hi bức tượng hoàn thành, nàng sững sờ trước
vẻ đẹp của chính mình. Mới thoáng nhìn ai cũng tưởng các bức
tượng đều giống nhau. Vẫn đôi tay ấy, đôi chân ấy, hông háng ấy
và nhất là cái bầu ngực đầy đặn giống như các tượng nữ thần,
nhưng cả Chiêm vương và nàng đều thấy hiển hiện một Huyền Trân
nồng say trong ánh mắt làn môi. Điều kỳ diệu là những người thợ
ấy chưa hề một lần mời nàng ngồi làm mẫu. Thì cũng giống như khi
tạc tượng các nữ thần : chỉ một thoáng nhìn, cái đẹp đã ngự trị
ở trong hồn của họ.
Lịch sử của ngàn năm trước như quên mất nói
tới hạnh phúc của đàn bà. Nhưng cứ xem cách sống ung dung của
nàng, xem cái cách những người thợ nâng niu từng nhát đục để tạc
tượng cho nàng, xem các Chiêm nữ đi từng hàng dài đội nước từ
dưới sông lên cho nàng tắm và nhất là xem Chiêm vương yêu chìu
quy phục nàng, ai dám bảo những ngày về với Chế Mân nàng không
hạnh phúc ?
Nàng hạnh phúc và càng hạnh phúcù hơn khi khi
các ngự y báo tin mừng nàng đã mang thai. Hạt mầm của cây đời
sắp xanh muôn ngàn lá. Con nàng sẽ là vua nước Chiêm, con anh
nàng sẽ là vua nước Việt. Gần gũi làm sao hai nước anh em. Cùng
tựa lưng vào núi và quay mặt ra biển đông, chỉ cách nhau có mỗi
Hải Vân quan. Như cách nhau một hàng dâm bụt!
Đặt tay lên bụng, nàng mơ màng nghĩ tới quê
nhà. Nàng thấy cuộn lên nỗi nhớ thương mẫu hậu. Oâi chao, một
ngày nào đó nàng sẽ đưa con về thăm quê ngoại. Không phải trèo
đèo lội suối, vương hậu và hoàng tử sẽ đi trên một con thuyền
với những cánh buồm trắng, sẽ theo sông Phú Lương đậu sát ở chân
thành. Cả ngàn người ra đón và nàng sẽ phải đưa tay ra đỡ vương
hậu lại một lần nữa ngất xỉu nhưng lần này là vì mừng vui. Nàng
cũng sẽ cõng con leo lên Yên Tử để gặp phụ hoàøng. Nàng sẽ xin
phép ngài cho con nghịch phá đôi chút chuông mõ. Ơû nước Chiêm
người ta chỉ múa để xưng tụng các thần nên tiếng chuông tiếng mõ
chắc chắn sẽ làm thằng bé ngạc nhiên thích thú.
Được tin nàng sắp sinh hoàng tử thần dân càng
yêu kính hơn. Mỗi khi đi ra ngoài thành, người ta tranh nhau hôn
đấu chân nàng để lại. Các quan trấn nhậm phương xa thường gửi
dâng nàng những con vật quý hiếm. Những chim trĩ đuôi dài cả
thước, những con công xoè cánh điệu đàng, những con rùa màu
trắng và có cả một con đười ươi lúc nào cũng nhe răng ra cười.
Vì thế chẳng bao lâu nàng có cả một vườn thú nho nhỏ ngay trong
kinh thành.
Một hôm, Chế Mân bảo sẽ đi xa trong ít lâu.
Nàng hỏi thì bảo là đi săn. Mà lại là săn voi! Nghe nói thế nàng
rất lo sợ. Làm sao bắt được con thú có những cái chân to hơn cả
cột đình! Nhưng chàng bảo chẳng có gì đáng sợ. Cả trăm con voi
kia nếu không vào rừng săn bắt thì làm sao có được. Đi săn voi
là tiếp cận vơí các thần. Mà chàng cũng là một vị thần.õ Thần
với thần gặp nhau có gì mà phải sợ. Không cách gì cản được chàng
vì chàng muốn tặng con một món quà cho xứng với bậc đế vương.
Đoàn người lên đường với chục con voi đực và
những thợ săn lão luyện. Người ta dự tính đi trong một tháng. Có
khi phải sang tận đất Lào vì đó là vương quốc của loài voi. Chế
Mân là một ông vua Chàm trẻ tuổi ham săn bắn. Chàng vẫn thường
cùng bọn lính đi săn hươu nai, hổ báo. Nhưng săn voi thì chưa vì
phải rất kiên trì va ømưu lược. Phải tìm xem đường đi của chúng,
xem cây lá chúng đã ăn, xem phân chúng để lại, phải biết trong
đàn có bao nhiêu voi đực ,bao nhiêu voi cái, voi con. Rồi phải
chọn nơi thuận lợi nhất để chia tách, cô lập. Và nhất là, phải
có đường thoát hiểm khi bị nhiều đàn cùng lúc tấn công.ø Khi đã
chọn được con voi cần săn bắt thì lũ voi nhà lập tức bao vây
chèn ép sao cho con vật tội nghiệp chỉ có một cách duy nhất là
lìa đàn về với đôøng bằng.
Năm ngày sau, bọn thợ săn bắt gặp một đàn voi
đến những mười lăm con, trong đó hơn nửa tá là voi đực. Con voi
đầu đàn chỉ có một ngà và con voi mà chúng bảo vệ là một con voi
trắng, vua của các loài voi. Đây là một đàn voi thiêng nên bọn
thợ săn e ngạiï muốn tránh xa. Nhưng Chế Mân lại tỏ ra rất thích
thú vì bắt được vua của các loài voi thì không gì sung sướng
bằng. Chàng liền ra lệnh cho bọn thơ sănï và lính ngự lâm tìm
cách chia cắt và cô lập con voi đầu đàn.
Đó là một con voi đực rất to lớn và hung dữ.
Cái ngà của nó bị gãy chắc là trong một trận đánh nhau kinh
thiêng động địa nào đó. Không một chút sợ hãi, nó giương cái ngà
duy nhất như một lưỡi kiếm lao thẳng vào những con voi đang phản
bội giống nòi. Hết bên phải nó quay sang bên trái, lù lù như một
con tê giác khổng lồ. Lũ voi nhà cũng rất tinh khôn. Chúng cứ
khiêu khích gầm thét, lúc trước mặt lúc sau lưng, quần con voi
dữ đến chóng mặt.
Suốt cả buổi một chọi mười làm cho nó mệt phờ.
Nó dừng lại một lúc vừa để lấy lại sức vừa tìm xem trong bọn con
nào yếu nhất để ra đòn quyết định. Thế rồi với tất cả sức mạnh
và thù hận nó liền xé gió lao tới. Người ta nghe thấy một tiếng
rầm với bao nhiêu cây lá gãy đổ rơi rụng. Một con voi nhà thoát
chết trong gang tấc. Thay thế nó là một cây cổ thụ đang run lên
bần bật. Nhưng cái tiếng thét kinh hoàng của nó làm cho bọn thợ
săn bất chợt reo lên vui mừng: cái ngà nguy hiểm của nó dính
chặt vào thân cây không cách gì rút ra được!
Để mặc cho nó lồng lộn thét gào, bọn thợ săn
liền xua bọn voi nhà ngay lập tức chia cắt con voi trắng ra khỏi
đàn. Tuy được tôn xưng là vua của các loài voi, nhưng con voi
trắng xem ra rất lờ khờ chậm chạp. Chỉ một lúc nó bị cô lập như
một con cừu giữa một bầy sói. Nó ngơ ngác nhìn lũ voi nhà, đành
để chúng lùa đi trong tiếng reo hò của bọn lính ngự lâm.
Chế Mân rất đẹp lòng. Cả đoàn đi suốt đêm cố
thoát ra khỏi rừng. Chẳng những tránh đàn voi ấy đuổi theo mà
còn sợ những đàn voi khác nhiều khi đông đến cả trăm con đang ở
khắp thượng ngàn cùng kéo đến giải vây. Lúc ấy dù có để vua của
chúng ở lại cũng không sao thoát khỏi những dòn thù mà chỉ có
cái chết mới làm cho chúng hả giận.
Sáng hôm sau đoàn người đã ra khỏi rừng,
nhưng cũng phải mất cả mấy ngày nữa mới về tới kinh thành. Tối
hôm ấy đoàn người nghỉ qua đêm trên một bãi cát ở sông Kôn. Dù
có sông rộng che chắn, bọn thợ săn vẫn lo sợ đốt lửa suốt đêm.
Bọn voi nhà vây quanh con voi trắng còn bọn ngự lâm nằm phục
xung quanh căn lều của vương để bảo vệ.
Đêm yên lặng. Nước sông chảy êm như ru. Cả
đoàn sau những ngày căng thẳng mệt mỏi lăn ra ngủ như chết. Chỉ
có bọn voi nhà cảm nhận được bao nỗi hiểm nguy đang chực chờ.
Chúng cứ dùng vòi tung cát lên cao, thỉnh thoảng lại thét lên
những tiếng kêu đâøy hoang mang lo sợ.
Va,ø đúng như linh tính đã báo trước cho
chúng, khi trăng hạ huyền vừa rải ánh sáng yếu ớt xuống mặt sông
thì đột nhiên bỗng ào ào như thác đổ với hàng trăm con voi rừng
băng băng lội qua sông. Con voi một ngà cuồng điên lao lên phía
trước. Những tiếng té tát vang rền. Cái bãi cát êm đềm chỉ trong
chớp mắt đã bị lũ voi rừng tràn ngập. Những bàn chân to lớn thi
nhau giẫm đạp, những xác người mỏng manh bị tung lên. Một cuộc
giải cứu và trả thù chấn động đất trời. Con voi trắng vua của
loài voi đã được đưa về đại ngàn, còn vua của người Chăm chỉ còn
là một cái xác nhàu nát đầy máu me!
Tin dữ đưa về giữa lúc Huyền Trân đang ngắm
những con thú cưng. Con chim trĩ vẫn nghiêng cái đuôi dài thướtù
tha chào nàng. Con công vẫn giương cái quạt nhiều sắc màu đỏm
đáng. Con đười ươi vãn cứ nhe răng ra cười dù không bị ai cù.ù
Con rùa mai trắng vẫn trầm tĩnh nhai từng cọng rau. Nàng đang tự
hỏi không biết cái con voi be bé mà Chiêm vương sắp đem về tặng
con không biết nhốt ở đâu. Nhất định không phải ở trong chuồng
này. Nó nhỏ quá và cái con đười ươi ngu ngốc kia chắc chắn sẽ
làm cho nó bực mình. Cái vòi của nó mà tóm được thì dù có muốn
cười cũng phải khóc thôi con ạ!
Đầu tiên nàng nghe rào rào như gió đuổi nhau
chạy trên những lùm cây, rồi tiếp theo những tiếng đâùm ngực,
tiếng kêu gào, tiếng thét hoảng sợ như thể cái tháp đồ sộ kia
đang ngiêng và sắp đổ nhào. Thế rồi tất cả đột nhiên nín lặng.
Mọi người mọi vật như bị đông cứng. Tháp vẫn đang nghiêng nhưng
không đổ. Ai đang há họng ra vẫn cứ há, ai đang giơ tay vẫn cứ
giơ tay, ai đang chạy vẫn giữ thế co chân đang chạy. Cả kinh
thành chết lặng ít ra trong vài mươi giây khi những con voi phờ
phạc vì chưa hết hoảng sợ đem cái xác mềm oặt nhàu nát như vừa
bị cán qua che mía đi vào cổng thành.
Huyền Trân cũng chết lặng không chỉ cả xác mà
chết cả hồn. Nàng cứ mở mắt trừng trừngù, mở to đến hết cỡ nhưng
chẳng thấy gì ngoài cái màu đỏ như ngập lụt cả kinh thành và cả
đất trời. Nàng cứ đứng mãi như thế cho dù trời nắng hay trời mưa,
cho dù hết đêm sang ngày nếu người ta không đưa nàng vào một
ngôi nhà xây toàn gạch chỉ có một cửa ra vào như nhà ngục.
Bên ngoài triều thần vội vã tôn Chế Chí lên
ngôi. Việc đầu tiên của tân vương là hoả thiêu cho cựu vương.
Các thầy tư tế và ngự y phải mất cả ngày băng bó sao cho ra hình
hài để đem đi xông trầm và ướp hương. Ba ngày sau khi đã được
hong khô, người ta mặc áo đội mũ cho vươngõ uy nghi như đang ngự
trên ngai. Trước ngôi tháp thiêng người ta chất củi thành một
cái tháp đủ rộng để thiêu xác của Chiêm vương, vương hậu và
vương phi.
Thế đấy, cái ngôi vương hậu vàng son lộng lẫy
bỗng chốc hoá ra cái miệng đỏ lòm của lửa! Huyền Trân, Huyền
Trân ơi, cây quế giữa rừng giờ chỉ còn là một cây củi mà thôi!
Cùng chung số phận với nàng còn có bốn vương
phi người nào cũng đẹp như thần Shiva. Họ cũng được nhốt chung
với nàng để chờ ngày thiêu sống. Ai cũng rũ xuống như những cành
lan héo. Không ngờ những ngày tươi đẹp ở thế giới này quá ngắn
ngủi.
Tuy không phải là người Chiêm, nhưng Huyền
Trân cũng biết quá rõ những gì đang chờ đợi nàng. Ơû nước Việt
thì chôn sống, ở đây thì hoả thiêu ! Tất cả chỉ là một cái chết
bắt buộc để trả giá cho giấc mộng huy hoàng. Những vương phi tuy
vậy vẫn còn chút an ủi là được chết cùng với Chiêm vương tức là
cùng được đi về nước Trời. Còn nàng, nàng không tin như thế. Cái
chết như thổi tắt một ngọn đèn. Phụt một cái, đang sáng bỗng trở
thành tối om. Nàng chỉ tiếc cho đứa bé chưa được sinh ra, tiếc
là không được cùng nó về thăm quê ngoại.
Ngày thứ năm sau cái chết của Chiêm vương,
người ta tiến hành lễ hoả thiêu. Xác Chiêm vương được các thầy
tư tế rảy nước thơm và đọc kinh cầu hồn. Sau đó bọn thị vệ
khiêng xác lên đặt trên tháp củi giữa bốn vương phi đã được cho
uống thuốc mê và bị trói cả chân tay. Huyền Trân chưa phải chết
theo chồng vì hãy còn cái mầm sống trong lòng. Nàng mặc đồ tang,
mặt che mạng, được phép chiêm bái như mọi thần dân.
Khi ngọn lửa bốc lên cao thè những chiếc lưỡi
dài liếm vào người các vương phi, bọn họ rùng mình tỉnh dậy. Họ
không kêu la được vì mồm bị nhét đầy giẻ. Họ cong người lên dãy
dụa như tôm cá bị nướng. Nhưng chỉ trong chớp mắt tất cả đều
lặng im, chỉ còn nghe tiếng cười khành khạch của lửa gặp gió.
Cả người chết và người chưa chết đem thiêu
cũng đều được lửa hào phóng giải thoát. Bỡi lửa đời đời là sự
sống ngay cả trong cái chết. Lửa là thần của các vị thần nên các
ngọn tháp đều mang dáng hình ngọn lửa.
Ngay khi chuẩn bị hoả thiêu tân vương Chế Chí
đã cho sứ thần ra Thăng Long báo tin. Ngoài ra còn bóng gió rằng
người dâng nộp hai châu Ô Rí đã chết thì lời ước cũng đã hoá
thành tro.
Cả triều đình sửng sốt và nổi giận. Thái hậu
thì chết điếng vì đau buồn. Bà buộc đức vua phải tìm mọi cách
cứu cho bằng được công chúa, nếu không bà sẽ gieo mình xuống hồ
Tây. Cái ngọn lửa từ kinh thành Đồ Bàn xa là thế mà ngày đêm vẫn
như đang thiêu đốt bà. Khi đức vua đem nỗi lo ấy ra bàn bạc với
triều đình, các quan ai cũng thuận theo thánh ý. Chỉ có một
người sau này dâng sớ xin chém đầu bảy nịnh thần là tướng quân
Phạm Ngũ Lão dám đứng ra bộc bạch. Oâng nói :
- Muôn tâu thánh thượng, thần trộm nghĩ nước
lớn phải giữ nghĩa lớn. Cái đức của người quân tử là giữ chữ tín.
Ta đã gả công chúa cho người thì sống chết gì cũng phải theo tục
lệ của họ. Công chúa dù có phải hoả thiêu cũng là để trọn đạo
làm người. Còn như muốn cứu công chúa thì chỉ có mỗi một cách là
đem hai châu Ô Rí trả lại. Họ được đất, ta được người. Như thế
là vẫn giữ được tình hoà hiếu như Thái thượng hoàng mong muốn.
Nhưng Trần Khắc Chung, một tướng quân trẻ
tuổi mộng lớn thì quyết liệt chống đối:
- Việc gì phải trả lại đất. Thần xin đưa công chúa về bảo đảm
không mất đi một sợi tóc.
Thế là Trần Khắc Chung được cử làm chánh sứ
đi viếng tang. Sứ bộ đi trên một chiến thuyền có cả súng đại bác
và những con ngựa nòi chạy tuyệt nhanh. Trời yên biển lặng nên
chỉ trong năm ngày thuyền đã cập bến ở đầm Thị Nại.
Khắc Chung cùng với bốn quân kỵ tiến thẳng
lên thành Đồ Bàn. Tân vương tiếp sứ thần theo đúng cách một nước
nhỏ tiếp nước lớn: hết lời cảm ơn sứ thần đã ngàn trùng vượt
biển đến viếng và xin tạ ơn bằng một mâm vàng. Nhưng khi sứ thần
xin bái kiến vương hậu thì tân vương dứt khoát chối từ. Chẳng
những thế, ngay sau đó Huyền Trân còn được canh giữ nghiêm nhặt
hơn. Túc trực quanh nàng không phải những ngự y mà là những tên
lính ngự lâm lăm lăm gươm giáo trong tay.
Khắc Chung cũng không vừa, ngay trong đêm đó
đã mật lệnh cho bọn quân kỵ tìm ra chỗ giam giữ nàng. Nhìn lướt
qua thành quách không được xây bằng gạch đá mà chỉ đắp bằng đất
đỏ, tướng quân cười thầm vì việc cứu công chúa dễ như lấy đồ
trong túi.
Sáng hôm sau, Khắc Chung đến chào từ biệt tân
vương, xin gửi lại mâm vàng để tặng cho những người sẽ chăm sóc
công chúa từ đây cho đến ngày nàng bị đem đi thiêu. Tuyệt nhiên
không hề đá động gì đến chuyện trả lại đất để đổi lấy công chúa
như tân vương dự tính. Tân vương đành tiễn họ ra khỏi thành. Dù
sao thì cũng còn mấy tháng nữa nàng mới sinh, lúc ấy bàn chuyện
đổi chác vẫn chưa muộn. Đối với tân vương, việc nàng có chết
theo Chế Mân hay không, chẳng có gì là hệ trọng. Cái chính là
hai châu Ô Rí đã phải mất vào tay người vì sự mê muội của ông
anh dại gái! Giờ phải bằng mọi giá lấy lại cho bằng được. Mà
cũng dễ thôi, cứ việc giữ nàng như một con tin, thỉnh thoảng doạ
đem đi thiêu thì đất nào mà lấy lại chẳng được.
Ra khỏi thành, năm con ngựa Hồ chạy như bay
trong gió. Loáng cái đã mất hút trong bụi đỏ mịt mù. Ai cũng
đinh ninh bọn họ cố phi nhanh cho kịp xuống thuyền. Nhưng khi
đến ngã rẽ xuống đầm Thị Nại, Khắc Chung và cả bọn bất ngờ rẽ
ngược lên đường thượng đạo. Chẳng mấy chốc họ lại biến mất trong
rừng sâu.
Ngựa buộc hàm, người ngậm tăm, bọn họ lặng lẽ
tiếp cận những ngọn đồi vắng sau lưng thành Đồ Bàn. Chờ đêm tối,
họ leo vào thành thẳng đến chỗ công chúa đang bị giam giữ. Nàng
vẫn không hề biết có sứ thần Đại Việt đến viếng tang. Sau những
ngày dài mỏi mệt không biết đêùn giấc ngủ là gì, nàng chỉ nằm
thở dốc như một con cá mắc cạn. Đang lơ mơ bỗng nàng bị nhét giẻ
vào miệng, bị bế thốc đưa qua khỏi thành. Khắc Chung đã chờ sẵn.
Tướng quân ôm nàng phi nước đại. Chỉ ít lâu cả bọn đã xuống được
thuyền.