở tiểu bang khác. Chồng bà từ ngày qua Mỹ đến giờ, với vóc dáng gầy ốm vì thiếu dinh dưỡng 9 năm trong trại cải tạo và ông cũng được mách bảo từ một người bạn ở Quận Cam, bang California là đi xin tiền bệnh và khai là bị bệnh tâm thần trong thời gian cải tạo. Đối với người Mỹ, chiến tranh Việt Nam là một cơn ác mộng, nên họ hiểu phần đông những người tù chính trị Việt Nam qua đây ai cũng ít nhiều mang theo bệânh hội chứng của chiến tranh. Và bà Thà giờ đây ở nhà cũng nhận tiền nuôi bệnh cho ông.

Sau mấy tháng định cư, một hôm bà Thà đem qua tặïng hai vợï chồng anh một gói cá hồi mà bà bảo là quí lắm. Đó là món quà mà đứa con gái thứ hai của bà hiện đang làm nghề móng tay tại thành phồ Portland, tiểu bang Oregon mua gửi biếu bà. Chị Kim xuýt xoa đỡ lấy món quà cá hồi lần đầu tiên trong đời.

Ngồi trên chiếc ghế nệm dài trong phòng khách, bà Thà đưa mắt nhìn quanh một vòng và hỏi chị Kim:
"Thím Kim này, mấy tháng đến đây định cư, chú thím có định chọn nghề gì cho tương lai mình không? Tôi thấy chú thím bây giờ tuổi cũng lỡ thầy, lỡ thợ hết rồi. Phải tính nhanh lên để kẻo muộn".

Nghe câu hỏi này, hai tay chị Kim đan vào nhau và dè dặt trả lời:
"Chúng em qua đây chân ướt, chân ráo, chưa biết gì hết chị ạ! Có lẽ, trăm sự cũng nhờ các anh, các chị đến trước hướng dẫn, chỉ bảo cho. Chúng em bây giờ còn xin trợ cấp và đang học thêm Anh ngữ"

Tiếp đó bà Thà bảo chị Kim:
"Theo kinh nghiệm của tôi và các cháu nhà tôi, thì cái nghề làm móng tay là nghề dễ hái ra tiền nhất, vả lại nó không đòi hỏi tiếng Anh, tiếng u gì nhiều. Mình cần biết chừng mấy chục câu xã giao bằng tiếng Anh là nói cho bọn Mỹ cái nó nghe là tha hồ hốt bạc".

Và tiếp sau đó bà cũng kể cho chị Kim nghe về sự thành công của hai đứa con gái nhà bà. Bà lại bảo:
"Thím biết không, hôm nay mà gia đình tôi có cơ ngơi đồ sộ như thế này là do công của hai đứa con gái làm nghề móng tay mua cho. Nó còn gửi về Việt Nam nhờ bà dì chúng nó mua được hai căn nhà mới xây dành bán cho Việt kiều nghe đâu ở bên khu Tân quí Đông, Tân quí Tây gì đó".

Chị Kim tỏ vẻ chăm chú nghe bà Thà nói cho phải phép vì dù sao bà ta cũng là ân nhân của vợ chồng chị trong những ngày đầu đặt chân đến thành phố khỉ ho, cò gáy này, và chị nói:

'Cám ơn chị đã khuyên bảo. Để thư thả em về bàn với nhà em thử xem sao. Nếu được, lúc ấy chắc em phải phiền cả chị và cả hai cháu nữa đấy"

Thật ra, chị Kim cũng đã chuẩn bị cho mình một nghề từ trước khi chị và anh Kiên đến Hoa Kỳ. Trước 1975, chị là một cô giáo dạy lớp mẫu giáo tại Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp và chị tiếp tục dạy chừng bốn năm thì chế độ mới cho chị nghỉ việc vì chị là vợ của sĩ quan "ngụy". Chị rất yêu mến trẻ con nên khi qua đây chị xin theo học lớp giữ trẻ trong thành phố này. Và ngày còn ở Việt Nam, chị cũng nghe phong thanh rằng nghề làm móng tay của chị em Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng dễ làm ra tiền nhưng nó nhiêu khê và phức tạp lắm. Chị luôn luôn lý luận một cách chắc nịch rằng chỉ có người xấu chứ không có nghề nào xấu cả.

Thời gian qua thật nhanh, mới đây mà vợ chồng anh đến Hoa Kỳ hơn chín tháng. Lần tay tính chỉ còn ba hôm nữa là hai vợ chồng vui hưởng cái Tết xa nhà đầu tiên trong đời. Nhìn quanh, vợ chồng anh chẳng thấy cái không khí tết xuân là gì ở thành phố này. Ai nấy cũng đi về như mọi ngày. Không chợ hoa, không quán xá bày bán bánh mứt, thiệp chúc tết… như quê nhà. Nhưng chiều nay, khi đi làm về, bà Thà và mấy người quen đem biếu bánh chưng, kẹo mứt do tự họ làm vì họ rất lười phải lái xe ba bốn tiếng đồng hồ đến khu người Việt mua sắm quà tết.

Khác hơn thường lệ, hôm nay chiều ba mươi Tết, Kiên đem chiếc bàn đặt sát vách trong phòng khách và lấy chiếc khăn bàn với nhiều ô vuông màu đỏ mà anh mua tại tiệm 99 xu ngày hôm qua. Anh lấy hai cái ly nhỏ úp xuống để cắm đèn cầy. Anh cẩn thận cắm hai cây nến màu nâu đậm. Bên cạnh ấy, anh đặt một đĩa bánh chưng và đĩa kia là bánh mứt. Sáng nay trước khi đi làm anh có dặn vợ anh nhớ ghé lại chợ của người Mễ trong vùng mua một số trái cây như một trái dừa, vài trái đu đủ và một ít trái xoài để anh "dừa đủ xài" với thiên hạ trong năm mới. Trong lúc ấy chị Kim đang loay hoay dưới bếp lo luộc mấy con gà, ở phòng khách anh lên tiếng gọi chị Kim:

"Em ơi! Em lên đây xem thử có giống Tết như nhà mình ở Việt Nam không?".

Nghe Kiên gọi, nàng vội vã chạy lên và đứng cạnh bên chồng nhìn bàn thờ mà anh vừa mới trang hoàng xong, lòng nàng chùng xuống, một nỗi buồn vời vợi và một cảm giác đớn đau khó tả đang len lén trong tâm hồn nàng vì nàng nghĩ đến những ngày giỗ của anh Điền, chồng nàng và những ngày giáp tết bên gia đình bố mẹ chồng.

Thấy vợ đứng thừ người ra, Kiên cũng đọc được những ý nghĩ của vợ anh vì anh biết vợ anh là người đàn bà vốn đa cảm; nên anh chỉ biết ôm vợ vào lòng và bảo:

"Anh biết em đang nghĩ gì. Thôi để anh đưa em xuống bếp và chúng ta cùng làm bếp để sửa soạn cúng giao thừa em nhé!"

Nghe đến đây, Kim gục đầu vào vai Kiên khóc nức nỡ và nàng nói:

"Anh Kiên! Em yêu anh! Sao em nhớ nhà quá anh ạ!"

Kiên hôn lên tóc Kim và hai người đứng trước bàn thờ một hồi lâu trước khi cả hai cùng đi xuống bếp. Ngày mai Thứ Bảy, ngày nghỉ của cả hai người nên Kiên và Kim đêm nay quyết định thức đến khuya để đón giao thừa trong thành phố xa lạ này.

Sau khi cúng vái tổ tiên để đón giao thừa, Kiên đưa Kim vào phòng ngủ như thường lệ. Trong cái đêm trừ tịch này, hai người nằm bên nhau nhưng cả hai không nới với nhau điều gì trước khi đi ngủ. Một lúc sau, Kim quay mặt về phía vách và Kiên đặt hai tay kê phía dưới đầu và im lặng nhìn lên trần nhà. Đêm đã về khuya, bên ngoài tiếng côn trùng nỉ non và lâu lâu Kiên nghe tiếng của mấy chú chồn hôi đến mấy thùng rác lục tìm thức ăn thừa làm Kiên nhớ lại những ngày gian khổ ở những trại cải tạo. Đêm nay cũng làm anh nhớ đến Điền, một người bạn chí thân trong suốt đoạn đường cải tạo và cũng là người chồng cũ của Kim, bây giờ là vợ anh và đang nằm cạnh bên anh đêm nay. Điền đã chết một cách tức tưởi trong những ngày giáp Tết tại một trại cải tạo ở Xuân Lộc.

Ngày ấy, anh và Điền cùng tập trung tại trường trung học Tabert, Sài Gòn và sau đó cả hai được chuyển lên trại Long Giao, Long Khánh. Anh và Điền vì cùng cấp bậc nên được ở chung một láng. Cả hai lại cùng nằm sát cạnh nhau. Hai người ở trại này được hai năm, bỗng nhiên vào lúc nửa đêm, cán bộ quản giáo đi từng láng đánh thức trại viên và ra lệnh:

... Tất cả các anh hãy thức dậy ngay, mang theo tất cả vật dụng cá nhân và khẩn trương ra sân sắp hàng đợi lệnh....

Lúc này Kiên nhìn Điền và bảo:
"Không biết điềm lành hay điềm gở đây, anh Điền?"

Điền không trả lời câu hỏi của Kiên và bâng quơ nói cho xong chuyện:

"Đến đâu hay đến đó. Mình là cá nằm trên thớt ấy mà. Họ muốn làm gì thì họ cứ làm." Đêm hôm ấy cả hai đều theo các anh em trại viên khác lên xe GMC bít bùng chờ sẳn trong sân trại và đưa họ xuống tàu ra Bắc tập trung để đi thêm một bước cải tạo đầy gian nan khổ ải.

Anh nhớ lại những ngày đêm lênh đênh trên sóng nước cộng với cái đói triền miên, nên trông ai cũng phờ phạc, xơ xác như một đoàn quân bại trận về từ chiến trường còn nghe mùi thuốc súng, nhưng bên cạnh đó tinh thần đồng đội của anh em cải tạo viên rất cao là biết săn sóc và chia sẻ cho nhau khi cần thiết.

Ký ức về với anh đêm nay như một cuốn phim quay chậm mà hình ảnh trong những thước phim ấùy có lẽ sống mãi trong anh và anh luôn luôn mang theo mình như những cảnh đời anh không thể nào quên được.

Trên đoạn đường xe lửa chạy từ cảng Hải Phòng lên Yên Bái, thỉnh thoảng Kiên nhìn lén qua khung cửa gỗ, anh đọc thấy ga Kinh Môn, rồi Phúc Yên, rồi đến ga Việt Trì. Những địa danh này làm anh nhớ lại những lần nghe bố anh kể lại khi ông ta đi lên vùng mạn ngược mua các loại lâm dược như nhung nai, mật gấu, quế... về bán cho một tiệm thuốc bắc trong vùng chứ nào anh có biêt gì quê hương đất Bắc của anh vì anh theo gia đình di cư vào Nam khi anh vừa 13 tuổi.

Nghĩ đến chuyến xe lửa từ cảng Hải Phòng lên Yên bái để bị đưa vào trại 5 Hoàng Liên Sơn vẫn còn làm anh rùng mình cho đến những ngày vào rừng sâu đốn gỗ mà Điền suýt mất mạng vì những khúc gỗ lớn trên triền dốc cao lăn xuống; cũng may anh né tránh kịp thời. Sau buổi trưa chết hụt ấy, đêm về nằm bên cạnh Kiên, anh quay sang bảo:

"Kiên này! Nếu tôi có chết thì ông nhớ chăm sóc vợ tôi nhé".

Kiên cho đó là một lời nói đùa nhưng đêm nay Kiên không ngờ mình lại là người đã thực hiện đúng lời trăn trối của một người bạn không biết vô tình hay cố ý. Nghĩ đến đây, Kiên nhè nhẹ quay đầu lại nhìn Kim nhưng nàng vẫn nằm im xoay ngực vào tường.

Rồi Kiên quay lưng lại với thế nằm của Kim, dòng suy nghĩ của anh vẫn chảy đều . Hình ảnh của những tháng năm ở trại Nam Hà, Hà Nam Ninh và cảm giác buồn vui lẫn lộn của anh lần đầu tiên nhận quà do gia đình anh gửi ra trong đó kèm một lá thư mà gia đình cũng muốn nói quanh cho anh biết rằng Hà, vợ anh đã đi lấy chồng.

Vào giữa năm 1983, Kiên và các bạn tù cải tạo khác được thuyên chuyển về trại Z-30A, Xuân Lộc. Nơi đây khí hậu và đời sống cải tạo có phần dễ chịu hơn vì được gia đình thăm nuôi tiếp tế thêm và mọi người có thể thấy được ngày về.

Trong khoảng không gian thanh vắng, thỉnh thoảng Kiên nghe một tiếng xe chạy vút qua trên con đường cạnh nhà anh rồi biến mất trong màn đêm, và lúc này anh nằm ngửa nhìn lên trần nhà với đôi mắt nhắm nghiền lại. Lúc này anh đang nghĩ về cái chết của Điền vào chiều 29 Tết năm ấy.

Khoảng hơn ba tháng trước ngày Tết năm ấy, đội của anh và Điền được phân công đi rào lại những hàng rào chung quanh trại vì lâu ngày dây kẽm gai cũng đã rỉ sét. Vì cỏ cao đến ngực, chẳng may trong lúc kéo dây kẽm gai thì một người bạn không thấy Điền nên làm trầy xước cổ chân anh. Vết thương không nặng lắm nhưng buổi chiều hôm ấy anh lên bệnh xá trại để băng bó nhưng cán bộ y tế trực chỉ cho một vài viên xuyên tâm liên và bảo rằng thuốc này còn có hiệu quả gấp mấy lần so với các loại trụ sinh khác. Trong hoàn cảnh này Điền chỉ biết nhận mà không bao giờ uống cái loại thuốc vớ vẩn này.

Nhưng sau đó, cũng khoảng mười ngày trước tết, một buổi sáng trước khi ra hiện trường lao động, anh cảm thấy ớn lạnh trong người và bảo với Kiên xin phép cán bộ quản giáo ở nhà nghỉ bệnh. Trong khi mọi người đi làm, sau khi lên trạm xá khai báo, anh về láng nằm đắp chăn rên ư ử và co giật liên hồi nhất là hai hàm răng , tiếp theo đó là cổ anh như cứng lại và không cử động được, ăn uống khó khăn và bụng anh như cương cứng lại. Chiều hôm ấy anh được các bạn đưa anh lên trạm xá trại nhưng vẫn trị bằng " trụ sinh xuyên tâm liên.... Không may cho Điền, những ngày giáp Tết các cán bộ trực trại đều thay phiên về quê chuẩn bị Tết nên chẳng ai để ý hay chịu trách nhiệm về con bệnh nhất là một cải tạo viên như Điền. Sáng hôm sau, Kiên nhờ anh đội trưởng nói với cán bộ quản giáo xin chuyển Điền ra bệnh viện huyện chữa trị nhưng bị từ chối... và đến chiều ngày 29 Tết anh chết trong tay Kiên, không một lời trối trăn sau cùng. Anh chết vì bệnh sài uốn ván.

....Và chiều nay nhìn bàn thờ do Kiên trang hoàng, cũng như Kiên, đêm nay Kim không thể nào chợp mắt vì nàng nhớ đến Điền chồng nàng đã chết trong trại cải tạo cách đây 13 năm.

Sau khi hay tin chồng nàng được chuyển về Nam, ngày ấy nàng vui lắm vì rồi đây nàng có dịp thăm Điền thường xuyên. Khi Điền về Xuân Lộc nàng thăm anh được hai lần và các lần khác thì nàng chỉ gửi quà mà thôi. Kim nhớ lại những lần ra thăm Điền, khi ngồi bên nhau, khi cùng ăn với anh một khúc bánh mi hay chia đôi quả cam, quả mận, và nhất là những lúc chia tay cho dù nàng biết có ngày gặp lại... Nàng biết rằng đó là hạnh phúc cho dù thứ hạnh phúc thật ngắn ngủi.

Kim nhớ thật rõ những ngày trước Tết, mẹ chồng nàng thường bảo nàng gói những chiếc bánh chưng thật nhiều thịt mỡ và bánh mứt phải thật nhiều đường vì bà biết rằng người đi tù cải tạo rất cần nhiều mỡ và đường. Lúc ấy nàng cũng không quên làm riêng cho anh một hũ mắm ruốc xào sả với thật nhiều tốp mỡ; món này Điền thích nhất vì giữ được lâu... nhưng những món quà Tết này có bao giờ đến được tay Điền cho dù ngày mồng bốn Tết Kim được phép ra Xuân Lộc thăm nuôi chàng....Nghĩ đến đây Kim không dám khóc thành tiếng, nàng cố ngăn đôi dòng lệ đang lăn trên má nàng.

Đêm nay, trong đêm trừ tịch trên xứ người, Kim để lòng mình về với dĩ vãng thương đau, thương cho số phận hẩm hiu của đời mình nhưng nàng đâu có biết cũng trong đêm này nằm bên cạnh nàng cũng có một người đang nhớ về những kỷ niệm xa xưa, về một miền đất thân thương mà bạn của anh ta đã bỏ mình trong trại cải tạo trước khi được về đoàn tụ với người vợ thân yêu mà người ấy bây giờ đang nằm bên cạnh anh...

Phan Đông Thức
Những ngày cuối năm Bính Tuất

 ---š { ---