Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt
LỜI MỞ ĐẦU
Thuyết
đa nguyên cho là con người hiện đại phát xuất từ nhiều nơi trên thế giới
và cho rằng người Hoa và người Việt là con người hiện đại (Homo sapien
sapien) phát xuất từ Đông Á. Họ dựa theo khảo cổ t́m thấy xương người ở
trạng thái phát triển giữa người hiện đại và người đứng thẳng (Homo
erectus) ở quận Dali, tỉnh Sơn Tây, Trung Hoa nhưng giả thuyết này không
vững v́ thiếu rất nhiều bằng chứng để kết luận. Theo nhiều tài liệu về
lịch sử, ngôn ngử học, và di truyền học, thuyết đơn nguyên con người hiện
đại (Homo sapien) trên toàn thế giới luôn cả người Việt Nam khởi nguồn từ
Phi Châu. Con người hiện đại xuất hiện trên quả đất cách đây 200.000 năm.
Khi con người hiện đại (Homo sapien) có sự đột biến của nhân di truyền
tiếng nói Fox2, con người hiện đại phát triển tiếng nói hiện
đại và bắt đầu di dân ra khỏi Phi Châu cách đây khoảng 50 ngàn năm. Họ
đến vùng châu thổ sông Hồng Việt Nam, Đông Nam Á, và Trung Hoa trong
khoảng 40-50 ngàn năm. Con người hiện đại nguyên thủy này sống nhờ vào
săn bắn và lượm hái hạt, trái cây và rau.
Theo Oxford’s Atlas of World History xuất bản năm 2002 và The Concise
Atlas of World History của tác giả Hammond xuất bản năm 1995 & 2000, người
Việt-Nam (Lạc
Việt)
và
người Bách Việt
thường sinh sống từ phía nam ḍng sông Dương Tử thuộc Trung Hoa ngày nay,
cho đến Nghệ-An và Hà-Tĩnh của Việt-Nam ngày nay.
Trong lúc
khảo cổ về nền văn minh Ḥa B́nh, con người hiện đại (Homo sapien) vào
cuối thời đồ đá củ tại miền Bắc Việt Nam đă biết săn thú, hái rau, trái
cây, đào khoai củ, và dùng lửa để nấu ăn. Người ta cũng thấy những hạt
gạo hóa thạch.
Cách đây khoảng 10 ngàn năm, họ bắt đầu biết cách trồng trọt cây lúa hoang
có tên là lúa Leviant
hay c̣n gọi là lúa nước.
Có
những di tích khảo cổ vùng Đông Nam Á cho thấy người trong vùng này đă
biết cách dùng rau và trái cây trong những bửa ăn hàng ngày cách đây hơn
10 ngàn năm.
Cho đến 3 ngàn năm trước công nguyên ( 5 ngàn năm trước đây), lúa
nước
(lúa Leviant) được trồng trọt khắp phía nam Trung-Hoa và vùng Đông Nam Á
châu. Đời sống của những người trong vùng này được thay đổi hoàn toàn. Từ
săn bắn thú vật, bắt cá, và chăn nuôi để cung cấp thực phẫm hàng ngày, họ
đổi sang canh tác và trồng trọt là nguồn cung cấp thực phẫm chính. Do đó,
thực phẫm của người Việt thay đổi hẳn.
Ngoài ra, người gốc Á Châu mắc bệnh tiểu đường loại 2 rất nhiều (hàng đầu
của Bắc Mỹ). Sự trùng hợp là người Á Châu phát triển nông nghiệp sớm nhất
thế giới trong lịch sử loài người. Những bằng chứng lịch sử vừa nói trên
đă chứng minh phần nào sự tác động qua lại giữa nhân di truyền của con
người và môi trường đă tạo những giống người khác nhau và tạo ra bệnh đau.
Cho nên sự ḥa hợp (harmony) với môi trường là căn bản cho việc điều trị
những bệnh như bệnh tiểu đường loại 2.
Từ thực phẫm có nhiều chất đạm (protein) như thịt, cá, và mỡ, họ đổi sang
thực phẫm có nhiều chất
ngọt
(carbohydrate) như lúa gạo, rau, và trái cây. Thịt cá vẩn c̣n được tiêu
thụ nhưng không chiếm đa số trong bửa ăn nửa,
và trồng trọt cần sức lao động của cơ thể rất cao.
Sự thay đổi này mất 5 ngàn năm nữa để quen lối sống này của cơ thể tổ tiên
chúng ta. Các nhân di truyền (genes) của người Việt nói riêng, người
Trung Hoa và những người ở vùng Đông Nam Á châu nói chung đă
thay đổi
để
thích ứng thực phẫm
và sinh
hoạt
cũa họ.
Sự thay đổi đột ngột từ thực phẫm có nhiều thịt cá (chất đạm và mỡ động
vật)
và sinh
hoạt
như ở Bắc Mỹ, gây ra những bệnh về biến dưỡng như mỡ trong máu cao (high
cholesterol), bệnh tiểu đường …
Sự tăng dân số nhanh và thành thị hóa thôn quê cũa nhiều quốc
gia trên thế giới hiện nay cũng tạo ra những sự thay đổi về bệnh tật. Có
sự gia tăng bệnh tiểu đường loại 2 ở những quốc gia này. Sự tiến bộ về
khoa học kỷ thuật và thay đổi kinh tế thị trường làm gia tăng của cải của
người dân. Thực phẫm tiêu thụ cho mổi người gia tăng
nhưng
thành phần thực phẫm vẫn chưa thay đổi nhiều. Người Á Châu,
đặc biệt là người Việt
vẫn c̣n ăn nhiều mỡ động vật. Ngoài ra, nhà cửa tại các thành phố được
xây dựng nhanh chóng để cung ứng cho sự nhảy vọt của dân số. Thành thị
thiếu đất đai cho người dân sinh hoạt bằng chân tay. Xe cộ và phương tiện
di chuyển bằng xe gắn máy ở
Việt Nam
gia tăng. Dân thành thị càng ít hoạt động bằng tay chân hơn nữa. Số năng
lượng (calories) được cung cấp gia tăng nhưng tiêu thụ của cơ thể giăm
đi. Kết quả là số năng lượng trong cơ thể tăng nhiều hơn xưa. Nó tích tụ
dưới dạng mỡ, người dân mập hơn. Bệnh biến dưỡng bắt đầu xuất hiện.
Thay v́ đi xe, con người đi bộ hay xe bus, họ sẻ ít bị bệnh hơn.
Hiện nay, khoảng 90% người bệnh tiểu đường mắc bệnh tiểu đường loại 2 trên
toàn thế giới. Đến năm 2010, con số người mắc bệnh tiểu đường loại 2 khoảng
150-220 triệu người và có thể tăng lên đến 300 triệu vào năm 2025 trên
toàn thế giới. Đây là một trong những vấn đề y tế lớn quan trọng nhất thế
giới. Vậy ai là những người có thể mắc bệnh tiểu đường loại 2. Căn cứ
trên những nghiên cứu trên thế giới, những sắc tộc dể mắc phải bệnh này
nhất là:
·
Người
Châu Mỹ Latin
·
Người gốc
Châu Mỹ (native american)
·
Người ở
những đảo thuộc Thái B́nh Dương và những đảo thuộc Ấn Độ Dương: đặc
biệt người ở đảo Nauru, Thái B́nh Dương không biết ǵ về bệnh tiểu đường
các đây 50 năm. Hiện nay họ có 40% người trưởng thành bị bệnh tiểu đường
loại 2!
·
Người Ấn
Độ
·
Người gốc
của Úc Châu (Australian Aboriginal
communities)
·
Người Hoa
hay gốc Hoa
·
Người
Việt và người Đông Nam Á. Riêng người Việt, tôi chưa gặp qua một tài liệu
nào nói đến tỉ lệ bệnh tiểu đường loại 2 trong dân số. Để phục vụ cộng
đồng người Việt ở hai ngoại trong năm 2002, tôi cố gắng làm một thống kê
bệnh tiểu đường loại 2 ở người Việt trên 65 tuổi trong một cộng đồng người
Việt khoảng 40 ngàn người nhưng thất bại. Họ tỏ vẻ sợ sệt và nhiều người
từ chối dù tôi cố gắng cắt nghỉa và chỉ lấy chử tắt như Nguyễn Văn Anh
bằng N.V.A. và tôi không cần biết nguyên tên thiệt của họ là ǵ. Nếu tôi
có được thống kê chính xác, chính phủ của Canada rất căm kích và có chương
tŕnh y tế phục vụ cho người Việt tốt hơn. Có lẻ cần một thời gian nửa,
họ mới quen với lối sống của xứ sở văn minh trên thế giới và có lẻ cũng v́
chiến tranh của quá khứ gây ấn tượng sợ hải bất cứ ai chú ư tới họ. Tôi
rất mong hợp tác với các cộng đồng người Việt trên thế giới để làm việc
này. Riêng sự chú ư của tôi đối với bệnh nhân của tôi, có khoảng từ 30%
hay hơn người Việt trên 65 tuổi mắc bệnh tiểu đường loại 2. Tuổi bắt đầu
xuất hiện nhiều bệnh tiểu đường loại 2 là 50 tuổi nhưng có một số nhỏ bắt
đầu xuất hiện ở tuổi bắt đầu 40 tuổi. Tôi cũng có 2 bệnh nhân tiểu đường
loại 2 ở đầu tuổi 30.
Riêng ở dân số trẻ con gốc Việt, tôi chưa chứng kiến một trường hợp nào bị
bệnh tiểu đường loại 2 nhưng không có nghỉa là không xăy ra. Theo thống
kê của Mỹ, the National Health and Nutrition Examination Study (NHANES),
trẻ con Mỹ bị béo ph́ vào năm 1999-2000, 15,5% trẻ ở tuổi 12-19 tuổi,
15,3% trẻ ở tuổi 6-11 tuổi, và 10,4% trẻ ở tuổi 2-5 tuổi có chỉ số chiều
cao trên cân nặng (BMI: Body Mass Index) trên 95th percentile (gần như to
nhất) theo tuổi và phái tính. Con số này tăng 30% cao hơn so với những
năm 1988-1994. Và số trẻ con bị bệnh tiểu đường loại 2 là 1-2% trong tất
cả số trẻ em bị bệnh tiểu đường trước kia. Hiện nay tỉ lệ này tăng lên
đến 8% cho đến 45% những trường hợp tiểu đường mới xăy ra là tiểu đường
loại 2!. Sự gia tăng này đi theo với tỉ lệ béo ph́ (mập
phệ). Thường các bà mẹ Việt thường hỏi tôi tại sao con tôi nhỏ con quá!
Tôi cố gắng cắt nghỉa nhưng gặp nhiều khó khăn v́ mức độ hiểu biết của
nhiều người Việt thế hệ đầu tiên ở hải ngoại. Câu trả lời có tính cách
khoa học và hiệu quả nhất là: Bố nó nhỏ người th́ nó phải nhỏ, hơn nửa đứa
roi roi người thông minh hơn đứa béo ph́. Các bà lấy làm an ủi với danh
từ thông minh nên thôi hỏi nhưng đây là sự thật.

Mục đích bài này là cho bệnh nhân và mọi người hiểu rỏ để điều
trị đúng và ngăn ngừa bệnh tiểu đường xăy ra.
Chưa có
một tổ chức nào giáo dục nói tiếng Việt trong cộng đồng người Canadian gốc
Việt tại Canada. Tôi cố gắng làm công việc này với khả năng giới hạn của
tôi với hy vọng nó giúp cho sự trị liệu tiểu đường loại 2 dể dàng hơn.
Trang bị kiến thức về bệnh này cho mọi người là một phần của trị liệu tiểu
đường loại 2.
Pḥng bệnh hơn chưa bệnh!
TẠI SAO
GỌI LÀ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG?
Đường (glucose) thuộc vào nhóm chất ngọt hay chất bột (carbohydrate) là
một trong những chất dinh dưỡng căn bản cho sự sống của con người, đặc
biệt cho nảo. Không ai có thể sống thiếu đường được. Cơ thể con người
được cung cấp đường bằng 3 nguồn:
-
Đường có
trong thực phẫm và được ăn vào trong những bửa ăn, đi vào dạ dày rồi đến
ruột non để rồi hấp thu vào máu.
-
Đường đi qua
gan và được biến thành dạng dự trử (glycogen) nếu cơ thể không thể dùng
hết liền một lúc sau khi ăn. Khi đói, gan đưa đường vào máu (glycogenolysis)
để cho cơ thể xữ dụng.
-
Khi thiếu
đường, gan và thận có thể tạo ra (gluconeogenesis) đường từ những chất
dinh dưỡng căn bản khác như mỡ (lipids) hay đạm (proteins) thành đường
qua những giai đoạn biến dưỡng phức tạp.


Bệnh tiểu đường như tên gọi của bệnh rất đơn giản và dể hiểu. Người bệnh
thải đường (glucose) từ máu vào nước tiểu khi đường trong máu lên quá cao.
Sự kiện này chỉ xảy ra ở người bệnh. Tất cả mọi người đều có đường trong
máu. V́ đường là chất bổ cho cơ thể và theo máu đến các cơ quan để biến
thành năng lượng (calories) cho những hoạt động của cơ thể. B́nh thường ở
một người khoẻ mạnh, đường trong máu từ 3,6-5,6 mmol/L (70-100 mg/dL của
đơn vị Mỹ).
Nếu lượng đường trong máu cao hơn mức độ này, thận sẻ thải ra
trong nước tiểu. Khi sự kiện này xăy ra, bệnh tiểu đường bắt đầu phát
triển. Có một ngoại lệ. Sau khi ăn no, đường trong máu gia tăng nhanh
chóng. Cơ thể chưa kịp đưa đường vào trong gan, bắp thịt, và mô mỡ, đường
vào trong nước tiểu. Sau khi ăn, cơ thể vận chuyển đường vào trong các cơ
quan vừa kể với sự giúp đở của insulin. Đường trong máu sẻ trở lại b́nh
thường.
Vậy insulin là ǵ? Như tôi đă tŕnh bày, insulin
là một kích thích tố (hormone). Nó là một phân tử (molecule) của chất đạm
(polypeptide/protein- nếu chất đạm phân nhỏ ra thành amino acids). Nó gồm
56 amino acids chia làm 2 dây chuổi kết nối lại với nhau bởi những cầu nối
disulfide. Insulin được tiết ra bởi tế bào bê-ta (beta cells) của lá miá
hay tuyến tụy (pancreas). Các tế bào bê-ta có những bộ phận căm nhận
(receptors) sự thay đổi của đường, chất đạm, và mỡ trong máu. Nếu những
chất này tăng cao trong máu, tế bào bê-ta sẻ ghi nhận ngay và bài tiết ra
chất insulin, đưa các chất này cất vào trong gan, bắp thịt và mô mỡ
(adipose tissue-fat). Ngược lại, glucagon cũng là một kích thích
tố được tiết ra từ tuyến tụy nhưng có hoạt động nghịch chiều với insulin.
Hai kích thích tố này giúp cơ thể của chúng ta điều ḥa chất đường trong
cơ thể.
Khi đường trong máu lên cao thường xuyên quá, bộ phận căm nhận
về đường trong máu (glucose receptor) bị hư. Do đó, insulin không được
bài tiết ra nhiều khi ta ăn chất ngọt. Đây là một trong những thiếu sót
gây ra bệnh tiểu đường loại 2
PHẢI CHĂNG CHỈ CÓ MỘT LOẠI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG?
Có nhiều loại bệnh tiểu
đường khác nhau nhưng có 3 loại thường xăy ra. Đó là:
·
Bệnh tiểu
đường loại 1
·
Bệnh tiểu
đường loại 2
·
Bệnh tiểu
đường ở người đàn bà có thai
Tại sao phải phân loại bệnh tiểu đường?
Bệnh tiểu đường xảy ra bằng nhiều cách khác nhau. Tùy theo
nguyên nhân và hậu quả mà bệnh được điều trị khác nhau. Tôi sẻ bàn luận 3
loại tiểu đường thường gặp. Và những loại khác hiếm hơn, để cho các
chuyên gia bận tâm.
BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 1
Mọi người đều có một cơ
quan trong bụng gọi là tuyến tụy (pancreas). Tuyến tụy nằm duới dạ dày (bao
tử), và dính liền vào hành tá tràng (duodenum) bằng một ống ngoại tiết.
Tuyến tụy tiết ra nhiều loại phân hoá tố (enzymes) như pancreazyme… và
kích thích tố khác nhau như glucagon, insulin... Insulin vào trong máu và
làm giăm lượng đường trong máu bằng cách giúp đưa đường vào tích trử trong
gan, bắp thịt,và mỡ. Ngoài ra insulin c̣n chận đứng sự bài tiết đường từ
trong gan vào mạch máu (sự kiện này xảy ra một cách b́nh thường khi ta đói
giúp cơ thể ta có đường làm năng lượng để hoạt động). Sự tích trữ đường
dưới dạng glycogen. Khi ta vận động, bắp thịt dùng chất này biến thành
năng lượng (calories) để hoạt động. Khi đường trong máu giăm xuống vào
khoảng 4,0 mmol/L (80 mg/dL), chúng ta có căm giác đói bụng. Nếu không ăn
uống, bụng đói cồn cào, chóng mặt và xuất mồ hôi lạnh. Những triệu chứng
này thúc đẩy ta kiếm thức ăn.
V́ một nguyên do nào đó
như sự khiếm khuyết về di tuyền, nhiễm trùng, nhiễm siêu vi trùng, phản
ứng sai lầm về miển nhiễm (autoimmune diseases), hay uống rượu nhiều… làm
hư hoại một phần hay toàn diện số tế bào bêta (beta cells) của tuyến tụy.
Số lượng insulin tiết ra không đủ hoặc không có nữa để làm những chức năng
kể trên, đường trong máu sẻ lên cao. Muốn trị bệnh tiểu đường loại 1, ta
phải cung cấp một lượng insulin hàng ngày để bù đấp vào chổ thiếu.
Insulin là một loại chất đạm (protein) được khám phá ra và bào chế tại đại
học Toronto,thành phố Toronto tỉnh Ontario của Canada. Nên khi ta uống
vào bụng, insulin sẻ bị tiêu hoá và biến thành một chất khác không có chức
năng của nó. V́ thế, ta chỉ có một cách đưa thẳng vào trong tỉnh mạch (chỉ
xử dụng tại bệnh viện) hoặc chích vào dưới da. Hiện nay, người ta đă chế
tạo ra insulin xịt vào trong mũi hay miệng, và nó được hấp thu qua màng
nhày trong mũi hoặc miệng vào trong tỉnh mạch. Loại này hiện được xữ dụng
tại Mỹ. Sự hiệu qủa và biến chứng của đang được t́m hiểu bởi chính phủ
của Canada trước khi họ cho bán trên thị trường.
Có người sẻ hỏi: Vậy bệnh nhân sẻ phải chích bao lâu, và bệnh có
thể trị dứt được không? Đến thời điễm này, các bệnh nhân phải chích thuốc
suốt đời!. Tại thành phố Calgary thuộc tỉnh Alberta của Canada, các bác
sĩ đă nghiên cứu hơn 20 năm về cách ghép tế bào bêta vào gan. Kết qủa rất
khả quan, người bệnh không cần chích insulin mổi ngày nữa. Nhưng phương
pháp này chưa được hoàn hảo v́ người bệnh phải uống thuốc mổi ngày chống
lại cơ thể của người bệnh tiêu diệt những tế bào bêta mới này. Thuốc này
có nhiều phản ứng phụ có hại cho bệnh nhân. Mới đây, các nhà khoa học vừa
t́m ra cách chửa trị bệnh tiểu đường loại 1 bằng những tế bào nguyên thủy
(stem cells). Họ đưa những tế bào nguyên thủy vào cơ thể để chúng tái tạo
chức năng bài tiết insulin cho cơ thể. Hiện nay, phương pháp này đang
được kiểm chứng và đánh giá bởi các nhà khoa học. Phương pháp trị bệnh
bằng tế bào nguyên thủy được coi như là phương pháp lư tưởng hiện nay.
BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2
Khác với bệnh tiểu đường
loại 1, bệnh nhân tiểu đường loại 2 không thiếu insulin vào lúc khởi bệnh.
Insulin không làm việc hửu hiệu như người b́nh thường hay người bệnh tiểu
đường loại 1 v́ có sự đề kháng insulin ở gan, bắp thịt, và mỡ. Cho nên cơ
thể sản xuất insulin nhiều hơn để bù đấp. Insulin trong máu càng cao th́
sự đề kháng insulin nhiều hơn. Đến một lúc nào đó, sự bài tiết insulin từ
tuyến tụy giăm dần tơí một mức mà cơ thể không thể biến dưỡng đường hửu
hiệu. Bệnh tiểu đường loại 2 bộc phát toàn diện. Các nhà khoa học phân ra
làm 2 giai đoạn:
1.
Giai đoạn khởi đầu
(impaired glucose tolerance):
trong giai đoạn này, bệnh nhân có đường trong máu gia tăng cao sau bửa ăn
và kéo dài hơn 2 giờ sau khi ăn. Trong giai đoạn này, người bệnh có thể
bị nhồi máu cơ tim (heart attack/myocardial infarction), tai biến mạch máu
nảo (stroke), và những biến chứng khác của bệnh. Đứng về phương diện trị
liệu, tôi gọi là bệnh nhẹ.
2.
Giai đoạn bộc phát
toàn diện (diabetes mellitus type 2):
trong giai đoạn này, đường trong máu lên cao trong lúc đói cũng như lúc
no. Bệnh tiến triển nhanh v́ sự phá hủy cơ thể khi đường lên cao. Đứng
về phương diện trị liệu, tôi gọi giai đoạn này là bệnh bộc phát toàn diện
BỆNH TIỂU ĐƯỜNG Ở NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ THAI
Những người này đă có sự đề kháng insulin và sai lạc về biến dưỡng,
hoặc có sự hư hại của tế bào bêta nhưng c̣n rất nhẹ. Trước khi mang thai,
cơ thể họ có thể bù đấp (compensate) những sai lạc này. Khi mang thai, cơ
thể của họ thay đổi rất nhiều và mang thêm gánh nặng nuôi dưỡng bào thai.
Do đó, bệnh tiểu đường bộc phát. Khi sanh xong, gánh nặng này được giải
quyết và cơ thể của họ trở lại b́nh thường. Sau này, họ sẻ mang bệnh tiểu
đường loại 1 hoặc loại 2. Nếu biết ngăn ngừa, đa số những người này sẻ
không có bệnh bộc phát.
TẠI SAO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2 LẠI XĂY RA?
Cách đây
hơn 50 năm (1947), 2 nhà khoa học người Canadian khám phá ra insulin tác
dụng trên cơ thể con người và các loài động vật cao cấp. Nó điều chỉnh
đường trong máu của cơ thể. Họ dùng insulin điều trị bệnh nhân với bệnh
tiểu đường. Họ nhận thấy rằng có 2 nhóm bệnh nhân phản ứng khác nhau.
-
Nhóm
thứ nhất có phản ứng thuận lợi. Đường trong máu của họ trở lại b́nh
thường. Những người này bị bệnh tiểu đường loại 1.
-
Nhóm
thứ 2 cần nhiều insulin hơn nhưng rất khó điều chỉnh lượng đường trong
máu. Họ bị bệnh tiểu đường loại 2.
Đến thập
niên 1960, người ta đo số lượng insulin trong máu những người bệnh tiểu
đường và nhận thấy:
-
Nhóm
thứ nhất thiếu insulin.
-
Nhóm
thứ 2 có số lượng insulin trong cơ thể b́nh thường hoặc cao hơn b́nh
thường. Cho nên danh từ “đề kháng insulin” dùng để chỉ cho những người
này.Thật ra bệnh tiểu đường loại 2 có 3 phần:
1. Sự đề
kháng insulin của những mô ngoại biên
2. Sự thiếu
sót trong sự bài tiết insulin
3. Sự gia
tăng đường tiết ra từ gan
Cuộc
khảo cứu của nhiều quốc gia vào năm 1987 và 1992 nhận thấy người thổ dân
(Indian) của bộ lạc Pima ở bờ sông Gila của tiểu bang Arizona, Mỹ có nhiều
người bị bệnh tiểu đường loại 2. Họ thường mập phệ và cơ thể họ có nhiều
insulin hơn b́nh thường. Trái lại, người ở đảo Mauritius (gần đảo
Madagasca) thuộc Phi Châu có tỉ lệ bệnh tiểu đường loại 2 rất thấp. Người
họ ốm và cao. Cơ thể của họ có ít insulin hơn người thổ dân Pima.
Ở những người bệnh tiểu đường loại 2, insulin làm việc không hữu hiệu.
Người ta nhận thấy rằng insulin vận chuyển đường ở những người này bị giăm
nhiều hơn người b́nh thường. Lúc c̣n trẻ, tuyến
tụy (pancreas) của người bệnh tiết ra nhiều insulin hơn người b́nh thường;
để bù đấp lại sự kém hiệu qủa của insulin trong cơ thể họ. Người bệnh bị
insulin kích thích nhiều hơn nên họ căm thấy đói nhiều hơn. Họ ăn nhiều
và trở nên mập. Đến một lúc nào đó, tế bào bêta mệt mỏi và không c̣n tiết
ra nhiều insulin nữa, lượng đường trong máu gia tăng. Họ có triệu chứng
của bệnh tiểu đường.
TẠI SAO
CÓ SỰ ĐỀ KHÁNG INSULIN?

Sự đề
kháng insulin bắt đầu ở sự vận chuyển đường (glucose) trong máu vào trong
các tế bào của bắp thịt, gan, và mỡ. Và khả năng dự trữ của các cơ quan
này giăm đi nhiều. Sự tổng hợp đường glucose thành đường glycogen bị giăm.
Ngoài ra sự ngăn chận đường từ trong gan đi vào trong máu của insulin bị
giăm hoặc mất đi. Những thay đổi này gây bởi sự đột biến (mutation) của
những nhân di truyền (genes) và môi trường mà họ sinh sống (như ăn nhiều
và thiếu vận động ở Mỹ và Canada). Để mọi người dể hiểu, tôi đưa ra một
câu chuyện “Cây Đa Củ, Bến Đ̣ Xưa” để cắt nghiả sự đề kháng insulin.
Insulin như là một ông lái đ̣ chở đường trên ḍng sông (mạch máu) có người
t́nh củ ở bến đ̣ xưa (nơi đường đi vào tế bào bắp thịt, gan, và mỡ). Ông
lái đ̣ chở đường đến bến đ̣ xưa. Nếu ông ta muốn cho bến đ̣ xưa mở cửa,
ông ta phải gỏ vào cây đa củ (chổ tiếp nhận insulin/insulin receptor) của
bến đ̣ xưa. Nhưng năm tháng trôi qua, ông lái đ̣ đă già hơn xưa và trí
nhớ kém đi. Người t́nh củ nơi bến đ̣ xưa đă sang ngang nên không c̣n ai
chờ đón ông tại đó. Đôi khi ông lăng trí và không gỏ đúng vào cây đa củ,
nên không ai mở cửa bến đ̣ cho ông. Khi ông gỏ đúng vào cửa, bến đ̣ mở
cửa nhưng không ai nhớ đến ông nên không gọi phu khuân vác đường
(GLUT-4/glucose transporter) ra giúp ông đem đường vào. Nếu ông gọi được
người th́ chỉ một vài phu khuân vác đường (GLUT-4) th́ các phu khuân vác
đường này cũng đă già nua và không giúp được ông lái đ̣ nhiều. Đường
không được chuyển vào kho kịp thời, đường ứ đọng trên ḍng sông (mạch máu).
(Phần
đọc thêm cho ai muốn t́m hiểu nhiều hơn)
Sự thay đổi về số lượng insulin được sản
xuất và sự kết hợp với insulin hoặc tín hiệu trong tế bào của bắp thịt,
gan, và mỡ, đều có khuynh hướng gây ra sự đề kháng insulin. Ví dụ như sự
thay đổi trong tín hiệu nhân di truyền (gene coding) của phân tử insulin
(insulin molecule) do những tế bào bêta bất thường tạo ra. Chúng làm giăm
khả năng hoạt động của insulin. Đây là những hội chứng đột biến của
insulin (mutant insulin syndromes). Chỉ cần một aminoacid của insulin,
dùng để tiếp xúc với màng tế bào, không bám chặt vào đó, sẻ làm mất khả
năng điều chỉnh đường trong máu.
Một ví dụ khác là kháng thể chống insulin (anti-insulin
antibodies) làm giăm số lượng hoạt động của insulin trong máu. Như trường
hợp người bệnh dùng insulin lấy từ heo và ḅ. Ngày nay, người ta tổng hợp
được phân tử insulin của người (Humulin, Novolin…) nên vấn đề này ít xăy
ra.
Những bất thường xảy ra trước hay ngay khi phân tử insulin bám
vào màng tế bào (pre-receptor). Những sai lạc thường gặp nhất là sự sai
lạc xăy ra sau khi insulin đă bám vào màng tế bào. Khi insulin đưa tín
hiệu vào nhưng tế bào không hiểu được. Hoặc sự vận chuyển đường vào trong
tế bào không hữu hiệu (sự giăm số phân tử GLUT-4/glucose transporter-4).
Sự đề kháng insulin có thể xảy ra do những kích thích tố
(hormones), đối kháng với insulin trong sự điều hành đường trong máu, được
sản xuất hoặc cung cấp quá nhiều: như cortisol, epinephrine, và kích thích
tố tăng trưởng (growth hormone). Những kích thích tố này được sản xuất
nhiều trong những bệnh acromegaly (bệnh to xương), Cushing’s syndrome (hội
chứng cường nang thượng thận), và pheochromocytoma có thể gây ra bệnh tiểu
đường loại 2.
Vai tṛ của GLUT-4 trong sự đề kháng insulin đă được quan sát và
được khảo cứu. Các nhà khoa học cắt nghiả được tại sao số lượng GLUT-4 bị
giăm. Hiện nay người ta đă chứng minh rằng sự đột biến của nhân di truyền
Calpain-10 làm giăm số Glut-4 và làm rối loạn chức năng của Glut-4. Nhưng
khi có sự co thắt cơ vân, Glut-4 đột nhiên xuất hiện và sắp hàng dọc theo
màng tế bào để mang đường vào trong cơ vân. Do đó, thể dục giúp cho gia
tăng sự hấp thu đường vào trong cơ vân.
Ngoài
ra, người ta c̣n thí nghiệm và quan sát rằng sự đề kháng insulin không chỉ
do di truyền mà ra. Có những yếu tố sau đây làm cho người ta có sự đề
kháng insulin nhưng là một loại không phải bẫm sinh mà là đề kháng insulin
mắc phải.
-
Acid mỡ
tự do (FFAs: Free Fatty Acids) trong máu lên cao: những người mập ở bụng
(h́nh trái táo), những acid mỡ tự do này thường được thủy phân và tung
ra trong máu. Chúng chui vào những tế bào của các mô, đặc biệt là trong
tế bào beta ngăn chận sự bài tiết insulin, và trong tế bào cơ vân làm
ngăn cản tín hiệu của insulin làm cản trở sự hấp thu đường vào cơ vân.
Người ta đă chứng minh điều này khi làm MRI (Magnetic Resonant Imaging)
những tế bào cơ vân và tế bào beta ở người bệnh tiểu đường loại 2 nhiều
hơn ở người b́nh thường.
-
Những
chất bài tiết của mô mỡ (adipokines), như leptin, resistin, và
adiponectin có ảnh hửong lên sự đề kháng insulin. Như leptin ảnh hưởng
lên những bộ căm nhận ở nảo (hypothalamus) là chúng ta có căm giác no.
Nếu thiếu chất này, chúng ta ăn không biết no và đưa đến mập phệ.
-
Chất
Peroxisome Proliferator-Activated ReceptorGamma (PPARγ)
liên quan đến sự thải ra những acid mỡ tự do như đă nêu trên. Do đó,
nếu kích động được chất này, nó sẻ làm giăm những acid mỡ tự do và giăm
sự đề kháng insulin mắc phải. Do đó, người ta đă bào chế thuốc như
Actos, Avandia để kích động chất này.
Tóm lại sự đề kháng insulin có 2 phần: bẫm sinh do di truyền thiếu sót và
mắc phải do 3 yếu tố vừa kể trên. Chúng ta có thể chinh phục những yếu tố
mắc phải bằng cách ăn uống và thể dục. Đây là trọng tâm của bài này.
Sau đây,
ta nên khảo sát thêm về vấn đề di truyền ở bệnh tiểu đường loại 2
Bệnh tiểu
đường loại 2 được gọi là hội chứng th́ đúng hơn v́ có nhiều thể bệnh tiểu
đường loại 2 khác nhau. Do đó, bác sỉ trị bệnh tiểu đường loại 2 phải
hiểu cơ chế bệnh lư và điều trị theo từng biến đổi của mổi người bệnh.
Trên phương diện tổng quát, cách điều trị giống nhau nhưng trên thực tế
chúng ta trị theo những đặc thù của người bệnh. Như tôi đă giới thiệu ở
lời mở đầu, nhân di truyền tác động qua lại với môi trường có thể gây ra
bệnh. Cho đến nay, người ta t́m ra nhiều những nhân di truyền trực tiếp
(monogenic form) hay gián tiếp (polygenic form). Bệnh đơn nhân di truyền
hiếm xăy ra nhưng nó quan trọng v́ giúp cho các nhà khoa học hiểu được
bệnh lư của tiểu đường loại 2. Đại
đa số những thể bệnh tiểu đường loại 2 gây ra bởi những thể đa nhân di
truyền (do nhiều nhân di truyền bị đột biến hợp lại và gây ra bệnh).
Môi trường ở đây là lối sống của người bệnh.
Sự
thay đổi di truyền có một đặc tính (monogenic form of diabetes) liên quan
đến
sự đề kháng insulin
chia ra những nhóm sau đây:
-
Nhóm
đột biến (mutations) của Những nhân di truyền tạo ra bộ phận căm ứng với
insulin (insulin receptor genes) bao gồm:
·
bệnh
kháng insulin loại A: có đề kháng insulin, acanthosis nigricans, và
hyperandronism.
·
bệnh
Leprechaunism có nhiều bất thường bao gồm thai nhi phát triển chậm trong
tử cung, đường máu quá thấp lúc đói, và chết trong ṿng 1-2 năm đầu của
cuộc đời.
·
hội chứng
Rabson-Mendenhall: short status, bụng lớn, và những bất thường của răng và
móng tay & chân do tuyến tùng quả ph́nh lớn
Những bất
thường về chức năng của những nhân di truyền tạo ra bộ phận căm nhận
insulin (insulin receptor genes):
·
Class 1:
giăm tốc độ tổng hợp bộ phận căm nhận (receptors) insulin trên màng tế bào
(decreasing the rate of receptor biosynthesis)
·
Class 2:
có sự ức chế của sự di chuyễn những bộ phận căm nhận insulin (insulin
receptors) đến màng ngoài tế bào (plasma membrane) của tế bào (transport
of receptors to the plasma membrane)
·
Class 3:
ái lực của insulin bám vào những bộ phận căm nhận (receptors) giăm do chức
năng bên trong (intrinsic function) của bộ phận căm nhận bị bất thường.
·
Class 4:
do những bộ phận căm nhận không được kích động (inactivated)
·
Class 5:
có sự gia tăng tốc độ thoái hóa của những bộ phận căm nhận (receptor
degradation)
-
Nhóm
lipoatrophic diabetes (bệnh ốm tiêu hết mỡ): Bệnh này có đặc tính là
thiếu lớp mở trong cơ thể, đề kháng insulin, và cao loại mở
triglycerides trong máu. Bệnh này có nhiều thể loại khác nhau:
face-sparing partial lipoatrophy (Dunnigan syndrome hoặc
Koberling-Dunnigan syndrome), một thể di truyền tính chủ (autosomal
dominant) gây bởi những đột biến của lamin A/C gene, và thể congenital
generalized lipodystrophy (Seip-Berardinelli syndrome) đây là một thể
autosomal recessive do những đột biến của 1-acyl-sn-glycerol-3-phosphate
acyltransferase-2 (AGPAT2) hoặc trong sản phẩm của Seipin gene.
-
Nhóm
đột biến trong nhân di truyền PPAR-γ (peroxisome proliferator-activated
receptor)
Sự
thay đổi một đặc tính di truyền (monogenic form of diabetes) có liên quan
đến sự sai lầm trong sự bài tiết insulin
chia ra làm nhiều nhóm:
-
Nhóm
đột biến về nhân di truyền mitochondria (mitochodrial gene mutations)
-
Những
bệnh tiểu đường loại 2 ở trẻ con và những người c̣n quá trẻ (MODY: Maturity-Onset
Diabetes of the Young) có 6 thể khác nhau:
-
MODY
1 do rối loạn của HNF-4α (hepatonuclear factor)
-
MODY
2 do rối loạn của glucokinase
-
MODY
3 do rối loạn HNF-1α
-
MODY
4 do rối loạn IPF-1β (insulin promoter factor)
-
MODY
5 do rối loạn HNF-1β
-
MODY
6 do rối loạn NeuroD1/Beta2 (Neurogenic differentiation 1/beta cell
E-box trans-activator 2)
Có hơn 70
đột biến liên quan đến insulin receptor gene gây ra đề kháng insulin
-
Ngoài ra có những thể loại tiểu đường loại 2 do sai lầm của nhiều nhân
di truyền trong một bệnh nhân (polygenic forms of type 2 diabetes).
Thường những bệnh nhân này do sự kết hợp với những yếu tố thuộc môi
trường sinh sống của bệnh nhân. Thể loại này rất phức tạp và thường xăy
ra nhất. Cho đến nay, những nhân di truyền này được t́m thấy có thiếu
sót là những nhân di truyền:
1.
Calpain-10: sự sai lạc của nhân di truyền này đưa đến sự đáp ứng
của tế bào beta với đường lượng trong máu lên cao giăm đi. Có nghiả là số
lượng insulin giăm đi. Ngoài ra, sự sai lạc Calpain-10 đưa đến sự giăm số
lượng Glut-4 dùng để chuyên chở đường vào trong tế bào cơ vân và làm rối
loạn chức năng của Glut-4.
2.
Kir6.2: sự sai lạc nhân di truyền này làm tăng rủi ro của tiểu
đường loại 2 nhưng không trực tiếp gây bệnh này.
3.
Peroxisome-Proliferator-Activated Receptor-γ là một chất điều hành
quan trọng mỡ và đường trong sự tự quân b́nh nội môi trường (homeostasis)
và giúp tế bào phát triển phân biệt (cell differentiation)
4.
Hepatocyte Nuclear Factor-4α,
5.
và Transcription Factor 7-like 2.
Có lẻ c̣n
nhiều nhân di truyền khác nửa. Hiện nay, các nhà khoa học vẩn tiếp tục
t́m hiểu những nhân di truyền nào khác ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh
tiểu đường và t́m hiểu rỏ ràng hơn những nhân di truyền mà họ đă chứng
minh được trong sự góp phần vào sự phát triển bệnh tiểu đường.
Tóm lại, những người bệnh tiểu đường loại 2 liên quan đến di truyền thường
có những người trong gia đ́nh hoặc họ hàng cũng có bệnh tiểu đường. Các
nhà khoa học t́m hiểu những sai lầm về di truyền kỷ càng và họ t́m cách
điều chỉnh những sai lầm này trong tương lai. Mới gần đây, có một số khoa
học gia dùng tế bào nguyên thủy (stem cell) điều chỉnh được những sai lầm
trên con chuột bị bệnh tiểu đường.
Những kiến thức trên đây tôi đơn giản hóa đi nhiều và hy vọng có nhiều
người hiểu được tầm quan trọng của chúng.
NHỮNG HẬU
QUẢ CỦA SỰ ĐỀ KHÁNG INSULIN?
Bệnh tiểu
đường loại 2 không xảy ra một cách đột ngột. Nó có một tiến tŕnh qua
nhiều năm tháng. Khởi đầu bằng sự đề kháng insulin. Người bệnh có được
sự đề kháng này bằng cách thừa hưởng di truyền hay mắc phải (ăn nhiều mà
không tập thể dục dưa đến sự mập phệ và sự đề kháng insulin). Có 25% dân
chúng có sự đề kháng insulin. Sự đề kháng này làm cho insulin không vận
chuyển đường trong máu b́nh thường. Cơ thể người bệnh kích động tuyến tụy
(pancreas) tiết ra nhiều insulin hơn để bù đấp. Insulin làm cho người
bệnh căm thấy đói hơn và ăn nhiều hơn (đưa đến mập phệ). Qua nhiều năm
tháng, những tế bào bêta của tuyến tụy kiệt quệ, và số lượng insulin được
tiết ra giăm rất nhiều so với lúc trước. Kết qủa là đường trong máu lên
quá cao và bệnh tiểu đường bộc phát toàn diện. Trong giai đoạn phát triển
bệnh tiểu đường loại 2 toàn diện, những triệu chứng xăy ra, người ta nhập
chung lại và gọi là HỘI CHỨNG BIẾN DƯỠNG
(Metabolic syndrome)
Hội chứng
biến dưỡng (metabolic syndrome) có những sai lầm về biến dưỡng ảnh hưỡng
đến tim mạch. Hội chứng này c̣n được gọi là hội chứng X (X syndrome) có
những bất thường như sau:
1/ Mập Phệ/Béo Ph́ (obesity):
Người ta căn cứ vào tỉ lệ của cân nặng
với chiều cao (BMI: Body Mass Index). Tỉ lệ này được nghiên cứu bởi người
da trắng gốc Âu châu. Nên khi áp dụng cho người Việt Nam không chính xác
lắm. Ví dụ BMI của người da trắng lư tưởng là từ 18,5 cho đến 25. Ở
người Việt Nam con số lư tưởng từ 18 cho đến 23 theo kinh nghiệm của tôi
và một số bác sỉ gia đ́nh và bác sỉ chuyên khoa về tiểu đường gốc Á châu
và Âu châu tại Vancouver. Canada. BMI từ 23 đến 28 ở người Việt Nam được
coi là mập (overweight). Người Việt Nam có BMI> 28 được coi là mập phệ
(obesity). Những người Việt có chiều cao lớn hơn 1,75 mét có thể dùng BMI
của người da trắng. Các nhà khoa học nghiên cứu về chứng mập phệ nhận
thấy nó liên quan đến bệnh động mạch vành tim (coronary artery diseases)
và biến dưỡng sai lầm của mỡ (dyslipidemia)


Các nhà khoa học nhận thấy rằng mập ở bụng (trái táo: android obesity) có
bệnh tiểu đường và cao mở (hypercholesterolemia) hơn người mập ở mông và
đùi (trái lê: gynoid obesity). V́ mở ở bụng dể bị phân tán (lipolysis) và
cho ra những acid mỡ tự do (free fatty acids). Những acid mỡ tự do này
vào trong máu đi đến bắp thịt và gan. Chúng cản trở sự vận chuyển đường
vào trong các cơ quan này. Ngoài ra, acid mỡ tự do bám vào màng tế bào
bêta và cản trở sư bài tiết insulin. Các chất dinh dưỡng sau khi được hấp
thu từ ruột vào trong máu sẻ được tích trữ trong các cơ quan nội tạng.
Gan sẻ biến một số chất dinh dưỡng này thành triglycerides và chứa trong
mỡ và bắp thịt như dạng năng lượng dự trữ. Khi cơ thể cần, triglycerides
sẻ được phân tán (lipolysis) ra thành acid mỡ tự do (free fatty acid) được
biến dưỡng trong tế bào. Ngoài ra mỡ tốt HDL (high density lipoprotein)
bị giăm đi đôi với sư gia tăng triglycerides. Do đó, nếu chúng ta muốn
ngăn chận sự cản trở vận chuyển đường của acid mỡ tự do, ta phải giăm mỡ
triglycerides trong máu nhanh bằng thuốc.
Nguyên nhân những người mập phệ khó giăm cân do những cơ chế sau đây:
người ta nhận thấy rằng khi insulin làm việc không hữu hiệu (sự đề kháng
insulin), tuyến tụy tiết ra nhiều insulin hơn để đền bù. Nhiều insulin
làm kích thích cơ thể tiết ra nhiều adrenalin và làm người bệnh căm thấy
đói nhiều hơn và ăn nhiều hơn. Adrenalin làm insulin càng kém hiệu qủa
hơn. Càng ăn nhiều, số lượng đường vào trong máu cao hơn. Cơ thể lại cần
nhiều insulin hơn, tuyến tụy lại tiết ra nhiều insulin hơn nữa. Người
bệnh lại càng mập hơn. Cái ṿng lẩn quẩn càng lúc càng nặng. Đến một lúc
nào đó, lá miá kiệt quệ và giăm sư bài tiết nhiều. Bệnh nhân có bệnh tiểu
đường loại 2 bộc phát toàn diện.
2/Mỡ trong máu cao (Lipid abnormality):

Các nhà khoa học nhận thấy rằng sự thay đổi thành phần của lipoproteins đi
đôi với sự đề kháng insulin và làm tăng cơ hội bị bệnh tim mạch. Như tôi
đă đề cập trên, có sự gia tăng triglycerides (mỡ xấu) đi đôi với sự giăm
mỡ tốt HDL. HDL có chức năng bảo vệ tim. Sự thay đổi này xăy ra nhiều
năm trước khi có sự thay đổi đường trong máu (đường trong máu lên cao).
Mặc dù mỡ xấu LDL (low density lipoprotein) không thay đổi nhưng thành
phần của nó thay đổi. Đó là sự tăng lipoprotein Apo B có phân tử nhỏ dể
đóng vào thành mạch máu gây ra nhồi máu cơ tim (heart attack) và tai biến
mạch máu nảo (stroke). Và sự giăm lipoprotein Apo A1 có dạng phân tử lớn
và không gây những nguy hiễm về tim mạch. Người ta chứng minh rằng sự đề
kháng insulin trong tế bào gan và bắp thịt tạo ra sự gia tăng các loại mỡ
xấu (bad cholesterols) trong máu và tạo ra bệnh chai cứng mạch máu
(atherosclerosis).
3/ Chức năng của tế bào nội mạc trong thành mạch máu (endothelial
function)- Cao áp huyết:
Các tế bào nội mạc trong thành mạch máu tiết ra hóa chất làm co và dản
mạch máu. Những chất làm dản mạch như nitric oxide (NO), prostacyclin,
bradykinin và endothelium-derived hyperpolarization factor. Những chất co
mạch gồm: endothelin, superoxide anion, endothelium-derided constricting
factor, angiotensin II sản xuất tại chổ, và thromboxane. Những chất này
không những điều khiển sự co dản mạch, chúng c̣n ảnh hưởng đến sự đóng
cholesterol lên thành mạch máu. Những tác dụng của chúng làm tiểu cầu
dính lại (platelet adhesion), co lại (aggregation), và tạo ra cục máu đông
(thrombogenicity). Nếu có sự hư hại của tế bào trong thành mạch máu sẻ
đưa đến sự sản xuất ra nhiều chất co mạch. Những tiểu huyết cầu
(platelets) bám vào những chổ hư hại và tiết ra những chất lôi cuốn các tế
bào máu khác (cytokines), những yếu tố tăng trưởng, và có thể tạo ra phản
ứng viêm sưng (inflammatory reaction). Sau khi phản ứng viêm sưng bắt đầu,
LDL cholesterol bám trực tiếp vào thành mạch máu và tạo ra những tế bào
ph́nh lớn (foam cells). Những tế bào ph́nh lớn này là thực bào
(macrophages) chứa đầy mỡ. Kết quả là tạo ra những vết mỡ trên thành mạch
máu. Cuối cùng, những tế bào cơ trơn (smooth muscle cells) của thành mạch
máu và sinh sôi nảy nở. Chúng gia tăng số lượng hợp chất ngoài tế bào
(extra cellular matrix proteins) và tạo ra những chổ chai cứng của mạch
máu (organized atheroslerosis plaques).
Ngoài ra insulin có chức năng làm mạch máu dản nở. Khi có sự đề kháng
insulin, đặc tính này mất đi. Sự co mạch làm cho bề mặt mạch máu tiếp xúc
với tế bào bắp thịt giăm đi. Do đó, cơ hội đường đi vào bắp thịt cũng bị
giăm. Như một cánh cửa mở lớn, gió lùa vào nhiều hơn cánh cửa khép bớt
lại.
4/ Sự gia tăng chức năng đông máu:
Như đă tŕnh bày trên về cơ chế đông máu. Những người bệnh tiểu đường
loại 2 có sự đề kháng insulin đưa đến sự đông máu trong mạch nhiều hơn
b́nh thường. Sự đông máu ở nảo đưa đến tắc nghẻn mạch máu nảo và có tai
biến mạch máu nảo (stroke). Và tương tự, sự đông máu xảy ra ở tim đưa đến
nhồi máu cơ tim (heart attack/myocardial infarction). Ở những người mập
phệ thường bị đông máu trong bắp chân (calf). Sự kiện này là sự đông máu
trong các tỉnh mạch nằm sâu trong bắp thịt (deep vein thrombosis-DVT).
Những cục máu đông theo tỉnh mạch về tim rồi lên phổi (thromboembolism)
tạo ra triệu chứng khó thở v́ thiếu dưỡng khí. Bệnh nhân sẻ chết nếu
không được điều trị kịp thời.
Cho nên 4 hội chứng: Mập phệ, Mỡ trong máu cao, Cao huyết áp, và Đông máu
trong mạch là 4 hội chứng tử vong (deadly quartets). Mập phệ, mỡ trong
máu cao, và cao huyết áp hợp lại thành hội chứng biến dưỡng (metabolic
syndrome). Hội chứng này là giai đoạn chuyển tiếp giữa sự đề kháng
insulin và bệnh tiểu đường loại 2 bộc phát toàn diện. Ở giai đoạn chuyển
tiếp này, nếu ta chửa trị đúng cách, bệnh tiểu đường loại 2 sẻ không xảy
ra. Chửa trị hội chứng biến dưỡng chỉ cần thay đổi cách sống:
-
Ăn ít,
ăn nhiều lần (ăn 6 lần/ngày), tránh mỡ và những thức ăn quá ngọt
-
Tập thể
dục, thể thao ít nhất là 1 giờ mổi ngày. Gia tăng hoạt động bằng tay
chân.
-
Nếu cần,
dùng thuốc giăm sự đề kháng insulin (thuốc hạ mỡ và insulin sensitizers)
trong 3-6 tháng để cho cơ thể đáp ứng với thể dục thể thao. Sau đó,
bệnh nhân có thể ngưng thuốc và tiếp tục cách ăn uống & thể dục thôi.
Nếu chờ
đến lúc tiểu đường loại 2 phát triển toàn diện, chúng ta phải uống thuốc
suốt đời.
NHỮNG
NGƯỜI NĀO CÓ THỂ CÓ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2 ?
Từ năm 1988-1994, số người bệnh tiểu đường trên 20 tuổi ở Mỹ & Canada là
7,8% dân số. Có nghiả là cứ 100 người dân, có 7.8 % người mắc bệnh. Có
hơn 2 triệu người Canada thuộc mọi chủng tộc bị bệnh tiểu đường hiện nay.
Cứ hàng năm có thêm 80 ngàn người mắc bệnh này được chẩn đoán.
Bệnh tiểu đường ở người Á Châu và những ḥn đảo trong biển Thái B́nh Dương
sống tại Mỹ có khuynh hướng mắc bệnh cao hơn người da trắng. Như trong
lời mở đầu, tôi đă đề cập là thực phẫm và hoạt động của người Việt đă thay
đổi những nhân di truyền ảnh hưởng đến bệnh tiểu đường sau 10 ngàn năm.
Do sự phát minh về trồng trọt lúa gạo, người Việt và người Hoa đă thay đổi
thực phẫm hàng ngày- ăn nhiều chất bột và rau, trái cây. Đến sống tại Bắc
Mỹ, chúng ta ăn nhiều hơn, nhất là cá và thịt. Hơn nửa, chúng ta không
hoạt động nhiều như ở quê nhà.
Người thổ dân ở Bắc Mỹ có tỉ lệ tiểu đường loại 2 cao nhất. V́ họ thay
đổi lối sống. Từ hoạt động bằng tay chân nhiều, họ sống theo lối sống của
người Âu Châu vào đây hơn 200 năm, họ ít hoạt động và ăn nhiều.
v
Bệnh tiểu
đường loại 1 xảy ra ở bất cứ tầng lớp xă hội nào.
v
Bệnh tiểu
đường loại 2 xảy ra ở những người nghèo và có tŕnh độ học vấn thấp nhiều
hơn.
* 40% bệnh tiểu đường loại 2 xảy ra ở người học vấn
trung học hay thấp hơn.
* 33% ở gia đ́nh có lợi tức thấp hơn 40 ngàn đô mổi năm.
* 21% có tŕnh độ đại học
* 16% có lợi tức cao hơn 40 ngàn đô mổi năm.
NHỮNG BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2
Nếu
bệnh nhân không theo lời dặn của bác sỉ hay bác sỉ không điều trị đúng mức,
biến chứng sẻ xảy ra. Bệnh không xảy ra đột ngột mà chúng kéo dài nhiều
năm tháng một cách âm thầm trước khi biến chứng xăy ra.
B́nh
thường đường trong máu lên cao ngay sau khi ăn. Nhưng sau 2 giờ, lượng
đường trong máu trở lại b́nh thường. Ở người bệnh tiểu đường loại 2, khởi
đầu đường trong máu lên cao hơn mức độ b́nh thường sau khi ăn 2 giờ.
Trong giai đoạn này, tôi gọi là bệnh nhẹ (glucose tolerant impairment).
Tôi không gọi danh từ khác v́ ở giai đoạn này người bệnh đă bắt đầu có
những biến chứng. Mổi lần thời gian đường lên cao kéo dài, là mổi lần các
cơ quan nội tạng bị phá hoại dần. Ta gọi sự hư hoại nặng là biến chứng
của bệnh. Trước khi người bác sỉ chẩn đoán bệnh tiểu đường, người bệnh đă
có biến chứng rồi. Ư kiến của tôi là các bác sỉ và bệnh nhân nên thay đổi
cái thái độ của ḿnh đối với bệnh này. Vào giai đoạn này, chúng ta có thể
chửa được và bệnh nhân có thể không cần uống thuốc lâu dài. Nếu chờ đến
lúc bệnh bộc phát toàn diện, bệnh nhân đă có biến chứng, đưa đến tật
nguyền hay mất mạng rồi. Để chẩn đoán sớm, ta dựa vào lượng đường trong
máu sau khi ăn 2 giờ. Nếu đường trong máu lên cao hơn 5.6 mmol/L (100 mg/dL),
chúng ta phải điều trị liền. Điều trị này có nghiả là người bệnh phải
thay đổi lối sống về ăn uống và tập thể dục, thể thao và theo dỏi định kỳ
để điều trị kịp thời những nguy cơ sắp xăy ra. Ngoài ra mỡ trong máu lên
cao nhất là mỡ triglycerides lên cao. Nó báo hiệu bệnh tiểu đường sẻ xăy
ra trong ṿng 5-8 năm.
Đối với bệnh nhân, những triệu chứng như lên cân nhanh, mệt mỏi thường
xuyên là những báo hiệu bệnh tiểu đường sắp sửa xăy ra. Đây là lúc phải
đi gặp bác sỉ của họ. V́ những biến chứng của bệnh tiểu đường loại 2 rất
là trầm trọng và có thể đưa đến cái chết. Bệnh tiểu đường là một trong
những nguyên nhân đưa đến tử vong đúng hàng đầu tại Mỹ và Canada. Năm
1994, bệnh tiểu đường đứng hàng thứ 7 của tổng số người chết tại đất Bắc
Mỹ này:
-
Đứng
hàng thứ 7 tử vong của người da trắng, da đen, người gốc Hoa & Phi Luật
Tân
-
Đứng
hàng thứ 6 tử vong của người gốc Nhật
-
Đứng
hàng thứ 5 tử vong ở người dân Hawaiins
-
Và đứng
hàng thứ 4 tử vong ở người thổ dân (Indian)
Trong các giống dân, đàn bà chết nhiều hơn đàn ông. Trong bệnh tiểu đường
loại 2, biến chứng về tim như nhồi máu cơ tim (heart attack) chiếm 40% của
tổng số các trường hợp nhồi máu cơ tim. Biến chứng tai biến mạch máu nảo
và nhồi máu cơ tim của bệnh tiểu đường loại 2 chiếm 65% các trường hợp của
bệnh về tim mạch. 80% những người với bệnh tiểu đường loại 2 chết v́ bị
nhồi máu cơ tim. Đó là lư do tại sao tất cả những người bị tiểu đường
loại 2 nên kiên ăn chất dầu mỡ hay những thức ăn có nhiều mỡ (cholesterol)
và uống thuốc hạ mỡ máu.
Người bệnh tiểu đường phát ra ở tuổi trung niên sẻ giăm thọ 5-10 năm nếu
được chạy chửa tốt. Nếu bệnh phát ra càng về già th́ sự giăm tuổi thọ
càng ít, khi điều trị tốt.
Cơ chế bệnh tiểu đường gây ra những biến chứng:
Như tôi
đă tŕnh bày trong các câu hỏi khác. Tôi có thể lập lại tại sao bệnh tiểu
đường lại gây ra biến chứng. Tôi có thể tóm tắc nguồn gốc của biến chứng
bắt đầu đường và mở cao theo những giải thích sau cho những ai muốn t́m
hiểu sâu hơn.

Mỡ trong máu cao (Lipid abnormality):
Các nhà
khoa học nhận thấy rằng sự thay đổi thành phần của lipoproteins đi đôi với
sự đề kháng insulin và làm tăng cơ hội bị bệnh tim mạch. Như tôi đă đề
cập trên, có sự gia tăng triglycerides (mỡ xấu) đi đôi với sự giăm mỡ tốt
HDL. HDL có chức năng bảo vệ tim. Sự thay đổi này xăy ra nhiều năm trước
khi có sự thay đổi đường trong máu (đường trong máu lên cao). Mặc dù mỡ
xấu LDL (low density lipoprotein) không thay đổi nhưng thành phần của nó
thay đổi. Đó là sự tăng lipoprotein Apo B có phân tử nhỏ dể đóng vào
thành mạch máu gây ra nhồi máu cơ tim (heart attack) và tai biến mạch máu
nảo (stroke). Và sự giăm lipoprotein Apo A1 có dạng phân tử lớn và không
gây những nguy hiễm về tim mạch. Người ta cho rằng sự đề kháng insulin
trong tế bào gan và bắp thịt tạo ra sự gia tăng các loại mỡ xấu (bad
cholesterols) trong máu và tạo ra bệnh chai cứng mạch máu
(atherosclerosis)
Chức năng của tế bào trong thành mạch máu (endothelial function)- Cao áp
huyết:
Các tế bào trong thành mạch máu tiết ra hóa chất làm co và dản mạch máu.
Những chất làm dản mạch như nitric oxide (NO), prostacyclin, bradykinin và
endothelium-derived hyperpolarization factor. Những chất co mạch gồm:
endothelin, superoxide anion, endothelium-derided constricting factor,
angiotensin II sản xuất tại chổ, và thromboxane. Những chất này không
những điều khiển sự co dản mạch, chúng c̣n ảnh hưởng đến sự đóng
cholesterol lên thành mạch máu. Những tác dụng của chúng làm tiểu cầu
dính lại (platelet adhesion), co lại (aggregation), và tạo ra cục máu đông
(thrombogenicity). Nếu có sự hư hại của tế bào trong thành mạch máu sẻ
đưa đến sự sản xuất ra nhiều chất co mạch. Những tiểu huyết cầu
(platelets) bám vào những chổ hư hại và tiết ra những chất lôi cuốn các tế
bào máu khác (cytokines), những yếu tố tăng trưởng, và có thể tạo ra phản
ứng viêm sưng (inflammatory reaction). Sau khi phản ứng viêm sưng bắt đầu,
LDL cholesterol bám trực tiếp vào thành mạch máu và tạo ra những tế bào
ph́nh lớn (foam cells). Nhũng tế bào ph́nh lớn này là thực bào
(macrophages) chứa đầy mỡ. Kết quả là tạo ra những vết mỡ trên thành mạch
máu. Cuối cùng, những tế bào cơ trơn (smooth muscle cells) của thành mạch
máu và sinh sôi nảy nở. Chúng gia tăng số lượng hợp chất ngoài tế bào
(extra cellular matrix proteins) và tạo ra những chổ chai cứng của mạch
máu (organized atheroslerosis plaques).
Sự gia tăng chức năng đông máu:
Như đă tŕnh bày trên về cơ chế đông máu. Những người bệnh tiểu đường
loại 2 có sự đề kháng insulin đưa đến sự đông máu trong mạch nhiều hơn
b́nh thường. Sự đông máu ở nảo đua đến tắc nghẻn mạch máu nảo và có tai
biến mạch máu nảo (stroke). Và tương tự, sự đông máu xảy ra ở tim đưa đến
nhồi máu cơ tim (heart attack/myocardial infarction). Ở những người mập
phệ thường bị đông máu trong bắp chân (calf). Sự kiện này là sự đông máu
trong các tỉnh mạchnằm sâu trong bắp thịt (deep vein thrombosis-DVT).
Những cục máu đông theo tỉnh mạch về tim rồi lên phổi (thromboembolism)
tạo ra triệu chứng khó thở v́ thiếu dưỡng khí. Bệnh nhân sẻ chết nếu
không được điều trị kịp thời.
Tóm lại, đường trong máu lên cao phá hư thành mạch máu, mỡ đóng vào thành
mạch cộng với sự gia tăng đông máu. Các mạch máu nhỏ cũng như mạch máu
lớn bị hư hại. Từ đó biến chứng phát sinh.
1/ Biến chứng ở mắt:


Mờ mắt và
mù loà là những biến chứng thường xăy ra ở người bệnh tiểu đường.
-
Biến
chứng ở thủy tinh thể (vitreous) đưa đến chứng cườm xanh (vitreous
hemorrhage) có thể đưa đến mù loà.
-
Biến
chứng ở vơng mạc (retina) làm xuất huyết (bleeding), và tróc vơng mạc do
xuất huyết (retina detachment), và những mạch máu mới xuất hiện nhiều
làm mù mắt (neovascularization) và cũng đưa đến mù loà
-
Biến
chứng ở con ngươi (iris) do những mạch máu mọc nhiều (neovascularization)
nhưng thiếu dưỡng khí (oxygen)
Thường
những biến chứng ở mắt xuất hiện trong ṿng 5 năm nếu bệnh không được điều
trị.
2/ Biến chứng ở thận:

Bệnh tiểu đường loại 2 gây ra 60% của tất cả các trường hợp suy thận
(kidney failure) và cần phải được lọc máu (kidney dialysis). Ghép thận
(kidney transplant) do bệnh tiểu đường đứng hàng đầu chiếm tổng số 40% các
trường hợp. Biến chứng này xăy ra nhiều ở da đen và da màu. Ở bệnh tiểu
đường loại 1, chúng ta sẻ thấy 5 giai đoạn diển biến đi đến suy thận:
-
Thận
lọc rất nhanh (hyperfiltration) và ph́nh lớn lên.
-
Chức
năng thận bắt đầu yếu dần nhưng vẩn c̣n làm việc b́nh thường. Serum
creatine bắt đầu đi lên nhưng vẩn c̣n trong giới hạn b́nh thường. Trong
giai đoạn này, bệnh nhân tập thể dục sẻ thấy một ít microalbumin xuất
hiện trong nước tiểu. Ở giai đoạn này, màng đáy (basement membrane) của
bộ phận lọc (glomerules) của thận bắt đầu có dấu hiệu hư hỏng. Nó xăy
ra từ 18-24 tháng sau khi bệnh tiểu đường xuất hiện, và kéo dài từ 4-15
năm.
-
Trong
giai đoạn này, thận thải ra microalbumin trong nước tiểu từ 20-200 μg
cho mổi phút. Thường xuất hiện khoảng 5 năm sau khi bệnh phát ra. Chức
năng của thận bắt đầu giăm trầm trọng. Đây là dấu hiệu xấu.
-
Xăy ra
sau khi bệnh xuất hiện khoảng 15-20 năm. Thận thải ra nhiều chất đạm (macroalbumin),
nhiều hơn 0.3 g/L nước tiểu. Và chức năng thận giăm rất nhiều. Sự lọc
nước tiểu của thận giăm 1 mL trong 1 phút mổi tháng so với thận lúc c̣n
b́nh thường. Khi thận thải ra trong nước tiểu >3g/L, hội chứng phù thận
(nephrotic syndrome) bắt đầu xuất hiện. Chức năng của thận trở nên tệ.
-
Đây là
giai đoạn cuối cùng của hư thận (end-stage renal failure) xảy ra vào
khoảng 20-30 năm sau khi bệnh tiểu đường xuất hiện. Thận không c̣n làm
việc được nửa. Bệnh nhân phải đi vào bệnh viện lọc máu thận (kidney
dialysis) và chờ thay thận (kidney transplant)
Đây là 5
giai đoạn của hư thận thấy được trong bệnh tiểu đường loại 1. Bệnh tiểu
đường loại 2 cũng giống như vậy nhưng khi bác sỉ chẩn đoán bệnh nhân có
tiểu đường loại 2 th́ bệnh nhân đă có thận hư đến giai đoạn 3. V́ bệnh
tiểu đường loại 2 xăy ra âm thầm và những tiêu chuẩn các bác sỉ hiện nay
dùng để chẩn đoán quá lổi thời. Chúng ta phải theo dỏi và điều trị ngay
khi người bệnh bắt đầu lên cân và mỡ trong máu lên cao nhất là mỡ
triglycerides. Đây cũng là lư do tại sao tôi bỏ công ra để viết bài này.
3/ Biến chứng ở tim và mạch máu:

Thường bệnh nhân đến với bác sỉ là những triệu chứng thiếu máu cơ tim
(ischemic heart disease), khó thở do suy tim (heart failure), tai biến
mạch máu nảo (stroke), hoặc chân bị lở không lành, và các vị bác sỉ phát
giác ra bệnh nhân của ḿnh có tiểu đường loại 2.
Người bệnh tiểu đường loại 2 có cơ hội bị bệnh về tim 2-4 lần người b́nh
thường. Nếu họ hút thuốc th́ con số này sẻ lên đến 10 lần nhiều hơn. V́
thế, việc bỏ thuốc lá rất là quan trọng. Tôi thường dùng những danh từ
mạnh mẻ để nói với bệnh nhân tiểu đường loại 2 là
“ông hay bà nếu muốn sống phải ngừng
hút thuốc ngay”.
Biến chứng này xảy ra sau khi mạch máu ở tim hay động mạch cổ (carotid
arteries) hay chân tay bị ngẻn đến 90%, triệu chứng mới bắt đầu xuất hiện:
-
Ở tim:
đau ngực (chest pain) kèm theo khó thở (short of breath). Người bệnh có
căm giác như có một người nặng 500 cân (lbs.) ngồi lên trên ngực của
ḿnh. Đau có thể lan lên đến vai trái và cổ (left shoulder and neck).
Đau lan xuống tay trái. Đó là triệu chứng thiếu máu cơ tim (ischemic
heart/angina). Nếu triệu chứng kéo dài hơn 20 phút, bệnh nhân bị nhồi
máu cơ tim (heart attack/myocardial infarction) và đua đến trụy tim mạch
(cardiovascular collapse). Bệnh nhân chết nếu không điều trị kịp thời.
Bệnh này nhiều nhất ở người trẻ tuổi (dưới 65 tuổi). Từ 18-44 tuổi có
biến chứng tim nhiều hơn người b́nh thường 4 lần. Từ 45-64 tuổi co biến
chứng tim 3 lần nhiều hơn người b́nh thường. 65 tuổi hay lớn hơn có
biến chứng tim 2 lần nhiều hơn người b́nh thường.
-
Tai biến mạch máu nảo (stroke):

thường
xảy ra ở người bệnh tiểu đường lớn hơn 65 tuổi. Chiếm tỉ lệ 9% của tất cả
các người bị bệnh tiểu đường. Ở lứa tuổi 45-64 tuổi, người bị bệnh tiểu
đường có biến chứng này nhiều hơn người b́nh thường cùng lứa tuổi 5 lần.
Biến chứng này do mỡ đọng trong thành mạch máu nảo. Những mănh vở của lớp
mỡ này tạo ra sự tắc nghẻn mạch máu. Hoặc thành mạch máu quá cứng dể bị
vở và gây ra xuất huyết trong nảo. Người Việt và người Hoa (chinese
origin) thường bị chứng xuất huyết nảo nhiều hơn là bị tắc nghẻn mạch máu
(hemorrhagic stroke>infarct stroke). Để ngừa biến chứng này, thuốc hạ mở
(statin: Lipitor, Zōcor, Crestor…) và aspirin với liều thấp (81 mg mổi
ngày) rất hửu hiệu. Ngoài ra những bất thường như dị dạng (malformation)
của mạch máu nảo cũng gây ra nhiều tai biến mạch máu nảo. Cho nên chưa có
biện pháp ngăn ngừa chúng hửu hiệu 100%.
-
Ở chân và tay:
đauchân hoặc tay khi làm việc hay đi bộ. Nếu nghỉ ngơi, sự đau đớn sẻ
thuyên giăm (claudication). Nặng hơn nửa, chân hay tay bị lở loét và
thúi (gangrene). Đến giai đoạn này phải cưa chân hay tay. Biến chứng
tim mạch xảy ra rất nhanh nếu bệnh nhân hút thuốc. Bệnh lở loét chân
chiếm 15% số người bệnh tiểu đường trong suốt cuộc đời của họ. 6-43%
người bệnh tiểu đường bị cưa chân. 55% người bệnh tiểu đường bị cưa
chân xảy ra ở người lớn hơn 65 tuổi.
4/ Biến chứng acid hóa và tăng áp lực phân tử trong máu:
(Ketoacidosis and Hyperosmolarity)
Biến chứng acid hóa: biến chứng
này thường xăy ra khi đường trong máu tăng quá 30 mmol/L (545 mg/dL).
Thường xăy ra ở bệnh tiểu đường loại 1. Ở bệnh tiểu đường loại 2, biến
chứng này rất hiếm khi xăy ra. Nó phải có những điều kiện thuận lợi trước
(predisposition factors) như có ketone trong máu và acid hóa máu (trong
trường hợp bệnh nhân ăn ít chất bột/ low carbohydrate và nhiều thịt & mở
tạo ra t́nh trạng ketosis và mild acidosis). Biến chứng này xăy ra rất
nhanh. Nếu không điều trị kịp thời,
bệnh nhân
có thể chết trong ṿng vài giờ cho đến vài ngày. Biến chứng xảy ra khi
ketone tích tụ nhiều trong máu và nồng độ acid cao hơn b́nh thường. Chúng
ta có thể ngửi thấy mùi ketone (giống như mùi thuốc rửa móng tay của qúi
bà) trong hơi thở của bệnh nhân.
Biến chứng tăng áp lực phân tử:
giống như biến chứng vừa kể trên, khi đường lên cao qúa nhưng không có
ketone và acid hoá máu. Khi đường trong máu lên quá cao, làm khô nước
trong các tế bào và các cơ quan nội tạng. Bệnh nhân bắt đầu với đi tiểu
nhiều và khát nước nhiều, sau đó người lờ đờ và hôn mê.
Hai biến chứng trên thường xảy ra khi bệnh nhân tiểu đường loại 2 không
được chửa trị và có một hay nhiều bệnh cấp tính (acute ilnesses) đi kèm
theo như nhiễm trùng nặng, nghẻn ruột, phỏng nặng (severe burn)…
5/ Biến chứng của thần kinh:
Biến chứng của dây thần kinh gây bởi đường trong máu lên cao làm hư hại
những mạch máu bên cạnh dây thần kinh hoặc mạch máu nuôi dây thần kinh.
Sự thiếu máu hoặc chèn ép dây thần kinh đưa đến những hư hại của dây thần
kinh. Nó làm ảnh hưỡng đến sự dẩn truyền của dây thần kinh. Cùng với
những yếu tố di truyền và chấn thương nhiều lần ảnh hưởng lên những hư hại
này, gây ra biến chứng của dây thần kinh. Thường những biến chứng này đưa
đến cưa chân hoặc tay (amputation). Đa số các bác sỉ gia đ́nh và bác sỉ
chuyên khoa về tiểu đường hay thiếu sót trong việc theo dỏi cho đến khi
những biến chứng này đă nặng. Thường những triệu chứng khởi đầu với:
-
Đau,
rát (pain)
-
Mất căm
giác về sờ mó (tactile sensation), căm giác nóng lạnh (thermal
sensation)
-
Bại
liệt (motor) một phần cơ thể như lé mắt, một vật có hai h́nh (diplopia)…
Biến
chứng có thể ảnh hưởng đến một vùng nhỏ (focal neuropathies) hay một vùng
rộng lớn (diffuse neuropathies)
Một vùng nhỏ
(focal neuropathies)
-
Một dây
thần kinh bị viêm sưng (mononeuritis): đôi khi có nhiều dây thần kinh bị
viêm sưng cùng một lúc. Thường xảy ra ở những người lớn tuổi. Những
dây thần kinh thường bị viêm như dây thần kinh nảo số III, VI, VII, dây
thần kinh trụ (ulnar nerve) và dây thần kinh giữa (median nerve) ở tay,
dây thần kinh ống quyển (peroneal nerve). Xăy ra th́nh ĺnh (sudden
onset). Và không tiến triển thêm nữa. Có thể hết một cách tự nhiên
trong ṿng 6-8 tuần. Biến chứng này do sự ngạnh tắt (infarction) của
mạch máu nuôi dưỡng dây thần kinh
-
Dây
thần kinh bị kẹt (entrapment): thường xảy ra chậm chạp (gradual onset).
Xảy ra ở một dây thần kinh. Những dây thần kinh nào thường bị chấn
thương (single nerves exposed to trauma). Thường xảy ra ở dây thần kinh
giữa (median nerve), dây thần kinh trụ (ulnar nerve), dây thần kinh ống
quyển (peoneal nerve), dây thần kinh giữa và ngoài của bàn chân (medial
and lateral plantar nerves). Phải được điều trị đúng cách.
Một vùng rộng lớn (diffuse neuropathies)
-
Những
dây thần kinh vận động của tay chân gần cơ thể (proximal motor
neuropathy/diabetic amylotrophy/femoral neuropathy): Xảy ra hầu hết ở
người già. Biến chứng khởi đầu từ từ hoặc đột ngột. Bệnh bắt đầu đau ở
đùi, hông, hay mông (thights, hips, or buttocks). Sau đó, bắp thịt của
đùi yếu thấy rỏ. Bệnh nhân có thể không đứng dậy sau khi ngồi xuống
(positive Gower’s maneuver). Bệnh khởi đầu một bên và lan qua bên đối
diện. Biến chứng này có thể đi đôi với biến chứng của dây thần kinh của
cẳng chân (distal symetric neuropathy). Thỉnh thoảng bắp thịt chân bị
giật (spontaneous muscle fasciculation).
-
Những
dây thần kinh vận động và căm giác (motor and sensory nerves) ở cẳng
chân (lower legs) và bàn chân (feet). Triệu chứng nổi bật với đau, nóng
rát, khi đụng vào gây đau đớn. Dần dần, sự đau đớn giăn và người bệnh
mất căm giác đau. Mất căm giác nóng. Mất chức năng thần kinh tự động
(autonomic nerves) làm bệnh nhân không có mồ hôi, da khô, mất sự co và
dản mạch, giăm lưu thông máu, và chân bị lạnh. Một điều đặc biệt là
phản xạ b́nh thường và sức mạnh của chân b́nh thường. Bệnh nhân có thể
bị lở chân và đi đến thúi thịt (gangrene). Hậu qủa là chân bị cưa.
6/ Những biến chứng ở da và nhiễm trùng:
Hầu hết những người bệnh tiểu đường loại 2 có hệ thống miển nhiểm yếu đi
do đường máu cao ảnh hưởng đến. Những nhiễm trùng thường xăy ra. Khi
nhiễm trùng xăy ra, đường máu sẻ lên cao mặc dù chúng ta có điều trị nhiều
loại thuốc khác nhau. Cho nên, một người với tiểu đường loại 2 khó kiễm
soát đường máu, điều đầu tiên là người bệnh khám tổng quát nhất là về
nhiễm trùng. Nhiễm trùng da xăy ra thường xuyên nhất, đừng quên những
nhiễm trùng dưới móng tay và móng chân. Ngoài ra, nhiễm trùng ở dạ dày do
vi khuẩn Helicobacter pylori và những nhiễm trùng ở mắt, cổ họng và cơ
quan sinh dục do vi khuẩn Chlamydia trachomatis thường giúp làm vở những
mảnh mỡ đóng trong thành mạch máu và gây ra nhồi máu cơ tim (myocardial
infarction) hay tai biến mạch máu nảo (stroke). Tỉ lệ những vi khuẩn này
được t́m thấy trong 2 biến chứng vừa kể lên đến 30%. Nếu chúng ta không
điều trị những vi khuẩn này, 2 biến chứng ở tim và nảo sẻ xăy ra trở lại.
Ngoài ra, vi khuẩn Staphylococci và Helicobacter pylori cũng gây ra nhiễm
trùng ngoài da lâu ngày sẻ tạo ra những bệnh ngoài da kinh niên như bệnh
vảy nến (psoriasis vulgaris). Bệnh vảy nến ở tiểu đường loại 2 sẻ không
tiến triển tốt nếu chúng ta không điều trị bằng những kháng sinh
(antibiotics) thích hợp ngoài những thuốc thường dùng cho vảy nến. Có một
điều nhiều bác sỉ quên rằng những nhiễm trùng da kinh niên có sự nhiễm vi
nấm đi kèm theo nhiễm vi khuẩn. nếu không điều trị vi nấm th́ những vết
thương của bệnh vảy nến không bao giờ lành. Do đó, người bệnh cũng như
các nhân viên y tế nên để ư và theo dỏi những nhiễm trùng và nhiễm vi nấm
ở người bệnh tiểu đường loại 2. Để tránh những nhiễm trùng, người bệnh
tiểu đường loại 2 nên chích ngừa những bệnh truyền nhiễm, nhất là thuốc
chích ngừa viêm phổi (Pneumo 23/Pneumovax) và thuốc ngừa căm cúm (flu
vaccine).
7/ Những biến chứng khác:
Bệnh tiểu đường gây biến chứng hầu hết các cơ quan của cơ thể của người
bệnh. Hầu hết, các biến chứng gây bởi đường trong máu lên cao lâu ngày.
Tôi chỉ đề cập đến những biến chứng kể trên nhiều v́ chúng gây ra chết
chóc hay tàn tật. Nhưng những biến chứng khác không kém phần nguy hiễm.
Điều quan trọng nhất là chúng ta giữ đường trong máu bằng với người b́nh
thường. Những người quá yếu, ta giữ đường càng gần mức b́nh thường càng
tốt. Nó giúp ta giăm biến chứng nhưng điều tốt nhất là ta chận bệnh tiểu
đường loại 2 trước khi nó xảy. Điều này hiện nay chúng ta có thể làm được
dể dàng nếu chúng ta hiểu được thế nào là bệnh tiểu đường loại 2 và đặt
quyết tâm ngừa nó. Đây là lư do tôi viết bài này.
LĀM THẾ NÀO TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2?
Đại đa số
những người bệnh, khi nghỉ đến điều trị, họ nghỉ đến thuốc men. Đối với
nhiều bác sỉ về điều trị, họ nghỉ đến cách ăn uống, thể dục và thuốc men.
Nhiều danh y về tiểu đường trên thế giới, họ nghỉ đến vấn đề giáo dục
người bệnh đầu tiên trong việc điều trị. Họ cho việc thất bại trong việc
điều trị hầu hết do sự thiếu hướng dẩn bệnh nhân (diabetes education) chứ
không phải là thuốc men. Về vấn đề giáo dục tại Mỹ, họ có những trung tâm
nghiên cứu cách làm sao nói cho người bệnh hiểu về căn bệnh của họ và cố
vấn bệnh nhân phải làm ǵ. Tại Winnipeg, Canada, chính phủ tỉnh Manitoba
tổ chức các y tá cộng đồng (community nurses/public health nurses) kết hợp
với các chuyên viên dinh dưỡng và các bác sỉ gia đ́nh tại điạ phương để
điều trị và theo dỏi bệnh nhân. Tại Canada, hiện nay nhiều tỉnh bang
nghiên cứu và thiết lập những tổ hợp chuyên viên y tế và cách điều trị
theo tiêu chuẩn thống nhất. Điều này sẻ làm giăm chi phí cho các bộ y tế.
Bệnh nhân càng có nhiều biến chứng, phí tổn càng cao. Về cộng đồng người
Việt, tài liệu và tổ chức giáo dục về bệnh tiểu đường quá ít. Tôi cố gắng
mượn bút mực để đem lại kiến thức cho mọi người. Không phải chỉ người
bệnh mới cần biết, người không có bệnh biết để pḥng ngừa. V́ theo tiên
đoán của các chuyên gia, số người bệnh tiểu đường có thể tăng lên đến 30%
dân số vào năm 2020. V́ càng lúc, càng nhiều người mập phệ và ít hoạt
động.
Hơn 90% người có bệnh tiểu đường gốc Việt sống tại Canada có bệnh tiểu
đường loại 2. Nên tôi muốn bàn luận về cách điều trị bệnh này. Nếu có
dịp, tôi sẻ bàn về cách điều trị bệnh tiểu đường loại 1 sau. Mục tiêu của
diều trị bệnh này là tôi muốn người bệnh đạt đến một cuộc sống như mọi
người và phải khoẻ mạnh hơn người b́nh thường. Mới nghe qua giống như tôi
viết nhầm nhưng đây là sự thật. Nếu điều trị mà bắt bệnh nhân phải chịu
nhiều đắng cay như nhịn ăn, hoặc ăn những thứ ḿnh không thích, chết c̣n
sung sướng hơn. Mục tiêu của tôi là muốn bệnh nhân ăn uống đúng cách như
tại quê nhà. Đây không phải là ăn nhiều mỡ và ăn mặn. Có nghiả là ăn có
cơm, có cá thịt, và rau trái cây trong mổi bửa ăn. Ăn 3 bửa chính và 3
bửa phụ. Mới nghe qua chắc có lẻ nhiều người cho rằng ông bác sỉ này học
nhiều quá nên nhầm bệnh này qua bệnh kia. Tôi xin xác nhận là không có
nhầm lẩn. Xưa nay, người bệnh tiểu đường loại 2 khi nghe bác sỉ của họ
xác nhận bệnh của họ, người bệnh liền nhịn ăn và kiên cử đủ diều. Thậm
chí các bác sỉ trước đây 20 năm cũng bảo bệnh nhân tiểu đường loại 2 ăn
bớt lại. Kết quả là bệnh nhân chết nhiều v́ suy dinh dưỡng và nhiễm trùng.
Càng nhịn ăn đường lại lên cao! Theo định nghiả của tôi: Bệnh tiểu đường
loại 2 là có sự quản lư đường trong cơ thể không chặc chẻ. Bệnh nhân
không thiếu hoặc dư đường. Như vậy, bệnh nhân phải ăn cho đủ sức mà sống.
Hơn nửa khi ăn, đường máu, mỡ (lipid), và chất đạm (protein) lên cao kích
động tuyến tụy bài tiết nhiều insulin. Insulin giúp đem đường vào gan,
bắp thịt và mô mỡ. Do đó, đường trong máu sẻ giăm xuống. Bệnh nhân nhịn
ăn, tuyến tụy tiết ra nhiều glucagon, kích động gan bài tiết đường vào
trong máu lên cao. Ăn theo cách nào, tôi sẻ tŕnh bày sau. Sau khi đă
đọc qua những nguyên nhân tại sao có tiểu đường loại 2, tôi hy vọng mọi
người bệnh không làm những điều sai như trước nửa. Chúng ta phải kết hợp
3 phương pháp điều trị cách ăn uống, thể dục và thuốc:
v
Cách ăn
uống kết hợp với thể dục, thể thao trong bệnh nhẹ hay c̣n gọi là tiềm ẩn
(impaired glucose tolerance)
v
Cách ăn
uống kết hợp với thể dục và thuốc men khi bệnh đă bộc phát toàn diện hay
khi bác sỉ của qúi vị bảo là qúi vị bị bệnh tiểu đường loại 2.
Bệnh tiểu
đường loại 2 chia làm 2 giai đoạn:
1.
Thời kỳ nhẹ hay tiềm ẩn: trong giai đoạn này, bệnh nhân chỉ căm
thấy mệt mỏi và lên cân. Chúng ta thử đường vào sáng sớm vừa ngủ dậy hoặc
vào lúc đói, lượng đường trong máu b́nh thường (dưới 5,6 mmol/L hoặc 100
mg/dL). Hoặc đường có thể lên cao hơn b́nh thường một chút ( có nghiả là
khoảng <7 mmol/L hoặc127 mg/dL). Hoặc đo đường sau khi ăn 2 giờ vào
khoảng cao hơn 7 mmol/L (127 mg/dL) và thấp hơn 11 mmol/L (200 mg/dL).
Trong giai đoạn này, mọi bác sỉ gọi là bất thường về sự quản lư đường
(impaired glucose tolerance). Nhưng tôi đứng về phương diện điều trị
triệt để, tôi gọi đây là bệnh nhẹ. Trong giai đoạn này, người bệnh chỉ
cần ăn ít nhưng ăn 6 lần (3 bửa chính và 3 bửa phụ). Bởi v́ sự vận chuyển
đường trong người bệnh bị tŕ trệ. Nếu người bệnh ăn nhiều cùng một lúc,
mất một thời gian quá lâu cho đường trong máu trở lại b́nh thường. Thể
dục hay thể thao giúp cho đường trong máu được vận chuyển vào bắp thịt
nhanh chóng như tôi đă giải thích trong câu hỏi”Tại sao sự đề kháng
insulin xảy ra trong bệnh tiểu đường loại 2”. Theo sự nghiên cứu gần đây,
thể dục hay thể thao có thể ngừa bệnh tiểu đường loại 2 bộc phát toàn diện
lên đến 70% các trường hợp. Đôi khi các bác sỉ phải dùng thuốc metformin
trong một thời gian ngắn. Nhưng đa số bệnh nhân không dùng thuốc tiểu
đường. Trong thời kỳ này, biến chứng có thể xảy ra. Theo ư kiến của tôi,
bệnh nhân phải trị bệnh thật tích cực v́ kết quả điều trị rất cao.
2.
Thời kỳ bệnh bộc phát toàn diện hay các bác sỉ gọi là bệnh tiểu
đường loại 2. Trong thời kỳ này, bệnh nhân có hội chứng thiếu nước: khát
nước, đi tiểu nhiều, ăn nhiều và mất cân. Đi tiểu nhiều dù có uống nước
hay không. Đói bụng thường xuyên và thích ăn đồ ngọt như chè, ice cream…
Ăn nhiều nhưng vẩn mất cân. Mắt không thấy rỏ như lúc trước. Kính lên độ
nhanh chóng. Trong giai đoạn này, điều trị phải kết hợp cả 3 phương pháp:
cách ăn uống, thể dục , và thuốc men. Các bác sỉ phải khám tổng quát cho
người bệnh để t́m nguyên nhân và các biến chứng. Khám biến chứng ở mắt,
tim mạch, thận và thần kinh là chính nhưng không nên sót một chi tiết nào.
Biến chứng sẻ làm chết bệnh nhân. Nếu các bác sỉ của quí vị không làm
những bổn phận này, quí vị phải yêu cầu. Nếu các bác sỉ của quí vị từ
chối việc này, đây là lúc t́m vị lương y khác!
CÁCH ĂN UỐNG
ĐIỀU TRỊ TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2 BẰNG DINH DƯỠNG

Người
bị bệnh tiểu đường loại 2 không dư đường mà cũng không thiếu đường. Có sự
vận chuyển đường trong cơ thể của người bệnh chậm hơn người b́nh thường.
Đây là một bệnh biến dưỡng do ăn quá nhiều và thiếu hoạt động. Thêm vào
đó, người bệnh có di truyền làm cho insulin của họ làm việc không được hửu
hiệu. Sửa đổi sự sai lạc về di truyền đang được các nhà khoa học tích cực
nghiên cứu và t́m ṭi. Nhưng hai yếu tố: ăn uống và hoạt động có thể sửa
chửa được bởi người bệnh. Thực ra, tổ tiên của người Việt đă t́m ra cách
trị bệnh tiểu đường loại 2 từ lâu lắm rồi nhưng con cháu của họ không hiểu.
Cách ăn ít và ăn nhiều lần, 3 bửa ăn chính và 3 bửa ăn lót ḷng, đă có từ
lâu ở Việt Nam và đây cũng là cách ăn uống để trị tiểu đường loại 2 hiện
nay. Ngoài ra, người ta đă chứng minh được rằng khi ăn vào (đường qua
ruột) đường tiêu hóa tiết ra chất incretin tác động mạnh vào tế bào beta
nên insulin được tiết ra nhiều hơn nếu ta ăn. Nhịn đói là phương pháp đưa
đến tử vong nhanh hơn.
Mọi Người cho rằng người bệnh tiểu đường không được ăn ngọt ?
Quan
niệm này chỉ đúng một
phần nhỏ. Đúng chổ nào, sai chổ nào tôi sẻ tŕnh bày sau đây:
v
Đúng ở
chổ là khi đường trong máu c̣n cao,
người bệnh không nên ăn đường (glucose)
dù là đường cát hay đường thẻ. Không ăn có nghiă là không nêm vào thức ăn
khi nấu nướng nhiều hay uống nước có đường nhiều. Để nhận diện trong đồ
hộp thực phẩm, tiếng Anh gọi là sugar hay glucose. Tránh những đồ ăn nấu
sẳn hay đồ hộp có nhiều đường. Lư do là đường glucose vào trong ruột ta
và đi thẳng vào trong máu rất nhanh. Trong việc điều trị bệnh tiểu đường,
ta phải tránh làm những ǵ giúp cho đường lên cao quá hay xuống thấp quá.
Cả hai điều này đều đưa đến những biến chứng nguy hiễm cho sức khoẻ. Ở
những người bệnh tiểu đường đă điều chỉnh đường rất tốt, họ nên tránh uống
nước ngọt (7-up, coke, pepsi…) thường xuyên hoặc nêm nhiều
đường vào thức ăn. Riêng người bị bệnh tiểu đường, uống cà-phê với đường
diet như saccharine, twin…
v
Đường quá thấp
trong máu (nhỏ hơn 3 mmol/L hay 55 mg/dL) có thể làm cho bệnh nhân hôn mê
và nguy hiễm đến tính mạng. Trong trường hợp này, người bệnh phải uống
một ly nước apple juice hay orange juice, hoặc ăn 2-3 cái kẹo ngọt, hoặc
uống một ly nước pha với 2-3 muổng cà-phê đường cát. Sau đó, người bệnh
ăn uống thực phẫm hàng ngày. Trong trường hợp này, người bệnh phải dùng
đường glucose để làm đường trong máu trở lại b́nh thường nhanh chóng. Để
tránh đường trong máu lên quá cao hay xuống quá thấp, bệnh nhân phải có
một máy thử đường (glucometer Asensia, one step…) và thử đường trong máu
liền nếu ta không được khoẻ v́ một lư do nào đó.
Đường sucrose làm chất ngọt trong
đồ hộp và đường cho người bệnh tiểu đường. Có 12 nghiên cứu về loại đường
này cho thấyđường sucrose làm tăng đường trong máu rất ít và chậm.. Có
khi nó làm đường trong máu giăm đi. Cho nên đường sucrose có thể xữ dụng
cho người bị bệnh tiểu đường nhưng với số lượng cho phép của chính phủ.
Người bệnh có thể hỏi bác sỉ của họ số lượng đường sucrose cho bệnh nhân
có thể tiêu thụ mổi ngày là bao nhiêu?
Có loại đường fructose như mật ong
(thiên nhiên chứ không phải thứ mật ong do người nuôi), sirô bắp (corn
syrup), đường mật (molasses), nước trái cây nguyên chất, dextrose là những
chất ngọt làm tăng đường trong máu không đáng kể. Cho nên khi đường trong
máu xuống quá thấp, người bệnh không nên dùng đường fructose để điều trị
cấp cứu. Fructose có nhiều trong trái cây, rau cải, và mật ong thiên
nhiên. Đường fructose cũng cho 4 calories cho mổi gram đường này. Ăn vừa
phải th́ tốt. Ăn nhiều quá cùng một lúc th́ cũng làm cho đường trong máu
lên cao.
Đường sorbitol, manitol, và xylol c̣n gọi
là đường rượu (sugar alcohol) dùng làm chất ngọt trong thực phẫm đă
được biến chế (đồ hộp). Các loại đường này cho 2-3 calories cho mổi
gram. Điều bất tiện là dùng nhiều đường này sẻ bị tiêu chảy. Điều này
c̣n tùy thuộc sự nhạy căm của mổi người. Ăn các loại đường rượu trên 50
grams mổi ngày chắc chắn sẻ bị tiêu chảy. Cho nên, có người dùng sorbitol
làm thuốc xổ. Nếu ăn ít hoặc vừa phải đường rượu, đường trong máu không
tăng đáng kể.
Nếu bệnh nhân không ăn được đường cát, vậy bệnh nhân muốn uống cà-phê hay
bánh ngọt th́ sao?
Khi bệnh
nhân đă điều chỉnh được đường trong máu ở mức độ b́nh thường, họ có thể ăn
được đường với lượng ít mổi lần. Nếu họ không điều chỉnh được đường theo
ư muốn, họ phải xử dụng đường cho người tiểu đường (đường
diet) như aspartame, acesulfame K, saccharin, sacralose… hiện nay
được chính phủ cho phép xử dụng với những tên thương mại khác nhau. Những
chất này đă được các cơ quan kiễm soát thực phẫm và thuốc men của chính
phủ thử nghiệm rất kỷ và có thể dùng cho bệnh nhân được. Số lượng bệnh
nhân dùng hàng ngày rất thấp so với số lượng mà bệnh nhân có thể dùng được
trong phạm vi an toàn. Ví dụ như aspartame, bệnh nhân có thể ăn khoảng
100-200 g trong ṿng 2 tuần lể ỏ người nặng 50 kg. Nhưng chính phủ cho
phép dùng lên đến 2500 g cho mổi 2 tuần lể.
Người ta đồn rằng bệnh tiểu đường không ăn được trái cây, mà chỉ ăn được
rau cải và gạo lức, có đúng không?
Đă là thực phẩm th́ phải có chất bổ dưỡng để cơ thể xử dụng. Trước đây,
các nhà dinh dưỡng và các bác sỉ cho rằng những thực phẫm ngọt không nên
ăn v́ sợ đường cao! Cho nên trái cây ngọt nhất là trái cây vùng nhiệt đới
không nên ăn. Và những thực phẫm nhiều
chất sơ và sợi (fiber) tốt cho người tiểu đường v́ nó có giá trị
dinh dưỡng thấp(low glucose index). Những điều này không hoàn toàn đúng
nữa v́ những lư do sau đây:
v
Cơ thể
của người b́nh thường hay bị bệnh tiểu đường đều cần chất dinh dưỡng để
sống. Mổi thức ăn có giá trị dinh dưỡng khác nhau. Có nghiả là có những
chất bổ dưỡng khác nhau và đều cần cho cơ thể cả. Trị bệnh tiểu đường
theo lối củ trước đây làm bệnh nhân bị suy dinh dưỡng và cơ thể yếu đi.
Bệnh nhân không chết v́ tiểu đường mà chết v́ suy dinh dưỡng hoặc nhiễm
trùng. Mọi người cần phải ăn. Như tôi đă định nghiả trước đây: bệnh
tiểu đường loại 2 là có sự quản lư đường không chặt chẻ, bênh nhân không
dư đương hay thiếu đường. Điều này giống như người b́nh thường có xe vận
tải đường 10 tấn c̣n người bệnh tiểu đường loại 2 chỉ có xe vận tải đường
5 tấn. Do đó, người bệnh ăn ít, nhai kỷ và ăn chẫm rải v́ mất một thời
gian dạ dày và ruột non mới báo cho nảo biết là chúng ta đă ăn no. Nếu ăn
nhanh quá, chúng ta nuốt nhiều hơn là chúng ta cần. Lượng thực phẫm dư
thừa sẻ gây rắc rối.
v
Nếu người
bệnh nặng cân hơn b́nh thường hay mập phệ, họ sẻ ăn nhiều. Chúng ta bảo
họ nhịn, họ có làm theo một cách lâu dài không? Nếu họ không làm theo, ta
bảo họ không nghe lời bác sỉ ! (non-compliance) Sự thất bại này là do bác
sỉ không hiểu bệnh và bảo bệnh nhân làm sai! Họ không làm theo được. Nếu
chúng ta nhịn đói đến xây xẫm, tay chân bủn rủn, chúng ta có ăn không?
Nếu các vị bác sỉ trong hoàn cảnh này, họ cũng làm như bệnh nhân: Đói phải
ăn. Trước đây các bác sỉ sai lầm v́ lúc đó họ chưa hiểu được cơ chế của
sự đề kháng insulin ( xin xem ở phần tại sao sự đề kháng insulin lại xảy
ra). Đến nay, các bác sỉ đă hiểu được điều này và họ đă thay đổi cách trị
liệu về sự ăn uống.
v
Có loại
thực phẫm cho ra đường nhanh và có loại thực phẫm cho ra đường chậm như
tôi đă tŕnh bày trong câu hỏi bệnh nhân có nên ăn ngọt không. Nếu thực
phẫm cho ra đường nhanh, đường trong máu lên nhanh và cũng xuống nhanh.
Thời gian cơ thể ta tiếp xúc với đường trong máu cao ngắn hơn. Nếu thực
phẫm cho ra đường chậm và ta ăn nhiều, thực phẫm sẻ ở trong ruột non
(small intestine) từ 6-8 giờ. Đường từ thực phẫm cứ từ từ đi vào máu hoài,
cơ thể ta tiếp xúc với đường trong máu cao lâu hơn. Sự phá hoại cơ thể
của chúng ta nhiều hơn! Như vậy cái nào lợi hơn? Hơn nửa, theo William’s
Textbook of Endocrinology xuất bản năm 2003 đề nghị chúng ta không nên
phân biệt thực phẫm cho đường ra nhanh hay ra chậm. Đường ra chậm làm cho
lượng đường trong máu vẩn c̣n cao hơn tiêu chuẩn sau khi ăn 2 giờ; và có
lẻ nó hại nhiều hơn là lợi cho bệnh nhân về lâu về dài.
Vậy ăn như thế nào để đường không lên cao quá? Theo nguyên tắc, ta giử
đường trong máu khi đói hay sau khi ăn 2 giờ từ 4-7 mmol/L (73-127 mg/dL).
Nhưng có thể được, ta giử đường trong máu khi đói hay sau khi ăn 2 giờ vào
khoảng 4-6 mmol/L (73-110 mg/dL) là lư tưởng nhất. Đường trong máu ở mức
độ này th́ bệnh nhân ít có biến chứng về sau. Chúng ta ăn những ǵ chúng
ta thích ngoại trừ: MỠ và ĂN NHIỀU
ĐƯỜNG CÁT, ĐƯỜNG THẺ . Như tôi đă tŕnh bày về đường cát đường thẻ
rồi. Người bệnh tiểu đường loại 2, mỡ (cholesterol) cao, đóng vào thành
mạch máu tim và nảo dể đưa đến nhồi máu cơ tim (heart attack) hay tai biến
mạch máu nảo (stroke). Nên tránh mỡ là điều rất quan trọng để ngừa những
biến chứng này. Ngoài ra 1 gram mỡ hoặc dầu cho 9 calories trong khi 1
gram đường cho ra 4 calories. Số calories trong mổi bửa ăn càng cao,
đường trong máu càng lên cao. Ăn nhiều năng lượng quá trong cùng một lúc
sẻ mập và bệnh càng nặng hơn.
Để tránh ăn cùng một lúc qúa nhiều đường, ta ăn làm nhiều lần. Ta nên ăn
làm 6 lần, 3 bửa ăn chính và 3 bửa ăn lót ḷng. Mổi lần ta ăn ít thôi.
Mổi ngày ta có 8 giờ nghỉ ngơi và ngũ, 16 giờ làm việc và sinh hoạt. Cho
nên, mổi 3 giờ, chúng ta nên ăn một lần và ăn với số lượng ít. 3 bửa ăn
chính: ăn điễm tâm (breakfast), ăn trưa (lunch), ăn tối (dinner or
supper). Giữa 2 bửa ăn chính, ta ăn nhẹ (snack). Ăn như vậy có những
điều lợi sau đây:
v
Ăn
nhiều lần ta có thể ăn ít đi. Làm thế nào để cho bệnh nhân ăn nhiều lần
và đừng ăn nhiều trong mổi lần, tôi sẻ đề cập trong phần điều trị sau.
v
Giữ đường trong máu không cao quá mà cũng không thấp quá
Thay v́
ta nhịn cơm để ăn trái cây tráng miệng, ta ăn trái cây vào bửa ăn lót ḷng
(snack). Ta phải ăn nhiều trái cây chia ra làm nhiều lần trong ngày. V́
trái cây có nhiều sinh tố (vitamins) cần cho sự dinh dưỡng trong cơ thể.
Hơn nửa, trái cây có nhiều chất sợi và những chất nhuận trường thiên nhiên
giúp ta tránh được táo bón.
Rau cải có nhiều chất sợi, sinh tố như trái cây, và những chất có thể
chống ung thư. Như broccoli, giá sống chứa chất chống lại sự tăng trưởng
của ung thư vú, phổi, và ruột già ( breast cancer, lung cancer, and colon
cancer).
Mổi người bệnh tiểu đường loại 2 nên có máy thử đường tại nhà để theo dỏi
sự ăn uống của ḿnh. Nhưng đường trong máu cũng như thời tiết, có lúc lên
lúc xuống. Nhưng số lần đường trong máu cao phải ít hơn số lần đường
trong máu b́nh thường. Đừng hoảng hốt lo sợ, v́ lo sợ, hoảng hốt có thể
làm đường trong máu lên cao.
Tôi không nghĩ là những điều tôi đề nghị làm cho bệnh nhân khó theo. Có
một điều khó tin nhưng là sự thật: ai ăn một bửa cơm mổi ngày sẻ dể bị
mập hơn là người ăn nhiều lần mổi ngày!
Ở Việt Nam, tôi ăn mặn quen rồi. Bác sỉ bảo tôi ăn lạt, làm sao tôi ăn
được?
Đúng! Việt Nam là một xứ nóng, chúng ta đổ mồ hôi nhiều. Có nhiều
chất muối trong mồ hôi, nên mồ hôi
mặn. Tôi không ngạc nhiên là thực phẫm tại Việt Nam quá mặn. Ở Bắc Mỹ,
khí hậu ôn đới như ở Mỹ và khí hậu của Bắc Cực của Canada (ngoại trừ
Vancouver), chúng ta ít đổ mồ hôi, nên lượng muối ăn vào ít được thải ra
ngoài. Khi muối trong máu nhiều sẻ giử nước trong cơ thể nhiều và đưa đến
vấn đề phù thủng, mệt cho tim và phổi… Nhất là người bị cao huyết áp
(high blood pressure), yếu hay suy thận (renal impairment or renal
failure) và người mập phệ (có cân nặng/chiều cao > 28), sự giữ nước trong
cơ thể quá nhiều sể gây ra hậu qủa trầm trọng. Cho nên, những người bị
bệnh tiểu đường loại 2 đi đôi với cao áp huyết chỉ ăn 2,4 grams muối mổi
ngày. Có nghỉa là ăn rất lạt. Điều này, chúng ta tập dần sẻ quen v́
chúng ta không có nhu cầu nhiều muối như ở Việt Nam.
Những người bệnh tiểu đường loại 2 không có cao huyết áp hay suy thận, ăn
khoảng 3 grams muối mổi ngày. Có nghỉa là ăn lạt hơn người b́nh thường
một chút. Những người bệnh tiểu đường loại 2 với suy thận, ăn ít hơn 2
grams muối mổi ngày. Có nghỉa là nêm rất ít muối vào thức ăn khi nấu
nướng, và không thêm mắm hay muối khi ngồi lên bàn ăn. Ăn rất lạt.
Tôi uống bia lâu rồi, chú không uống rượu và tôi có bệnh tiểu đường. Bỏ
bia rượu đời lạt lẻo vô vị. Tôi uống bia được không?
Bia và rượu là hai sản phẫm khác
nhau nhưng có chung một đặc tính. Đó là chứa chất rượu (alcohol). Bia
chứa chất rượu ít hơn, từ 2% cho đến 6% tùy theo loại bia. Rượu mà mọi
người thường gọi có nhiều loại khác nhau: rượu nho (wine) chứa 10%-15%
chất rượu (alcohol) được tiêu thụ nhiều ở đất Bắc Mỹ và Âu Châu. Rượu
mạnh như whisky, cognac hay brandy chứa từ 30%-45% chất rượu. C̣n các
loại rượu do những người dân không chuyên nghiệp làm lấy như home-made
wine hoặc rượu đế hay rượu nếp ở Việt Nam th́ nồng độ rượu vô chừng, có
thể từ 10% cho đến 60% chất rượu (như rượu tắt-kè). Cho nên người bị bệnh
tiểu đường phải nên biết ḿnh uống bao nhiêu chất rượu vào người chứ không
phải loại nào. Người bệnh nên tránh “home-made wine” và rượu đế hay rượu
nếp của Việt Nam. V́ chúng ta không biết rỏ thành phần rượu trong các
loại rượu này.
Khi uống
nhiều rượu, nảo bộ của ta dể quên đi những điều ǵ ta nên làm như tập thể
dục, uống thuốc đúng giờ. Cho nên uống rượu phải tùy thuộc hoàn cảnh của
bệnh nhân. Tốt hơn hết, người bệnh phải hỏi bác sỉ của ḿnh trước khi
uống.
v
Bệnh tiểu
đường loại 1: lúc đường trong máu chưa ổn định không nên uống bia hay
rượu. Nếu đường trong máu đă ổn định một thời gian vài tháng, có thể uống
1-2 lần bia hay rượu trong những bữa ăn trong một ngày. Mổi lần uống 1
chai bia 12 oz, hoặc môt ly rượu nho (wine) 5 oz, hoặc whisky hay cognac
1,5 oz. Chỉ được uống trong bữa ăn, không ăn không uống rượu. Người
nghiện rượu và đàn bà có thai hay muốn có thai, tuyệt đối không nên uống
rượu dù trong hoàn cảnh nào.
v
Bệnh tiểu
đường loại 2: theo sách vở th́ bệnh nhân có thể uống bia hoặc rượu ít nếu
họ không có những biến chứng như cao áp huyết, cao mỡ, suy thận … Nhưng
theo kinh nghiệm của tôi, những người Việt với bệnh tiểu đường loại 2
thường có loại thấp khớp (phong thấp) cấp tính gọi là thống-phong (gout)
do uric acid trong máu lên cao đột ngột. Uric acid gia tăng nhanh chóng
sẻ đi vào trong các khớp xương và làm sưng đỏ nóng đau các khớp. Sự đau
đớn làm bệnh nhân không tài nào ngủ được. Nó thường xảy ra ở đầu gối, cổ
chân, ngón chân cái làm bệnh nhân không đi được. Điều này làm bệnh nhân
không tập thể dục được. Kết qủa là đường trong máu lên cao. Theo ư kiến
của tôi là bệnh nhân tiểu đường loại 2 không nên uống rượu. Hơn nửa,
người Việt sanh đẻ tại Việt Nam có tỉ lệ 20% bị mang siêu vi trùng viêm
gan B và C (hepatitis B & C). Những người này uống rượu lâu ngày, họ có
cơ hội rất cao bị ung thư gan (liver cancer) hay chai gan/sơ gan (liver
cirrhosis). 2 bệnh này đều đưa đến cái chết dù có thay gan (liver
transplant). Nếu bệnh nhân muốn uống rượu, nên hỏi bác sỉ của họ trước.
Tôi muốn xuống cân nên tôi ăn ít. Vậy tôi có cần uống sinh tố mổi ngày
hay không?
Nếu tỉ lệ cân nặng trên
chiều cao (BMI) lớn hơn 23 ở người Việt (25 cho dân da trắng hay đen),
người bệnh tiểu đường nên giăm cân. Trước khi làm quyết định này, người
bệnh cần bàn với bác sỉ gia đ́nh của họ trước.
Trên nguyên tắc, chỉ được giăm 10% cân nặng của cơ thể mổi năm. Ví dụ, cơ
thể ta cân nặng 70 kg chỉ nên giăm 7 kg trong năm đầu tiên. Năm tới, ta
chỉ giăm 6,3 kg (v́ lúc này cân nặng là 63 kg). Muốn giăm cân, ta giăm số
lượng thực phẩm và tăng thời gian thể dục. Giăm bao nhiêu thực phẫm, ta
nên bàn luận với chuyên viên dinh dưỡng (dietician). Ở những nơi không có
chuyên viên dinh dưỡng, người bệnh có thể làm theo nguyên tắc sau:
v
Giăm ¼
hay 1/3 số lượng thực phẫm họ đang ăn.
v
Cắt bỏ
tất cả các loại mỡ động vật trong thịt cá trước khi nấu nướng.
v
Giăm đến
tối thiểu các loại dầu thực vật khi nấu ăn.
v
Số lượng
c̣n lại, ta giăm những chất bột như gạo, ḿ, bánh ḿ…
Nếu chỉ
giăm ăn mà không thể dục cũng không tốt và không thành công. Chúng ta
không làm tiêu hao năng lượng trong cơ thể th́ chúng ta không giăm cân
được. Đi bộ từ 5-10 cây số (km) mổi ngày sẻ giúp ta khoẻ mạnh và giăm cân
nhanh. Sự giăm cân giúp đường trong máu dể điều chỉnh hơn và ta không cần
uống nhiều thuốc như lúc mập phệ. Sự giăm cân giúp cho sự đề kháng
insulin trong cơ thể cũng giăm đi rất nhiều ở những người mập phệ. Những
người ốm lại có sự đề kháng insulin cao đặc biệt xăy ra ở người Việt th́
rỏ ràng không cần giăm cân mà cần cách trị liệu khác.
Những người mập phệ phải giăm số lượng thực phẫm hàng ngày. Họ phải uống
một viên đa sinh tố (multivitamins) hàng ngày. Thường một viên đa sinh tố
chứa vào khoảng 400 mcg folic acid có lẻ đủ cho người bệnh tiểu đường loại
2. Những người bị thiếu máu cơ tim (ischemic heart disease) đă được thông
tim (coronary angioplasty) cần có 1mg folic acid mổi ngày, 400 mcg vitamin
B12 mổi ngày, và 10 mg pyridoxine mổi ngày. Với những số lượng sinh tố
nàyđă được chứng minh là ngăn ngừa động mạch vành tim bị nghẻn trở lại.
V́ những lượng sinh tố vừa kể làm giăm số lượng homocysteine trong máu.
Sinh tố và khoáng chất (minerals)
cần thiết cho cơ thể. B́nh thường những người ăn uống đầy đủ (ăn đủ loại
thực phẫm trong mổi bửa ăn), không cần uống sinh tố hay khoáng chất.
Ngoại trừ những trường hợp sau:
v
Muốn giăm
cân nặng của cơ thể nhiều.
v
Những
người không ăn thịt và cá hoặc ăn chay trường.
v
Những
người già ăn uống kém.
v
Những
người có thai hay cho con bú.
v
Những
người uống thuốc có ảnh hưởng đến sinh tố.
v
Những
người có đường trong máu quá cao và có nhiều đường trong nước tiểu.
v
Những
người suy dinh dưỡng.
v
Những
người suy tim (heart failure) hay những người bị nhồi máu cơ tim (heart
attack)
v
Những
người bị suy thận (kidney failure/renal failure).
Tuy nhiên
thừa sinh tố cũng không tốt. Sinh tố không có nghiả là uống càng nhiều
càng tốt. Ví dụ như sinh tố A (vitamin A), nếu uống nhiều quá sẻ bị tăng
áp lực trong nảo và làm nhức đầu, ói mữa dử dội. Trước khi uống sinh tố
hay khoáng chất phải hỏi bác sỉ gia đ́nh trước.
Tôi nghỉ là tôi mập! và cần xuống cân. Số lượng thực phẫm tôi phải ăn là
bao nhiêu
Hầu hết các cô, các bà nghỉ ḿnh mập! Đa số các ông và thanh niên không
nghỉ là ḿnh mập! mà cho là “đô con” (to lớn, vạm vở). Chử mập trong y
học không phải là sự suy nghỉ (ấn tượng- impression) của mọi người về ḿnh.
Mập trong y học căn cứ vào cân nặng và chiều cao hay người Bắc Mỹ gọi là
BMI (Body Mass Index).
Theo kinh nghiệm của tôi và nhiều bác sỉ gia đ́nh cùng với bác sỉ chuyên
về nội tiết/tiểu đường (endocrinologist/diabetologist) cho rằng người Việt
nên theo tiêu chuẩn sau đây:
v
BMI nhỏ
hơn 18 gọi là ốm, suy dinh dưỡng.
v
BMI từ
18-23: cân nặng lư tưởng
v
BMI từ
24-28: mập (overweight)
v
BMI lớn
hơn 28: mập phệ (obesity)
v
Mập phệ
có 3 hạng: 1, 2, và 3.
Mập phệ
là nguy hiễm cho sức khoẻ. Càng nặng cân càng dể mắc bệnh tiểu đường.
Để chính xác số lượng thực phẫm
người bệnh phải ăn hàng ngày, ta phải hỏi
chuyên viên dinh dưỡng (dietician). Nếu ai không t́m được chuyên
viên dinh dưỡng, có thể theo những nguyên tắc sau đây (Nhưng không bằng
chuyên viên dinh dưỡng):
v
BMI=18-23: người bệnh vẩn ăn số lương thực phẫm họ ăn mổi ngày.
v
BMI > 23
·
Giăm ¼
cho đến 1/3 số lượng thực phẫm mổi ngày.
·
Giăm 50%
số lượng thịt cá mổi ngày (nếu ăn quá nhiều thịt cá th́ giăm 75%). Nếu ai
đă ăn ít thịt cá th́ không nên giăm.
·
Cắt bỏ
tất cả mỡ động vật – giăm dầu thực vật cho đến lượng tối thiểu đủ để nấu
nướng.
·
Số c̣n
lại giăm chất bột như gạo, bún, ḿ, bánh ḿ…
·
Tăng số
lượng trái cây và rau cải để bù vào chổ trống của bao tử.
Những
việc tăng hay giăm thực phẫm nên bàn luận với bác sỉ của ḿnh. Mổi người
có những nhu cầu khác nhau, tôi không thể vắn tắc trong vài câu mà mô tả
được hết các nhu cầu của mổi người
Tôi sẻ bàn luận đến thành phần thực phẫm hơn là số lượng. Trong thực phẫm
có 3 nhóm dinh dưỡng chính.:
-
Chất
ngọt (glucid/carbohydrate) cho 4 calories trong 1 gram: cơm gạo, bánh ḿ,
bún…
-
Chất
đạm (protein) cho 4 calories trong 1 gram: có nhiều trong thịt cá và các
loại đậu
-
Chất mỡ
(lipid) cho 9 calories trong 1 gram: mỡ động vật, dầu thực vật.
Các thực
phẫm đều có những chất khác nhau như cơm gạo chứa hầu hết là chất bột
nhưng nó cũng có một ít chất đạm. Thịt chứa phần lớn chất đạm và 10% đến
50% chất mỡ, và một ít chất ngọt. Như thịt gà (thịt ức) không da có
khoảng 10% mở nhưng thịt ba chỉ (ba rọi) chứa đến 50% mỡ. Đậu nành chứa
nhiều chất đạm và chất ngọt nhưng đậu phọng (peanut) chứa cả 3 loại: chất
ngọt, chất đạm, và dầu thực vật. Mỡ cá làm giăm cholesterol tạo ra bởi mỡ
thịt. Rau và trái cây có nhiều chất ngọt, sinh tố và rất ít chất đạm.
Chính những phức tạp này, tôi muốn bệnh nhân bàn luận với chuyên viên dinh
dưỡng hay bác sỉ gia đ́nh.
Trong vủ trụ, đấng tạo hoá tạo ra các sinh vật và cây cỏ. Sinh vật và cây
cỏ nuôi dưỡng cho nhau theo hệ thống tuần hoàn của thiên nhiên. Đấng tạo
hoá tạo ra một vật đều có cái tốt và cái xấu của nó. Thích hợp với ta gọi
là tốt. Không thích hợp với ta gọi là xấu. Và đấng tạo hoá cũng tạo ra
vật đối kháng của nó. Người Trung Hoa gọi là âm và dương. Ví dụ như mỡ
thịt heo, ḅ, gà… tạo ra cholesterol xấu cho máu. Ngược lại, các loại mỡ
cá nhất là mỡ cá nục, cá thu (sardine và meckerel) làm giăm cholesterol
xấu. Broccoli và giá có hoá chất ngăn chận ung thư vú, phổi và ruột già
phát triển. Mỡ là một trong những chất kích thích ung thư vú phát triển.
Dựa vào nguyên tắc này, ta nên ăn nhiều loại thực phẫm khác nhau. Càng
nhiều loại càng tốt. Và cũng dựa trên nguyên tắc này, ta ăn lượng vừa
phải ở mổi loại thực phẫm. Nếu ăn nhiều một loại thực phẫm, những yếu tố
xấu của nó sẻ tích tụ nhiều và ta có những vấn đề sức khoẻ. Hơn nửa, cơ
thể của ta cần nhiều loại dinh dưỡng khác nhau ở trong nhiều loại thực
phẫm khác nhau. Cơ quan y tế của Mỹ và Canada đă làm bản tóm tắc chia các
loại thực phẫm ta thường ăn thành 4 nhóm chính:
-
Thịt và
cá
-
Sữa và
các sản phẫm từ sữa.
-
Chất
bột
-
Rau và
trái cây
Chúng ta ăn uống như thế nào cho khoẻ mạnh?
Theo cơ quan y tế của Mỹ và Canada, mổi ngày ta ăn đủ 4 nhóm thực phẫm
chính như tôi vừa đề cập trên. Tổ tiên người Việt dạy rằng con cháu phải
ăn đúng giờ, ăn có rau có thịt và rau cải, trái cây. Những điều này rất
đúng. V́ 95% người Việt bị tiêu chảy khi uống sữa tươi. Họ mất đi phân
hoá tố (enzyme) lactase trong ruột khi lớn lên. Hơn nửa, người Việt sống
gần sông và biển nên họ ăn cá, tôm, cua và thực phẫm từ biển nênhọ có đủ
lượng calcium như sữa cung cấp calcium ở người Âu Mỹ.
Theo sự
quan sát của tôi người Việt tại quê nhà b́nh thường ăn khoảng 55%-75% chất
bột, 10%-20% dầu thực vật và 20%-40% mỡ động vật và 5%-10% chất đạm.
Những người Việt tại Bắc Mỹ ăn khoảng 40%-60% chất bột, 10% dầu thực vật,
20%-40% mỡ động vật và 10%-20% chất đạm.
Theo
College of American Endocrinologists, người bệnh tiểu đường loại 2 nên ăn
thành phần thực phẫm sau đây:
-
Chất
bột (carbohydrate) vào khoảng 50%-55%. Dầu thực vật vào khoảng 10%.
Theo ư kiến của tôi,
người Việt có thể ăn 50% chất bột. Về dầu thực vật không cần thay đổi.
V́ chúng ta ăn nhiều chất bột đă 10 ngàn năm qua.
-
Chất
bột có nhiều trong luá gạo, bánh ḿ, bún khoai, trái cây, sữa ít mỡ
(skim milk)…
-
Dầu
thực vật có nhiều trong các loại hạt: đậu (nut: peanut/đậu phọng),
trái bơ (avocado) trái olive (ô liu), dầu thực vật…
Những
thực phẩm này có nhiều chất sợi (fibers) giúp ruột già dể vận chuyển, ngừa
các bệnh ung thư: ruột già, vú, và phổi.
-
Thịt và
cá:
Người
Việt (Homo Sapiens) là hợp giống của chủng Đại Nam Á, chủng Đại Bắc Á, và
chủng Cổ Mă Lai (Indonesian bằng chứng ở nền văn hóa Ḥa B́nh). Họ định
cư tại vùng đồng bằng màu mỡ dọc theo bờ biển này. Khởi đầu, thực phẩm
chính là thịt và cá, thực phẩm phụ là ngủ cốc (lúa hoang, các loại hột,
rau, và trái cây) mà họ nhặt được từ môi trường chung quanh. Họ nuôi súc
vật để lấy thịt và sửa. Từ khi họ biết trồng cây lúa hoang (lúa Leviant),
cơm gạo có nhiều nên thành phần thực phẩm đă thay đổi qua 10 ngàn năm. Số
lượng thịt cá ta ăn lúc c̣n tại quê nhà là 10% hay ít hơn của tổng số
lượng thực phẩm mổi ngày.
Theo hội của các chuyên gia về tiểu đường ở Mỹ (College of American
Endocrinologist), số lượng chất đạm (protein) từ 10-20% thức ăn mổi ngày.
V́ chất đạm động vật (animal protein) làm thận làm việc tích cực (overfiltration)
sẻ mau mệt. Người bệnh tiểu đường với yếu thận hay suy thận (kidney
impairment or kidney failure) ăn chất đạm nhiều hơn 10% sẻ mau hư thận.
Không có nghiả không ăn thịt cá sẻ tốt. Theo tôi, người Việt với bệnh
tiểu đường không có biến chứng ở thận nên ăn khoảng 10% chất đạm nói chung
(chất đạm động vật và chất đạm thực vật: từ cá thịt và các loại đậu). Hơn
nửa, ăn ít cá và thịt làm giăm mỡ trong máu (cholesterol) người bệnh và
ngừa bệnh về tim mạch.
Tiến Sỉ Greg Arsenis của Mỹ làm một cuộc khảo cứu và nhận thấy rằng: nếu
bệnh nhân tiểu đường ăn thật ít thịt và cá (animal protein). Một bửa thịt
và cá trong mổi 2 ngày, và ăn đầy đủ số lượng thực phẩm không bị mất cân.
Lượng đường trong máu sể giăm 30% so với những người ăn uống b́nh thường (có
giăm số lượng thực phẩm để xuống cân). Và ông nhận thấy số lượng mỡ (cholesterol)trong
máu giăm 60%. Không ăn thịt cá ở thí nghiệm này có nghỉa là không ăn chất
đạm động vật và chỉ ăn chất đạm thực vật (vegetable protein) từ các loại
đậu, trái cây và rau. V́ nhiều chất đạm động vật sẻ làm cơ thể tiết ra
nhiều insulin. Insulin làm cho cơ thể tiết ra nhiều adrenalin làm tăng
huyết áp và làm insulin càng không hoạt động hửu hiệu. Điều này làm gia
tăng sự đề kháng insulin và đưuờng trong máu lên cao. Điều này không có
nghỉa không ăn chất đạm động vật sẻ tốt. Chất đạm động vật có những chất
dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể của ta nhưng ta không nên ăn nhiều quá.
Có người sẻ hỏi: đường từ chất bột cũng làm gia tăng insulin trong máu.
Tại sao tôi lại khuyên người bệnh ăn nhiều chất bột và ít chất đạm? Xin
thưa rằng: ở người b́nh thường, chất đạm, chất bột, và chất mỡ đều làm gia
tăng insulin nhờ vào những cơ quan căm ứng (glucose, protein and lipid
receptors) trong tuyến tụy (pancreas) phát hiện sự tăng những chất này
trong máu lên cao và bài tiết insulin nhiều hay ít tùy theo số lượng trong
máu. Ở người bệnh tiểu đường không điều chỉnh lượng đường trong máu lâu
ngày làm hư cơ quan căm ứng với đường và tuyến tụy không bài tiết insulin
nếu ta chỉ ăn đường thôi.
-
Rau và
trái cây: như tôi đă tŕnh bày ở phần chất bột, rau và trái cây cho
nhiều chất ngọt, sinh tố (vitamins), và chất sợi (fiber). Chất bột
trong trái cây và rau chứa nhiều đường fructose. Mọi người sẻ nghỉ là
ăn nhiều trái cây sẻ làm tăng đường trong máu cao. Điều này chỉ đúng
một phần nhỏ là nếu ta ăn cùng một lúc quá nhiều. V́ đường fructose
không làm tăng đường trong máu tăng nhanh như đường cát (glucose). Nó
phải được thoái biến trong cơ thể thành đường glucose. Nên mất thời
gian dài hơn mới làm đường trong máu lên cao. Trong thời gian đó
insulin đă đem đường vào trong gan và bắp thịt một phần rồi. Nếu ta ăn
1 trái xoài nhỏ hoặc 1 trái chuối hoặc 1 múi sầu riêng vào giữa 2 bữa
cơm th́ chúng không làm đường trong máu tăng lên cao.
|