Người
bị bệnh tiểu đường loại 2 không dư đường mà cũng không thiếu đường. Có sự
vận chuyển đường trong cơ thể của người bệnh chậm hơn người b́nh thường.
Đây là một bệnh biến dưỡng do ăn quá nhiều và thiếu hoạt động. Thêm vào
đó, người bệnh có di truyền làm cho insulin của họ làm việc không được hửu
hiệu. Sửa đổi sự sai lạc về di truyền đang được các nhà khoa học tích cực
nghiên cứu và t́m ṭi. Nhưng hai yếu tố: ăn uống và hoạt động có thể sửa
chửa được bởi người bệnh. Thực ra, tổ tiên của người Việt đă t́m ra cách
trị bệnh tiểu đường loại 2 từ lâu lắm rồi nhưng con cháu của họ không hiểu.
Cách ăn ít và ăn nhiều lần, 3 bửa ăn chính và 3 bửa ăn lót ḷng, đă có từ
lâu ở Việt Nam và đây cũng là cách ăn uống để trị tiểu đường loại 2 hiện
nay. Ngoài ra, người ta đă chứng minh được rằng khi ăn vào (đường qua
ruột) đường tiêu hóa tiết ra chất incretin tác động mạnh vào tế bào beta
nên insulin được tiết ra nhiều hơn nếu ta ăn. Nhịn đói là phương pháp đưa
đến tử vong nhanh hơn.
Mọi Người cho rằng người bệnh tiểu đường không được ăn ngọt ?
Quan
niệm này chỉ đúng một
phần nhỏ. Đúng chổ nào, sai chổ nào tôi sẻ tŕnh bày sau đây:
v
Đúng ở
chổ là khi đường trong máu c̣n cao,
người bệnh không nên ăn đường (glucose)
dù là đường cát hay đường thẻ. Không ăn có nghiă là không nêm vào thức ăn
khi nấu nướng nhiều hay uống nước có đường nhiều. Để nhận diện trong đồ
hộp thực phẩm, tiếng Anh gọi là sugar hay glucose. Tránh những đồ ăn nấu
sẳn hay đồ hộp có nhiều đường. Lư do là đường glucose vào trong ruột ta
và đi thẳng vào trong máu rất nhanh. Trong việc điều trị bệnh tiểu đường,
ta phải tránh làm những ǵ giúp cho đường lên cao quá hay xuống thấp quá.
Cả hai điều này đều đưa đến những biến chứng nguy hiễm cho sức khoẻ. Ở
những người bệnh tiểu đường đă điều chỉnh đường rất tốt, họ nên tránh uống
nước ngọt (7-up, coke, pepsi…) thường xuyên hoặc nêm nhiều
đường vào thức ăn. Riêng người bị bệnh tiểu đường, uống cà-phê với đường
diet như saccharine, twin…
v
Đường quá thấp
trong máu (nhỏ hơn 3 mmol/L hay 55 mg/dL) có thể làm cho bệnh nhân hôn mê
và nguy hiễm đến tính mạng. Trong trường hợp này, người bệnh phải uống
một ly nước apple juice hay orange juice, hoặc ăn 2-3 cái kẹo ngọt, hoặc
uống một ly nước pha với 2-3 muổng cà-phê đường cát. Sau đó, người bệnh
ăn uống thực phẫm hàng ngày. Trong trường hợp này, người bệnh phải dùng
đường glucose để làm đường trong máu trở lại b́nh thường nhanh chóng. Để
tránh đường trong máu lên quá cao hay xuống quá thấp, bệnh nhân phải có
một máy thử đường (glucometer Asensia, one step…) và thử đường trong máu
liền nếu ta không được khoẻ v́ một lư do nào đó.
Đường sucrose làm chất ngọt trong
đồ hộp và đường cho người bệnh tiểu đường. Có 12 nghiên cứu về loại đường
này cho thấyđường sucrose làm tăng đường trong máu rất ít và chậm.. Có
khi nó làm đường trong máu giăm đi. Cho nên đường sucrose có thể xữ dụng
cho người bị bệnh tiểu đường nhưng với số lượng cho phép của chính phủ.
Người bệnh có thể hỏi bác sỉ của họ số lượng đường sucrose cho bệnh nhân
có thể tiêu thụ mổi ngày là bao nhiêu?
Có loại đường fructose như mật ong
(thiên nhiên chứ không phải thứ mật ong do người nuôi), sirô bắp (corn
syrup), đường mật (molasses), nước trái cây nguyên chất, dextrose là những
chất ngọt làm tăng đường trong máu không đáng kể. Cho nên khi đường trong
máu xuống quá thấp, người bệnh không nên dùng đường fructose để điều trị
cấp cứu. Fructose có nhiều trong trái cây, rau cải, và mật ong thiên
nhiên. Đường fructose cũng cho 4 calories cho mổi gram đường này. Ăn vừa
phải th́ tốt. Ăn nhiều quá cùng một lúc th́ cũng làm cho đường trong máu
lên cao.
Đường sorbitol, manitol, và xylol c̣n gọi
là đường rượu (sugar alcohol) dùng làm chất ngọt trong thực phẫm đă
được biến chế (đồ hộp). Các loại đường này cho 2-3 calories cho mổi
gram. Điều bất tiện là dùng nhiều đường này sẻ bị tiêu chảy. Điều này
c̣n tùy thuộc sự nhạy căm của mổi người. Ăn các loại đường rượu trên 50
grams mổi ngày chắc chắn sẻ bị tiêu chảy. Cho nên, có người dùng sorbitol
làm thuốc xổ. Nếu ăn ít hoặc vừa phải đường rượu, đường trong máu không
tăng đáng kể.
Nếu bệnh nhân không ăn được đường cát, vậy bệnh nhân muốn uống cà-phê hay
bánh ngọt th́ sao?
Khi bệnh
nhân đă điều chỉnh được đường trong máu ở mức độ b́nh thường, họ có thể ăn
được đường với lượng ít mổi lần. Nếu họ không điều chỉnh được đường theo
ư muốn, họ phải xử dụng đường cho người tiểu đường (đường
diet) như aspartame, acesulfame K, saccharin, sacralose… hiện nay
được chính phủ cho phép xử dụng với những tên thương mại khác nhau. Những
chất này đă được các cơ quan kiễm soát thực phẫm và thuốc men của chính
phủ thử nghiệm rất kỷ và có thể dùng cho bệnh nhân được. Số lượng bệnh
nhân dùng hàng ngày rất thấp so với số lượng mà bệnh nhân có thể dùng được
trong phạm vi an toàn. Ví dụ như aspartame, bệnh nhân có thể ăn khoảng
100-200 g trong ṿng 2 tuần lể ỏ người nặng 50 kg. Nhưng chính phủ cho
phép dùng lên đến 2500 g cho mổi 2 tuần lể.
Người ta đồn rằng bệnh tiểu đường không ăn được trái cây, mà chỉ ăn được
rau cải và gạo lức, có đúng không?
Đă là thực phẩm th́ phải có chất bổ dưỡng để cơ thể xử dụng. Trước đây,
các nhà dinh dưỡng và các bác sỉ cho rằng những thực phẫm ngọt không nên
ăn v́ sợ đường cao! Cho nên trái cây ngọt nhất là trái cây vùng nhiệt đới
không nên ăn. Và những thực phẫm nhiều
chất sơ và sợi (fiber) tốt cho người tiểu đường v́ nó có giá trị
dinh dưỡng thấp(low glucose index). Những điều này không hoàn toàn đúng
nữa v́ những lư do sau đây:
v
Cơ thể
của người b́nh thường hay bị bệnh tiểu đường đều cần chất dinh dưỡng để
sống. Mổi thức ăn có giá trị dinh dưỡng khác nhau. Có nghiả là có những
chất bổ dưỡng khác nhau và đều cần cho cơ thể cả. Trị bệnh tiểu đường
theo lối củ trước đây làm bệnh nhân bị suy dinh dưỡng và cơ thể yếu đi.
Bệnh nhân không chết v́ tiểu đường mà chết v́ suy dinh dưỡng hoặc nhiễm
trùng. Mọi người cần phải ăn. Như tôi đă định nghiả trước đây: bệnh
tiểu đường loại 2 là có sự quản lư đường không chặt chẻ, bênh nhân không
dư đương hay thiếu đường. Điều này giống như người b́nh thường có xe vận
tải đường 10 tấn c̣n người bệnh tiểu đường loại 2 chỉ có xe vận tải đường
5 tấn. Do đó, người bệnh ăn ít, nhai kỷ và ăn chẫm rải v́ mất một thời
gian dạ dày và ruột non mới báo cho nảo biết là chúng ta đă ăn no. Nếu ăn
nhanh quá, chúng ta nuốt nhiều hơn là chúng ta cần. Lượng thực phẫm dư
thừa sẻ gây rắc rối.
v
Nếu người
bệnh nặng cân hơn b́nh thường hay mập phệ, họ sẻ ăn nhiều. Chúng ta bảo
họ nhịn, họ có làm theo một cách lâu dài không? Nếu họ không làm theo, ta
bảo họ không nghe lời bác sỉ ! (non-compliance) Sự thất bại này là do bác
sỉ không hiểu bệnh và bảo bệnh nhân làm sai! Họ không làm theo được. Nếu
chúng ta nhịn đói đến xây xẫm, tay chân bủn rủn, chúng ta có ăn không?
Nếu các vị bác sỉ trong hoàn cảnh này, họ cũng làm như bệnh nhân: Đói phải
ăn. Trước đây các bác sỉ sai lầm v́ lúc đó họ chưa hiểu được cơ chế của
sự đề kháng insulin ( xin xem ở phần tại sao sự đề kháng insulin lại xảy
ra). Đến nay, các bác sỉ đă hiểu được điều này và họ đă thay đổi cách trị
liệu về sự ăn uống.
v
Có loại
thực phẫm cho ra đường nhanh và có loại thực phẫm cho ra đường chậm như
tôi đă tŕnh bày trong câu hỏi bệnh nhân có nên ăn ngọt không. Nếu thực
phẫm cho ra đường nhanh, đường trong máu lên nhanh và cũng xuống nhanh.
Thời gian cơ thể ta tiếp xúc với đường trong máu cao ngắn hơn. Nếu thực
phẫm cho ra đường chậm và ta ăn nhiều, thực phẫm sẻ ở trong ruột non
(small intestine) từ 6-8 giờ. Đường từ thực phẫm cứ từ từ đi vào máu hoài,
cơ thể ta tiếp xúc với đường trong máu cao lâu hơn. Sự phá hoại cơ thể
của chúng ta nhiều hơn! Như vậy cái nào lợi hơn? Hơn nửa, theo William’s
Textbook of Endocrinology xuất bản năm 2003 đề nghị chúng ta không nên
phân biệt thực phẫm cho đường ra nhanh hay ra chậm. Đường ra chậm làm cho
lượng đường trong máu vẩn c̣n cao hơn tiêu chuẩn sau khi ăn 2 giờ; và có
lẻ nó hại nhiều hơn là lợi cho bệnh nhân về lâu về dài.
Vậy ăn như thế nào để đường không lên cao quá? Theo nguyên tắc, ta giử
đường trong máu khi đói hay sau khi ăn 2 giờ từ 4-7 mmol/L (73-127 mg/dL).
Nhưng có thể được, ta giử đường trong máu khi đói hay sau khi ăn 2 giờ vào
khoảng 4-6 mmol/L (73-110 mg/dL) là lư tưởng nhất. Đường trong máu ở mức
độ này th́ bệnh nhân ít có biến chứng về sau. Chúng ta ăn những ǵ chúng
ta thích ngoại trừ: MỠ và ĂN NHIỀU
ĐƯỜNG CÁT, ĐƯỜNG THẺ . Như tôi đă tŕnh bày về đường cát đường thẻ
rồi. Người bệnh tiểu đường loại 2, mỡ (cholesterol) cao, đóng vào thành
mạch máu tim và nảo dể đưa đến nhồi máu cơ tim (heart attack) hay tai biến
mạch máu nảo (stroke). Nên tránh mỡ là điều rất quan trọng để ngừa những
biến chứng này. Ngoài ra 1 gram mỡ hoặc dầu cho 9 calories trong khi 1
gram đường cho ra 4 calories. Số calories trong mổi bửa ăn càng cao,
đường trong máu càng lên cao. Ăn nhiều năng lượng quá trong cùng một lúc
sẻ mập và bệnh càng nặng hơn.
Để tránh ăn cùng một lúc qúa nhiều đường, ta ăn làm nhiều lần. Ta nên ăn
làm 6 lần, 3 bửa ăn chính và 3 bửa ăn lót ḷng. Mổi lần ta ăn ít thôi.
Mổi ngày ta có 8 giờ nghỉ ngơi và ngũ, 16 giờ làm việc và sinh hoạt. Cho
nên, mổi 3 giờ, chúng ta nên ăn một lần và ăn với số lượng ít. 3 bửa ăn
chính: ăn điễm tâm (breakfast), ăn trưa (lunch), ăn tối (dinner or
supper). Giữa 2 bửa ăn chính, ta ăn nhẹ (snack). Ăn như vậy có những
điều lợi sau đây:
v
Ăn
nhiều lần ta có thể ăn ít đi. Làm thế nào để cho bệnh nhân ăn nhiều lần
và đừng ăn nhiều trong mổi lần, tôi sẻ đề cập trong phần điều trị sau.
v
Giữ đường trong máu không cao quá mà cũng không thấp quá
Thay v́
ta nhịn cơm để ăn trái cây tráng miệng, ta ăn trái cây vào bửa ăn lót ḷng
(snack). Ta phải ăn nhiều trái cây chia ra làm nhiều lần trong ngày. V́
trái cây có nhiều sinh tố (vitamins) cần cho sự dinh dưỡng trong cơ thể.
Hơn nửa, trái cây có nhiều chất sợi và những chất nhuận trường thiên nhiên
giúp ta tránh được táo bón.
Rau cải có nhiều chất sợi, sinh tố như trái cây, và những chất có thể
chống ung thư. Như broccoli, giá sống chứa chất chống lại sự tăng trưởng
của ung thư vú, phổi, và ruột già ( breast cancer, lung cancer, and colon
cancer).
Mổi người bệnh tiểu đường loại 2 nên có máy thử đường tại nhà để theo dỏi
sự ăn uống của ḿnh. Nhưng đường trong máu cũng như thời tiết, có lúc lên
lúc xuống. Nhưng số lần đường trong máu cao phải ít hơn số lần đường
trong máu b́nh thường. Đừng hoảng hốt lo sợ, v́ lo sợ, hoảng hốt có thể
làm đường trong máu lên cao.
Tôi không nghĩ là những điều tôi đề nghị làm cho bệnh nhân khó theo. Có
một điều khó tin nhưng là sự thật: ai ăn một bửa cơm mổi ngày sẻ dể bị
mập hơn là người ăn nhiều lần mổi ngày!
Ở Việt Nam, tôi ăn mặn quen rồi. Bác sỉ bảo tôi ăn lạt, làm sao tôi ăn
được?
Đúng! Việt Nam là một xứ nóng, chúng ta đổ mồ hôi nhiều. Có nhiều
chất muối trong mồ hôi, nên mồ hôi
mặn. Tôi không ngạc nhiên là thực phẫm tại Việt Nam quá mặn. Ở Bắc Mỹ,
khí hậu ôn đới như ở Mỹ và khí hậu của Bắc Cực của Canada (ngoại trừ
Vancouver), chúng ta ít đổ mồ hôi, nên lượng muối ăn vào ít được thải ra
ngoài. Khi muối trong máu nhiều sẻ giử nước trong cơ thể nhiều và đưa đến
vấn đề phù thủng, mệt cho tim và phổi… Nhất là người bị cao huyết áp
(high blood pressure), yếu hay suy thận (renal impairment or renal
failure) và người mập phệ (có cân nặng/chiều cao > 28), sự giữ nước trong
cơ thể quá nhiều sể gây ra hậu qủa trầm trọng. Cho nên, những người bị
bệnh tiểu đường loại 2 đi đôi với cao áp huyết chỉ ăn 2,4 grams muối mổi
ngày. Có nghỉa là ăn rất lạt. Điều này, chúng ta tập dần sẻ quen v́
chúng ta không có nhu cầu nhiều muối như ở Việt Nam.
Những người bệnh tiểu đường loại 2 không có cao huyết áp hay suy thận, ăn
khoảng 3 grams muối mổi ngày. Có nghỉa là ăn lạt hơn người b́nh thường
một chút. Những người bệnh tiểu đường loại 2 với suy thận, ăn ít hơn 2
grams muối mổi ngày. Có nghỉa là nêm rất ít muối vào thức ăn khi nấu
nướng, và không thêm mắm hay muối khi ngồi lên bàn ăn. Ăn rất lạt.
Tôi uống bia lâu rồi, chú không uống rượu và tôi có bệnh tiểu đường. Bỏ
bia rượu đời lạt lẻo vô vị. Tôi uống bia được không?
Bia và rượu là hai sản phẫm khác
nhau nhưng có chung một đặc tính. Đó là chứa chất rượu (alcohol). Bia
chứa chất rượu ít hơn, từ 2% cho đến 6% tùy theo loại bia. Rượu mà mọi
người thường gọi có nhiều loại khác nhau: rượu nho (wine) chứa 10%-15%
chất rượu (alcohol) được tiêu thụ nhiều ở đất Bắc Mỹ và Âu Châu. Rượu
mạnh như whisky, cognac hay brandy chứa từ 30%-45% chất rượu. C̣n các
loại rượu do những người dân không chuyên nghiệp làm lấy như home-made
wine hoặc rượu đế hay rượu nếp ở Việt Nam th́ nồng độ rượu vô chừng, có
thể từ 10% cho đến 60% chất rượu (như rượu tắt-kè). Cho nên người bị bệnh
tiểu đường phải nên biết ḿnh uống bao nhiêu chất rượu vào người chứ không
phải loại nào. Người bệnh nên tránh “home-made wine” và rượu đế hay rượu
nếp của Việt Nam. V́ chúng ta không biết rỏ thành phần rượu trong các
loại rượu này.
Khi uống
nhiều rượu, nảo bộ của ta dể quên đi những điều ǵ ta nên làm như tập thể
dục, uống thuốc đúng giờ. Cho nên uống rượu phải tùy thuộc hoàn cảnh của
bệnh nhân. Tốt hơn hết, người bệnh phải hỏi bác sỉ của ḿnh trước khi
uống.
v
Bệnh tiểu
đường loại 1: lúc đường trong máu chưa ổn định không nên uống bia hay
rượu. Nếu đường trong máu đă ổn định một thời gian vài tháng, có thể uống
1-2 lần bia hay rượu trong những bữa ăn trong một ngày. Mổi lần uống 1
chai bia 12 oz, hoặc môt ly rượu nho (wine) 5 oz, hoặc whisky hay cognac
1,5 oz. Chỉ được uống trong bữa ăn, không ăn không uống rượu. Người
nghiện rượu và đàn bà có thai hay muốn có thai, tuyệt đối không nên uống
rượu dù trong hoàn cảnh nào.
v
Bệnh tiểu
đường loại 2: theo sách vở th́ bệnh nhân có thể uống bia hoặc rượu ít nếu
họ không có những biến chứng như cao áp huyết, cao mỡ, suy thận … Nhưng
theo kinh nghiệm của tôi, những người Việt với bệnh tiểu đường loại 2
thường có loại thấp khớp (phong thấp) cấp tính gọi là thống-phong (gout)
do uric acid trong máu lên cao đột ngột. Uric acid gia tăng nhanh chóng
sẻ đi vào trong các khớp xương và làm sưng đỏ nóng đau các khớp. Sự đau
đớn làm bệnh nhân không tài nào ngủ được. Nó thường xảy ra ở đầu gối, cổ
chân, ngón chân cái làm bệnh nhân không đi được. Điều này làm bệnh nhân
không tập thể dục được. Kết qủa là đường trong máu lên cao. Theo ư kiến
của tôi là bệnh nhân tiểu đường loại 2 không nên uống rượu. Hơn nửa,
người Việt sanh đẻ tại Việt Nam có tỉ lệ 20% bị mang siêu vi trùng viêm
gan B và C (hepatitis B & C). Những người này uống rượu lâu ngày, họ có
cơ hội rất cao bị ung thư gan (liver cancer) hay chai gan/sơ gan (liver
cirrhosis). 2 bệnh này đều đưa đến cái chết dù có thay gan (liver
transplant). Nếu bệnh nhân muốn uống rượu, nên hỏi bác sỉ của họ trước.
Tôi muốn xuống cân nên tôi ăn ít. Vậy tôi có cần uống sinh tố mổi ngày
hay không?
Nếu tỉ lệ cân nặng trên
chiều cao (BMI) lớn hơn 23 ở người Việt (25 cho dân da trắng hay đen),
người bệnh tiểu đường nên giăm cân. Trước khi làm quyết định này, người
bệnh cần bàn với bác sỉ gia đ́nh của họ trước.
Trên nguyên tắc, chỉ được giăm 10% cân nặng của cơ thể mổi năm. Ví dụ, cơ
thể ta cân nặng 70 kg chỉ nên giăm 7 kg trong năm đầu tiên. Năm tới, ta
chỉ giăm 6,3 kg (v́ lúc này cân nặng là 63 kg). Muốn giăm cân, ta giăm số
lượng thực phẩm và tăng thời gian thể dục. Giăm bao nhiêu thực phẫm, ta
nên bàn luận với chuyên viên dinh dưỡng (dietician). Ở những nơi không có
chuyên viên dinh dưỡng, người bệnh có thể làm theo nguyên tắc sau:
v
Giăm ¼
hay 1/3 số lượng thực phẫm họ đang ăn.
v
Cắt bỏ
tất cả các loại mỡ động vật trong thịt cá trước khi nấu nướng.
v
Giăm đến
tối thiểu các loại dầu thực vật khi nấu ăn.
v
Số lượng
c̣n lại, ta giăm những chất bột như gạo, ḿ, bánh ḿ…
Nếu chỉ
giăm ăn mà không thể dục cũng không tốt và không thành công. Chúng ta
không làm tiêu hao năng lượng trong cơ thể th́ chúng ta không giăm cân
được. Đi bộ từ 5-10 cây số (km) mổi ngày sẻ giúp ta khoẻ mạnh và giăm cân
nhanh. Sự giăm cân giúp đường trong máu dể điều chỉnh hơn và ta không cần
uống nhiều thuốc như lúc mập phệ. Sự giăm cân giúp cho sự đề kháng
insulin trong cơ thể cũng giăm đi rất nhiều ở những người mập phệ. Những
người ốm lại có sự đề kháng insulin cao đặc biệt xăy ra ở người Việt th́
rỏ ràng không cần giăm cân mà cần cách trị liệu khác.
Những người mập phệ phải giăm số lượng thực phẫm hàng ngày. Họ phải uống
một viên đa sinh tố (multivitamins) hàng ngày. Thường một viên đa sinh tố
chứa vào khoảng 400 mcg folic acid có lẻ đủ cho người bệnh tiểu đường loại
2. Những người bị thiếu máu cơ tim (ischemic heart disease) đă được thông
tim (coronary angioplasty) cần có 1mg folic acid mổi ngày, 400 mcg vitamin
B12 mổi ngày, và 10 mg pyridoxine mổi ngày. Với những số lượng sinh tố
nàyđă được chứng minh là ngăn ngừa động mạch vành tim bị nghẻn trở lại.
V́ những lượng sinh tố vừa kể làm giăm số lượng homocysteine trong máu.
Sinh tố và khoáng chất (minerals)
cần thiết cho cơ thể. B́nh thường những người ăn uống đầy đủ (ăn đủ loại
thực phẫm trong mổi bửa ăn), không cần uống sinh tố hay khoáng chất.
Ngoại trừ những trường hợp sau:
v
Muốn giăm
cân nặng của cơ thể nhiều.
v
Những
người không ăn thịt và cá hoặc ăn chay trường.
v
Những
người già ăn uống kém.
v
Những
người có thai hay cho con bú.
v
Những
người uống thuốc có ảnh hưởng đến sinh tố.
v
Những
người có đường trong máu quá cao và có nhiều đường trong nước tiểu.
v
Những
người suy dinh dưỡng.
v
Những
người suy tim (heart failure) hay những người bị nhồi máu cơ tim (heart
attack)
v
Những
người bị suy thận (kidney failure/renal failure).
Tuy nhiên
thừa sinh tố cũng không tốt. Sinh tố không có nghiả là uống càng nhiều
càng tốt. Ví dụ như sinh tố A (vitamin A), nếu uống nhiều quá sẻ bị tăng
áp lực trong nảo và làm nhức đầu, ói mữa dử dội. Trước khi uống sinh tố
hay khoáng chất phải hỏi bác sỉ gia đ́nh trước.
Tôi nghỉ là tôi mập! và cần xuống cân. Số lượng thực phẫm tôi phải ăn là
bao nhiêu
Hầu hết các cô, các bà nghỉ ḿnh mập! Đa số các ông và thanh niên không
nghỉ là ḿnh mập! mà cho là “đô con” (to lớn, vạm vở). Chử mập trong y
học không phải là sự suy nghỉ (ấn tượng- impression) của mọi người về ḿnh.
Mập trong y học căn cứ vào cân nặng và chiều cao hay người Bắc Mỹ gọi là
BMI (Body Mass Index).
Theo kinh nghiệm của tôi và nhiều bác sỉ gia đ́nh cùng với bác sỉ chuyên
về nội tiết/tiểu đường (endocrinologist/diabetologist) cho rằng người Việt
nên theo tiêu chuẩn sau đây:
v
BMI nhỏ
hơn 18 gọi là ốm, suy dinh dưỡng.
v
BMI từ
18-23: cân nặng lư tưởng
v
BMI từ
24-28: mập (overweight)
v
BMI lớn
hơn 28: mập phệ (obesity)
v
Mập phệ
có 3 hạng: 1, 2, và 3.
Mập phệ
là nguy hiễm cho sức khoẻ. Càng nặng cân càng dể mắc bệnh tiểu đường.
Để chính xác số lượng thực phẫm
người bệnh phải ăn hàng ngày, ta phải hỏi
chuyên viên dinh dưỡng (dietician). Nếu ai không t́m được chuyên
viên dinh dưỡng, có thể theo những nguyên tắc sau đây (Nhưng không bằng
chuyên viên dinh dưỡng):
v
BMI=18-23: người bệnh vẩn ăn số lương thực phẫm họ ăn mổi ngày.
v
BMI > 23
·
Giăm ¼
cho đến 1/3 số lượng thực phẫm mổi ngày.
·
Giăm 50%
số lượng thịt cá mổi ngày (nếu ăn quá nhiều thịt cá th́ giăm 75%). Nếu ai
đă ăn ít thịt cá th́ không nên giăm.
·
Cắt bỏ
tất cả mỡ động vật – giăm dầu thực vật cho đến lượng tối thiểu đủ để nấu
nướng.
·
Số c̣n
lại giăm chất bột như gạo, bún, ḿ, bánh ḿ…
·
Tăng số
lượng trái cây và rau cải để bù vào chổ trống của bao tử.
Những
việc tăng hay giăm thực phẫm nên bàn luận với bác sỉ của ḿnh. Mổi người
có những nhu cầu khác nhau, tôi không thể vắn tắc trong vài câu mà mô tả
được hết các nhu cầu của mổi người
Tôi sẻ bàn luận đến thành phần thực phẫm hơn là số lượng. Trong thực phẫm
có 3 nhóm dinh dưỡng chính.:
-
Chất
ngọt (glucid/carbohydrate) cho 4 calories trong 1 gram: cơm gạo, bánh ḿ,
bún…
-
Chất
đạm (protein) cho 4 calories trong 1 gram: có nhiều trong thịt cá và các
loại đậu
-
Chất mỡ
(lipid) cho 9 calories trong 1 gram: mỡ động vật, dầu thực vật.
Các thực
phẫm đều có những chất khác nhau như cơm gạo chứa hầu hết là chất bột
nhưng nó cũng có một ít chất đạm. Thịt chứa phần lớn chất đạm và 10% đến
50% chất mỡ, và một ít chất ngọt. Như thịt gà (thịt ức) không da có
khoảng 10% mở nhưng thịt ba chỉ (ba rọi) chứa đến 50% mỡ. Đậu nành chứa
nhiều chất đạm và chất ngọt nhưng đậu phọng (peanut) chứa cả 3 loại: chất
ngọt, chất đạm, và dầu thực vật. Mỡ cá làm giăm cholesterol tạo ra bởi mỡ
thịt. Rau và trái cây có nhiều chất ngọt, sinh tố và rất ít chất đạm.
Chính những phức tạp này, tôi muốn bệnh nhân bàn luận với chuyên viên dinh
dưỡng hay bác sỉ gia đ́nh.
Trong vủ trụ, đấng tạo hoá tạo ra các sinh vật và cây cỏ. Sinh vật và cây
cỏ nuôi dưỡng cho nhau theo hệ thống tuần hoàn của thiên nhiên. Đấng tạo
hoá tạo ra một vật đều có cái tốt và cái xấu của nó. Thích hợp với ta gọi
là tốt. Không thích hợp với ta gọi là xấu. Và đấng tạo hoá cũng tạo ra
vật đối kháng của nó. Người Trung Hoa gọi là âm và dương. Ví dụ như mỡ
thịt heo, ḅ, gà… tạo ra cholesterol xấu cho máu. Ngược lại, các loại mỡ
cá nhất là mỡ cá nục, cá thu (sardine và meckerel) làm giăm cholesterol
xấu. Broccoli và giá có hoá chất ngăn chận ung thư vú, phổi và ruột già
phát triển. Mỡ là một trong những chất kích thích ung thư vú phát triển.
Dựa vào nguyên tắc này, ta nên ăn nhiều loại thực phẫm khác nhau. Càng
nhiều loại càng tốt. Và cũng dựa trên nguyên tắc này, ta ăn lượng vừa
phải ở mổi loại thực phẫm. Nếu ăn nhiều một loại thực phẫm, những yếu tố
xấu của nó sẻ tích tụ nhiều và ta có những vấn đề sức khoẻ. Hơn nửa, cơ
thể của ta cần nhiều loại dinh dưỡng khác nhau ở trong nhiều loại thực
phẫm khác nhau. Cơ quan y tế của Mỹ và Canada đă làm bản tóm tắc chia các
loại thực phẫm ta thường ăn thành 4 nhóm chính:
-
Thịt và
cá
-
Sữa và
các sản phẫm từ sữa.
-
Chất
bột
-
Rau và
trái cây
Chúng ta ăn uống như thế nào cho khoẻ mạnh?
Theo cơ quan y tế của Mỹ và Canada, mổi ngày ta ăn đủ 4 nhóm thực phẫm
chính như tôi vừa đề cập trên. Tổ tiên người Việt dạy rằng con cháu phải
ăn đúng giờ, ăn có rau có thịt và rau cải, trái cây. Những điều này rất
đúng. V́ 95% người Việt bị tiêu chảy khi uống sữa tươi. Họ mất đi phân
hoá tố (enzyme) lactase trong ruột khi lớn lên. Hơn nửa, người Việt sống
gần sông và biển nên họ ăn cá, tôm, cua và thực phẫm từ biển nênhọ có đủ
lượng calcium như sữa cung cấp calcium ở người Âu Mỹ.
Theo sự
quan sát của tôi người Việt tại quê nhà b́nh thường ăn khoảng 55%-75% chất
bột, 10%-20% dầu thực vật và 20%-40% mỡ động vật và 5%-10% chất đạm.
Những người Việt tại Bắc Mỹ ăn khoảng 40%-60% chất bột, 10% dầu thực vật,
20%-40% mỡ động vật và 10%-20% chất đạm.
Theo
College of American Endocrinologists, người bệnh tiểu đường loại 2 nên ăn
thành phần thực phẫm sau đây:
-
Chất
bột (carbohydrate) vào khoảng 50%-55%. Dầu thực vật vào khoảng 10%.
Theo ư kiến của tôi,
người Việt có thể ăn 50% chất bột. Về dầu thực vật không cần thay đổi.
V́ chúng ta ăn nhiều chất bột đă 10 ngàn năm qua.
-
Chất
bột có nhiều trong luá gạo, bánh ḿ, bún khoai, trái cây, sữa ít mỡ
(skim milk)…
-
Dầu
thực vật có nhiều trong các loại hạt: đậu (nut: peanut/đậu phọng),
trái bơ (avocado) trái olive (ô liu), dầu thực vật…
Những
thực phẩm này có nhiều chất sợi (fibers) giúp ruột già dể vận chuyển, ngừa
các bệnh ung thư: ruột già, vú, và phổi.
-
Thịt và
cá:
Người
Việt (Homo Sapiens) là hợp giống của chủng Đại Nam Á, chủng Đại Bắc Á, và
chủng Cổ Mă Lai (Indonesian bằng chứng ở nền văn hóa Ḥa B́nh). Họ định
cư tại vùng đồng bằng màu mỡ dọc theo bờ biển này. Khởi đầu, thực phẩm
chính là thịt và cá, thực phẩm phụ là ngủ cốc (lúa hoang, các loại hột,
rau, và trái cây) mà họ nhặt được từ môi trường chung quanh. Họ nuôi súc
vật để lấy thịt và sửa. Từ khi họ biết trồng cây lúa hoang (lúa Leviant),
cơm gạo có nhiều nên thành phần thực phẩm đă thay đổi qua 10 ngàn năm. Số
lượng thịt cá ta ăn lúc c̣n tại quê nhà là 10% hay ít hơn của tổng số
lượng thực phẩm mổi ngày.
Theo hội của các chuyên gia về tiểu đường ở Mỹ (College of American
Endocrinologist), số lượng chất đạm (protein) từ 10-20% thức ăn mổi ngày.
V́ chất đạm động vật (animal protein) làm thận làm việc tích cực (overfiltration)
sẻ mau mệt. Người bệnh tiểu đường với yếu thận hay suy thận (kidney
impairment or kidney failure) ăn chất đạm nhiều hơn 10% sẻ mau hư thận.
Không có nghiả không ăn thịt cá sẻ tốt. Theo tôi, người Việt với bệnh
tiểu đường không có biến chứng ở thận nên ăn khoảng 10% chất đạm nói chung
(chất đạm động vật và chất đạm thực vật: từ cá thịt và các loại đậu). Hơn
nửa, ăn ít cá và thịt làm giăm mỡ trong máu (cholesterol) người bệnh và
ngừa bệnh về tim mạch.
Tiến Sỉ Greg Arsenis của Mỹ làm một cuộc khảo cứu và nhận thấy rằng: nếu
bệnh nhân tiểu đường ăn thật ít thịt và cá (animal protein). Một bửa thịt
và cá trong mổi 2 ngày, và ăn đầy đủ số lượng thực phẩm không bị mất cân.
Lượng đường trong máu sể giăm 30% so với những người ăn uống b́nh thường (có
giăm số lượng thực phẩm để xuống cân). Và ông nhận thấy số lượng mỡ (cholesterol)trong
máu giăm 60%. Không ăn thịt cá ở thí nghiệm này có nghỉa là không ăn chất
đạm động vật và chỉ ăn chất đạm thực vật (vegetable protein) từ các loại
đậu, trái cây và rau. V́ nhiều chất đạm động vật sẻ làm cơ thể tiết ra
nhiều insulin. Insulin làm cho cơ thể tiết ra nhiều adrenalin làm tăng
huyết áp và làm insulin càng không hoạt động hửu hiệu. Điều này làm gia
tăng sự đề kháng insulin và đưuờng trong máu lên cao. Điều này không có
nghỉa không ăn chất đạm động vật sẻ tốt. Chất đạm động vật có những chất
dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể của ta nhưng ta không nên ăn nhiều quá.
Có người sẻ hỏi: đường từ chất bột cũng làm gia tăng insulin trong máu.
Tại sao tôi lại khuyên người bệnh ăn nhiều chất bột và ít chất đạm? Xin
thưa rằng: ở người b́nh thường, chất đạm, chất bột, và chất mỡ đều làm gia
tăng insulin nhờ vào những cơ quan căm ứng (glucose, protein and lipid
receptors) trong tuyến tụy (pancreas) phát hiện sự tăng những chất này
trong máu lên cao và bài tiết insulin nhiều hay ít tùy theo số lượng trong
máu. Ở người bệnh tiểu đường không điều chỉnh lượng đường trong máu lâu
ngày làm hư cơ quan căm ứng với đường và tuyến tụy không bài tiết insulin
nếu ta chỉ ăn đường thôi.
-
Rau và
trái cây: như tôi đă tŕnh bày ở phần chất bột, rau và trái cây cho
nhiều chất ngọt, sinh tố (vitamins), và chất sợi (fiber). Chất bột
trong trái cây và rau chứa nhiều đường fructose. Mọi người sẻ nghỉ là
ăn nhiều trái cây sẻ làm tăng đường trong máu cao. Điều này chỉ đúng
một phần nhỏ là nếu ta ăn cùng một lúc quá nhiều. V́ đường fructose
không làm tăng đường trong máu tăng nhanh như đường cát (glucose). Nó
phải được thoái biến trong cơ thể thành đường glucose. Nên mất thời
gian dài hơn mới làm đường trong máu lên cao. Trong thời gian đó
insulin đă đem đường vào trong gan và bắp thịt một phần rồi. Nếu ta ăn
1 trái xoài nhỏ hoặc 1 trái chuối hoặc 1 múi sầu riêng vào giữa 2 bữa
cơm th́ chúng không làm đường trong máu tăng lên cao.
Ngoài ra,
sinh tố và chất sợi nhiều trong trái cây và rau, đậu c̣n có nhiều chất đạm
thực vật. Như đậu nành làm tàu hủ chưá hầu hết các chất đạm căn bản
(essential amino acids) cho cơ thể. Ngoài ra, đậu nành (soya bean) và
khoai lang (yam) chứa nhiều chất kích thích tố sinh dục nử như estrogen
thiên nhiên giúp cho người đàn bà cứng xương và giăm triệu chứng sau khi
tắt kinh (menopause). Đàn ông ăn vào làm cho mát, dịu được tính nóng nảy
và mất ngủ.
Hiển
nhiên, rau đậu và trái cây rất cần thiết cho người b́nh thường cũng như
người bệnh tiểu đường. Ăn rau đậu trong 3 bữa ăn chính. Và ăn trái cây
trong 3 bữa ăn phụ (snacks) giúp điều chỉnh đường trong máu và làm ta được
khoẻ mạnh.
-
Sữa và
sản phẫm từ sữa: Sữa mà tôi đề cập đến là sữa ḅ tươi (homomilk). Sản
phẫm từ sữa như phô-ma (cheese), egg nog… Sữa có nhiều chất đạm,
calcium và chất ngọt (glucid) nhưng nó không có chất sắt (iron). Nên
chúng rất tốt cho những người bị bệnh loảng xương (osteosporosis) nhất
là phụ nử. V́ thế, uống sữa là bổn phận của qúi cô, qúi bà. Uống lúc
c̣n trẻ, trước 40 tuổi có lợi nhiều hơn sau khi tắc kinh. Tuy nhiên
những người lớn tuổi (đàn ông và đàn bà) vẩn cần nhiều calcium trong sữa
nếu không ăn đồ biển nhiều (hầu hết người Bắc Mỹ không ăn đồ biển mổi
ngày). Ở trẻ con trên 12 tháng, uống sữa vẩn có lợi nhưng có những vấn
đềthường xảy ra ở trẻ con Việt Nam. Đó là bệnh thiếu máu do thiếu chất
sắt. Các bà mẹ v́ chiều con hay sợ con ốm nên khuyến khích con của ḿnh
uống sữa nhiều như lúc c̣n dưới 12 tháng. Kết qủa là đứa bé uống nhiều
sữa và có căm giác no. Nó không muốn ăn. Càng uống sữa nhiều hơn và
càng ăn những thực phẫm khác ít hơn. Kết qủa là đứa bé bị thiếu chất
sắt. Đứa bé trở nên trắng trẻo và có nhiều mỡ hơn. Cha mẹ lại mừng
nhưng không biết con của ḿnh càng lúc càng yếu hơn và dể đau bệnh hơn
v́ thiếu máu.
Người
tiểu đường loại 2 nên uống sữa không có mỡ (skim milk) hoặc có ít mỡ (1%
or 2% milk). Không nên ăn phô-ma (cheese) nhiều v́ có nhiều mỡ (bad
cholesterol). Có một vấn đề mà bác sỉ da trắng ít để ư đến. Đó là 95%
người Việt uống sữa tươi bị tiêu chảy (lactose intolerance). Người Việt
dùng yếu điểm này làm một việc tốt. Họ uống sữa để dể đi tiêu (bowel
movement). Nhưng làm như vậy, chúng ta không có calcium vào máu. Để khỏi
bị tiêu chảy và đau bụng, ta pha 20 giọt Lactaid (chứa lactase) vào mổi
lít sữa tươi. Lắc đều và giữ trong tủ lạnh 24 giờ trước khi uống.
Nếu những
nơi thiếu sữa tươi hay không có sữa tươi như ở Việt Nam, ăn nhiều cá, tôm
cua hay đồ biển cũng có nhiều calcium. Nhưng, ăn tôm nhớ bỏ đầu và
ăn cua bỏ gạch. V́ gạch của tôm cua có nhiều mỡ xấu (bad
cholesterol).
BẢNG TÓM TẮT VỀ CÁCH ĂN UỐNG
Tóm lại
người b́nh thường hay người bị bệnh tiểu đường phải ăn đầy đủ 4 nhóm thực
phẫm chính. Để biết số lượng chính xác nên hỏi chuyên viên dinh dưỡng
(dietician). Tôi có thể tóm tắc vấn đề ăn uống đă bàn luận trong những
nguyên tắc sau đây:
MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM
CỦA NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
-
Về
năng lượng:
v
Ăn cho đủ
để giữ cân nặng vừa phải. BMI = 18-23 ở người lớn.
v
Ăn cho đủ
để trẻ em tăng trưởng và phát triển đầy đủ.
v
Ăn cho đủ
để người đàn bà có thai hay cho con bú không bị mất sức.
-
Về
chất đạm (protein):
v
10% của
tổng số khẩu phần hàng ngày. Nói cách khác là giăm bớt cá và thịt.
v
Ở người
yếu thận hay suy thận (kidney impairment or kidney failure): 1 gram thịt
và cá cho mổi kg cân nặng của người bệnh.
-
Về
mỡ (lipid): mỡ và dầu.
v
20% của
khẩu phần: gồm 10% mỡ động vật và 10% dầu thực vật. Có nghiă là bỏ tất cả
mỡ động vật ta thấy được.
-
Về
chất bột và chất ngọt: (carbohydrate)
v
Cơm gạo,
bún, bánh ḿ, khoai củ...chiếm 50%, bao gồm chất sợi.
-
Về
các chất ngọt khác: không phải đường glucose
v
Sucrose:
ăn theo khả năng của ḿnh, dùng để thế cho đường làm chất ngọt trong thực
phẫm.
v
Dùng làm
đường cho người tiểu đường.
-
Về
chất sợi:
v
Ăn tối
thiểu 35 grams mổi ngày. Có nghiả là khoảng 100 grams rau cải.
v
Ăn tối đa
là 1 kg mổi ngày. Ăn nhiều sẻ bị khó chịu bao tử và ruột.
-
Về
muối mắm:
v
Ăn dưới 3
gram sodium mổi ngày, có nghiả là 7 grams muối ăn nếu không có biến chứng
ở thận hay cao áp huyết.
v
Ăn dưới
2,4 grams sodium mổi ngày có nghiả là 6 grams muối ăn mổi ngày nếu có cao
áp huyết.
v
Ăn dưới 2
grams sodium mổi ngày, có nghiả là khoảng 4,5 grams muối mổi ngày nếu có
suy thận. Ăn rất là lạt.
-
Về
bia và rượu:
v
Mổi ngày
không uống nhiều hơn 2 chai bia (12 oz mổi chai)
v
Hoặc 2 ly
whisky hay cognac (1 ½ oz mổi ly)
v
Hoặc 2 ly
rượu nho (5 oz mổi ly)
v
Chỉ uống
trong bữa ăn.
v
Người
nghiện rượu, đàn bà có thai, và trẻ em không được uống bia hay rượu
v
Tốt nhất
là không uống rượu v́ người bệnh tiểu đường uống nhiều loại thuốc. Rượu
có thể ảnh hưởng đến dược tính và dể bị viêm gan nếu uống với thuốc hạ mỡ
(statin hay fibrate).
-
Về
Sinh Tố và khoáng chất: Vitamins and minerals
v
Như những
người không có bệnh tiểu đường và nên tham khảo với bác sỉ của ḿnh trước.
-
Cách
ăn uống:
v
Ăn đúng
giờ và ăn làm 6 bữa.
v
3 bữa
chính: ăn điểm tâm, ăn trưa, và ăn chiều (breakfast, lunch, and dinner).
Ăn vừa, ăn đủ, và không ăn ráng.
v
3 bữa phụ
hay lót ḷng (snacks)
Tôi hy
vọng 10 điều tâm niệm này giúp cho mọi người bệnh ở mọi tầng lớp dể hiểu
và làm theo.
TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2 BẰNG TẬP THỂ DỤC
TẠI SAO PHẢI TẬP THỂ DỤC KHI CÓ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI
?
Bệnh tiểu
đường liên quan đến lượng insulin trong cơ thể. Tiến sỉ Andrea M. Kriska
của đại học Pittsburg, Pennsylvania cùng với các bác sỉ và tiến sỉ của các
đại học Boston, Phoenix, Victoria (Úc), Newcastle upon Tyne (Anh), bộ y tế
của đảo Mauritius và các cơ quan pḥng dịch (CDC) tại Atlanta (Mỹ) đă làm
cuộc khảo cứu về bệnh tiểu đường của người thổ dân Pima tại Gila River
Indian Community thuộc tiểu bang Arizona vào năm 1987, và cuộc khảo cứu
tương tự về người dân đảo Mauritius gần đảo Madagasca thuộc Phi Châu vào
năm 1992.
Kết quả cho thấy sự khác biệt về số người bị mắc bệnh tiểu đường của 2
nhóm nói trên. Người thổ dân Pima có tỉ lệ những người mập nhiều hơn, và
họ ít có những hoạt động hàng ngày. Số lượng insulin trong máu của những
người thổ dân này cao hơn người ở đảo Mauritius và họ bị bệnh tiểu đường
nhiều hơn. Trái lại người ở đảo Mauritius hoạt động nhiều hơn và có số
lượng insulin trong máu thấp hơn và có tỉ lệ bệnh tiểu đường thấp hơn.
Hai cuộc khảo cứu trên đă chứng minh rằng sự hoạt động bằng chân tay làm
giăm sự phát triển của bệnh tiểu đường.
Mục đích của sự điều trị bệnh tiểu đường là làm giăm đường trong máu xuống
khoảng 4-6 mmol/L (73-109 mg/dL). Như tôi đă đề cập về cách điều trị bệnh
tiểu đường với 3 phương pháp: cách ăn uống, thể dục, và thuốc men. Thể
dục là phương pháp quan trọng nhất. Chúng ta cũng nên t́m hiểu qua vài
chi tiết về bệnh tiểu đường có liên quan đến thể dục
-
Khởi
đầu người bệnh tiểu đường loại 1 do thiếu insulin trong máu. Những
người này có biến chứng về tim mạch, nảo, mắt thận… ít hơn bệnh tiểu
đường loại 2. Thể dục thể thao vẩn có nhiều hửu ích cho sự điều chỉnh
đường trong máu. Nó làm giăm số lượng insulin cần thiết cho cơ thể.
-
Khởi
đầu người bệnh tiểu đường loại 2 có dư hoặc nhiều insulin hơn cơ thể cần
dùng. Nhưng cơ thể của họ không xữ dụng insulin đúng mức trong sự tiêu
hoá đường (glucose) trong máu. Hay c̣n gọi là sự đề kháng insulin. Khi
insulin trong máu lên cao, cơ thể người bệnh tiết ra nhiều adrenalin.
Chính insulin làm cho cơ thể không xữ dụng insulin đúng mức. Hậu quả là
đường trong máu lên cao. Có những yếu tố gây ra bệnh tiểu đường loại 2
theo William’s Textbook of Endocrinology 2003:
1.
Di truyền
2.
Tuổi tác và giống dân: người càng lớn tuổi càng dể mắc bệnh tiểu
đường. Và người Á Châu, thổ dân Mỹ Châu mắc bệnh tiểu đường nhiều hơn dân
da trắng.
3.
Cách sống của dân chúng: mập phệ, ít hoạt động, cách ăn uống, sống
theo kiểu tây phương (westernization), thành thị hoá (urbanization), hiện
đại hoá (modernization)
Chúng ta
thấy yếu tố cách sống của dân chúng là do thiếu hoạt động. Có thể ta chưa
đổi được yếu tố di truyền, tuổi tác và màu da nhưng ta có thể thay đổi
được cách sống bằng cách hoạt động nhiều hơn hay tập thể dục.
Như tôi đă tŕnh bày trong câu hỏi trước, người bệnh tiểu đường
loại 2 có liên quan đến cân nặng và mỡ trong máu. Những người bệnh tiểu
đường loại 2 hầu hết cân nặng hơn người b́nh thường hay bị mập phệ
(obesity). Mỡ của họ ở nhiều ở bụng. Mỡ ở bụng phân tán ra và cho nhiều
những mỡ tự do trong máu (free fatty acids). Những mỡ này đóng vào màng
tế bào gan và bắp thịt và tích tụ nhiều trong những tế bào này. Mỡ tự do
ngăn cản sự vận chuyển đường vào tích trữ trong gan và bắp thịt. Kết quả
là đường trong máu lên cao. Nếu một người mập mà chỉ ăn kiêng và không
thể dục th́ họ khó mà xuống cân và có thể bệnh đau. Khi người bệnh vận
động, sự tiêu hoá mỡ trong bắp thịt gia tăng gấp 2 lần b́nh thường. Người
bệnh sẻ mất cân, đặc biệt là mỡ bụng giăm đi nhiều. Sự đề kháng insulin
sẻ giăm và đường trong máu sẻ được quân b́nh.
Nhà khoa học Hurley và các cộng sự viên (textbook of sport injuries) đă
chứng minh điều này trên thực tế qua một cuộc thử nghiệm sau:
1.
Giai đoạn 1: Đo lượng đường và mỡ trong bắp thịt của 9 người đàn
ông sau 12 tuần lể giăm khẩu phần thực phẫm tới mức độ mà 9 người này vẩn
c̣n khoẻ mạnh.
2.
Giai đoạn 2: Huấn luyện 9 người này trong các bộ môn thể thao và
cho ăn uống đầy đủ. Sau 12 tuần lể, ông Hurley ghi nhận rằng sự biến
dưỡng đường và tiêu thụ mỡ triglycerides tăng lên gấp 2 lần b́nh thường.
Điều này cho thấy rằng việc tập thể dục thể thao giúp cơ thể giăm đường và
mỡ trong máu và bắp thịt, nhanh hơn là chỉ giăm khẩu phần ăn uống.
Hơn nữa người ta nhận thấy rằng khi insulin tiếp xúc tế bào của bắp thịt ở
người b́nh thường, những phu khuân vác đường (GLUT-4) cũa bắp thịt xuất
hiện nhiều ở những nơi tiếp xúc và vận chuyển đường vào trong bắp thịt. Ở
người bệnh tiểu đường loại 2, những phu khuân vác đường (GLUT-4) này không
xuất hiện nhiều như ở người b́nh thường. Họ vẩn chưa giải thích được
nguyên do một cách rỏ ràng. Theo William’s Textbook of Endocrinology,
hiện tượng đường đi vào tế bào gan và bắp thịt gia tăng khi tập thể dục có
lẻ không do insulin tác động vào. Sự tiếp thu đường của tế bào gan và bắp
thịt qua 2 lối: lối do insulin kích động (PI3K: PhosphatilInositol
3-Kinase) và lối không do insulin kích động (MAPK:
Mitogen Activated Protein
Kinase). Khi có sự đề kháng insulin, đường đi qua lối do insulin
kích động giăm đi nhiều. Có nhiều bằng chứng cho thấy khi tập thể dục, sự
co thắt bắp thịt và nhu cầu dưỡng khí (oxygen) gia tăng kích thích tố MAPK,
và tạo ra nhiều activated mitogen protein (AMP). AMP giúp tạo ra nhiều
5-aminoimidazole-4-carboxamide ribonucleozide (AICAR). Chính AICAR giúp
gia tăng phu khuân vác đường (GLUT-4) của tế bào bắp thịt xuất hiện ở màng
tế bào bắp thịt. Do đó có sự hấp thu đường vào bắp thịt. Các nhà khoa
học làm thí nghiệm chích vào 2 chân sau của con chuột và 2 bắp thịt,
soleus và gastrocnemius ở chân người. Kết quả là số lường đường hấp thu
vào những bắp thịt của chuột và người gia tăng lên 2 lần lúc chưa chích
chất AICAR. Những khảo cứu này cho thấy tập thể dục có tác dụng làm giăm
đường trong máu của người bệnh tiểu đường cũng như người b́nh thường.
Hai cơ chế nói trên đă nói lên tầm quan trọng của thể dục trong sự sửa
chửa những sai lầm của những cơ chế gây ra bệnh tiểu đường loại 2. Như
tôi đă tŕnh bày trong phần biến chứng của bệnh tiểu đường loại 2 gây ra ở
những cơ quan trong người đều do đường trong máu lên cao lâu ngày. Sở dĩ,
tôi cho tập thể dục quan trọng nhất trong 3 phương pháp điều trị là v́
chúng ta làm theo tự nhiên (vận động) và làm cho cơ thể ta khoẻ mạnh hơn.
TÔI KHÔNG TẬP THỂ DỤC THƯỜNG XUYÊN. NẾU TÔI MUỐN BẮT ĐẦU TẬP THỂ DỤC, TÔI
PHẢI LÀM G̀ CHO AN TOÀN?
Tập thể
dục hay hoạt động có thể chia ra làm 3 mức độ khác nhau:
-
Tập nhẹ
(light activities): những hoạt động làm tăng nhịp tim rất ít, không làm
tăng huyết áp ngoại trừ tập trên 10 phút. Những hoạt động như làm việc
nhà nhẹ, đi bộ chậm rải (dưới 2 cây số/giờ), tập thái cực quyền (Tai
Chi), vận động tay lúc đang ngồi trên ghế, đánh golf dùng xe tự động,
tập thể dục trong hồ tắm (aquatic exercises)…
-
Tập thể
dục vừa phải (moderate exercises): những hoạt động làm hơi thở của ta
nặng nề hơn, nhịp tim hơi tăng khoảng trên 100 nhịp mổi phút. Những
hoạt động này như đạp xe đạp 8,8 cây số một giờ, đi bộ 5 cây số một giờ,
chơi golf và tự ḿnh mang đồ nghề của ḿnh và đẩy xe (golf cart) không
có máy tự động, chèo ghe (rowling) 4 cây số một giờ, bơi (swim) 400 mét
mổi giờ, đánh tennis đôi (doubles tennis)…
-
Tập thể
dục thật tích cực (strenous exercises): những vận động hết sức ḿnh
hoặc thật nặng nề làm ta thở hổn hển, thở nhanh, nhịp tim gia tăng từ
120-160 nhịp mổi phút. Những hoạt động này như khiêu vũ thật tích cực
(vigorous dancing), đạp xe đạp 16 cây số mổi giờ (bicycling), chẻ củi
hay cưa cây, chạy chậm (jogging) 8 cây số một giờ, chơi tennis đơn
(single tennis), hay leo đồi 30 mét mổi giờ (hill climbing)…
Trước khi
bắt đầu chương tŕnh thể dục, tất cả những người bệnh tiểu đường dù loại 1
hay loại 2 đều phải được bác sỉ khám tổng quát (general check-up) và thảo
luận với bác sỉ gia đ́nh hay bác sỉ chuyên khoa về tiểu đường của họ. Có
những vấn đề nghiêm trọng có thể xảy ra trong lúc tập thể dục như sau:
Khi đường trong máu xuống quá thấp (dưới 4 mmol/L hay 73 mg/dL)
Thể dục
có thể làm cho đường trong máu giăm quá nhanh, nhất là ở những người chích
insulin. Tuy nhiên, nhiều loại thuốc uống cho bệnh tiểu đường loại 2 cũng
làm giăm đường trong máu như insulin: glyburide (diabeta), glipizide (Diamicron),
Amyral, Gluconorm… V́ thế bệnh nhân phải chú ư những vấn đề sau:
·
Thử đường
trong máu trước khi tập thể dục, trong khi tập, và sau khi tập xong trong
những lần đầu. Nếu thấy đường xuống dưới 4 mmol/L (73 mg/dL), người bệnh
phải ngưng tập và uống 1-2 ly nước cam hoặc nước táo (apple juice), hoặc
ăn 1-2 cây kẹo. Nếu không có những thứ vừa kể trên, người bệnh có thể lấy
2-3 muỗng đường cát pha với nước và uống ngay. Sau đó phải ăn nhẹ và thử
đường trở lại. Nếu thấy đường cao hơn 6 mmol/L (109 mg/dL), người bệnh có
thể tập thể dục trở lại. Khởi đầu người bệnh có thể thử nhiều lần. Sau
đó, người bệnh có thể thỉnh thoảng mới thử một lần nếu căm thấy mệt mỏi,
đói bụng hoặc chóng mặt.
·
Liên lạc
với bác sỉ của ḿnh để điều chỉnh lượng insulin hay thuốc uống trước khi
tập thể dục. Nhớ đem theo các kết quả thử máu để cho bác sỉ của ḿnh có
một ư niệm về chiều hướng của đường lên hay xuống như thế nào.
·
Ăn nhẹ:
như 1-2 lát bánh ḿ hoặc 1 chén oak meal, hoặc một quả táo (apple) hay
chuối, hoặc 1 chén cháo… Nói chung là ăn chất ngọt hay chất bột
(carbohydrate) hay trái cây trước khi tập thể dục ở những người bệnh tiểu
đường. Sở dỉ tôi nhấn mạnh chử ăn nhẹ là v́ ăn nhiều người bệnh mệt không
tập thể dục được. Tại sao tôi đề nghị ăn chất bột hay trái cây? V́ những
nguyên do sau đây:
1.
Ăn dầu mỡ, thịt cá làm “nặng bụng” khó tập thể dục, nhất là những
người bệnh tiểu đường có triệu chứng khó tiêu (gastroparesis).
2.
Ở những người bệnh tiểu đường có đường trong máu cao lâu ngày, tế
bào bê-ta của lá miá (pancreas) mất căm ứng với đường trong máu lên cao.
Chúng không tiết ra insulin như người b́nh thường. Nhưng các tế bào bê-ta
c̣n căm ứng khi người bệnh ăn dầu mỡ và thịt cá. Khi insulin trong máu
gia tăng làm người đang tập thể dục có đường trong máu xuống quá thấp và
làm xây xẫm hay ngất xỉu.
-
Tránh
chích insulin hoặc uống thuốc trị tiểu đườngtrong ṿng 1 giờ trước khi
tập thể dục. Khi tập xong, nếu căm thấy đói nên ăn trước khi chích
insulin hay uống thuốc làm giăm đường. Và cũng nên giăm lượng insulin
nếu đường trong máu xuống thấp. Sau đó, liên lạc với bác sỉ của ḿnh để
điều chỉnh lại số lượng insulin hay thuốc giăm đường trong máu.
-
Nếu tập
thể dục vào buổi trưa hay chiều, nên giăm lượng insulin chích vào buổi
chiều và ăn nhẹ trước khi đi ngũ. Nếu thay đổi giờ tập thể dục nên tham
khảo bác sỉ của ḿnh trước để tránh những vấn đề vừa nói trên.
Những người bệnh tiểu đường có biến chứng ở thận và vơng mạc (retina)
Những người có bệnh tiểu đường loại 2 thường có những biến chứng:
-
Ở vơng
mạc (retina) của mắt: nếu không giữ đường trong máu ở mức b́nh thường
lâu ngày, những mạch máu nhỏ trong đáy mắt (retina) sẻ ph́nh ra từng
khúc như xâu chuổi (beading hay microaneurysm).
-
Ở thận:
nếu không điều trị đúng mức, thận thải ra chất đạm. Thận thải ra chất
đạm ít gọi là microalbuminuria. Và thận thải ra chất đạm nhiều gọi là
proteinuria. Thêm một bước nửa, thận sẻ bị suy hoặc hư hoại. Những
người có biến chứng này không nên cử tạ nặng, đô vật (wrestling), arm
wrestling (kéo tay)… Những thể dục quá tích cực (strenous exercises)
làm tăng áp lực trong bụng và lồng ngực. Do đó, nó làm tăng áp huyết
trong mạch máu. Áp huyết tăng cao, làm vở những mạch lựu nhỏ (microaneurysm)
trong mắt và thận. Kết qủa làm cho người bệnh có thể mù hay hư thận.
V́ thế, mổi năm người bệnh tiểu đường
loại 2 phải thử microalbuminuria trong nước tiểu và khám đáy mắt (fundoscopy).
Nếu bác sỉ của bạn không làm điều này, bệnh nhân có thể yêu cầu hoặc
nhắc nhở bác sỉ của họ. Khám mắt có thể thực hiện bởi bác sỉ gia đ́nh
có nhiều kinh nghiệm hoặc bởi bác sỉ đo mắt (optometrist chứ không phải
optician) hoặc bởi bác sỉ nhản khoa (ophthalmologist). Ở người bệnh
tiểu đường loại 1, 2 vấn đề này chỉ cần phải khám mổi 5 năm nếu bệnh
nhân điều chỉnh lượng đường trong máu tốt. Nếu họ không thể điều chỉnh
tốt, họ phải được khám mổi năm.
Những người bệnh tiểu đường có triệu chứng về tim:
v
Đau ngực
đi đôi với khó thở (chest pain and short of breath)
v
Điện tâm
đồ (EKG) cho thấy có triệu chứng bất thường hoặc thiếu máu cơ tim.
v
Mạch máu
ngoại biên của chân tay hoặc cổ (carotid arteries) bị nghẻn hoặc tắt.
v
Những
người trước đây không hoạt động nhiều (không thể dục hoặc ngồi coi TV
nhiều) và trên 35 tuổimuốn tập thể dục.
v
Những
người có lượng mỡ trong máu cao, huyết áp trên 140/80, hút thuốc, hoặc có
nhiều chất đạm (albumin) trong nước tiểu.
Nếu bạn
có những triệu chứng trên, phải đ̣i bác sỉ khám tim kỷ càng trước khi tập
thể dục. Có nghiả phải làm stress test trước khi chương tŕnh thể thao
bắt đầu.
THỈNH THOẢNG,
TÔI CÓ TẬP THỂ DỤC NHƯNG TÔI KHÔNG BIẾT TẬP NHƯ THẾ NÀO?
Có nhiều
phương pháp tập thể dục khác nhau tùy từng người bệnh. Không nhất thiết
cách nào đúng hoặc cách nào sai. Đúng hay sai là ở sức khoẻ mổi người.
Phải tham khảo với bác sỉ gia đ́nh trước dù là phương pháp của tôi
đưa ra. Những người bệnh tiểu đường loại 1 có thể tập b́nh thường
nếu chưa có biến chứng. Phải đề pḥng vấn đề đường trong máu xuống quá
thấp trong lúc tập.
Bệnh nhân người Việt, đa số là bệnh tiểu đường loại 2. Bệnh tiểu đường
loại 2 chiếm 95% tổng số người bệnh tiểu đường. 60% người bệnh trên 60
tuổi. Cho nên tôi bàn luận bệnh tiểu đường loại 2 trong vấn đề tập thể
dục.
Bệnh nhân tiểu đường loại 2 với những biến chứng
Những biến chứng như cao áp huyết (high blood pressure), thiếu máu cơ tim
(ischemic heart disease), nhồi máu cơ tim (heart attack), tai biến mạch
máu nảo (stroke), suy thận (renal impairment, kidney failure), bệnh ở vơng
mạc mắt (retinal diseases)… Nói là đường trong máu lên cao và những bệnh
khác do tiểu đường gây ra. Tốt mhất, những người này chỉ nên đi bộ. Đi
bộ (walking) là loại thể dục tốt nhất. V́ nó vận động nhiều bắp thịt
trong cơ thể. Ở bệnh tiểu đường, người bệnh dể bị nhiễm trùng ở các vết
thương nhất là ở chân. Nhiều khi một vết trầy nhẹ có thể làm mủ và lan
rộng ra. Kết qủa là người bệnh có thể bị cưa chân nếu không được chạy
chửa đúng mức. Để bảo vệ đôi chân, người bệnh phải có một đôi dày tốt.
Tốt ở đây không có nghiả là giày đẹp và mắc tiền. Tốt ở đây là giày có đế
êm (comfortable soles), vừa vặn với đôi chân (fit well). Ở những người có
tật ở bàn chân và cổ chân (rolling feet, high arch feet…), giày phải sửa
chửa được những tật này khi bệnh nhân đi. Thường những loại giày phù hợp
với những đặc điễm vừa kể là những giày dùng để chạy (running shoes).
Giày để tập thể dục và chơi thể thao chia ra làm nhiều loại:
·
Giày để
đi bộ (walking shoes) có chất lượng tấp nhất và rẻ nhất.
·
Giày để
tập thể dục (cross training shoes): có chất lượng khá hơn dày đi bộ. Nếu
ai đi bộ 30 phút mổi ngày và có đôi chân b́nh thường, có thể dùng loại dày
này.
·
Giày để
chơi tennis (tennis shoes): nhẹ và đế giày trơn hơn các loại trên. Chỉ
dùng để chơi tennis, không phù hợp để đi bộ nhiều.
·
Giày để
chơi bóng bàn (table tennis shoes): giày rất nhẹ và dể trơn trợt, cho nên
người chơi bóng bàn di chuyển nhanh lẹ khi chơi. Không phù hợp cho người
bị bệnh tiểu đường dùng để đi bộ nhiều.
·
Giày để
đá banh (soccer shoes): nhẹ nhưng cứng và có chất lượng cao. Nó có gai
nhọn dưới đế giày để bám mặt đất dể dàng khi chạy trên sân cỏ. Loại này
rất đắt tiền và không thích hợp cho đi bộ.
·
Giày để
chơi bóng rổ (basketball shoes): mắc tiền, đế giày rất êm, cổ giày cao
dùng để bảo vệ bàn chân và cổ chân (feet and ankles) khi ta chạy nhảy (run
and jump). Loại giày này thích hợp cho chạy và nhảy nhưng không thích hợp
cho đi bộ nhiều hoặc chạy nhiều.
·
Giày để
chạy (running shoes): loại này dùng để chạy nhưng cũng rất thích hợp cho
đi bộ nhiều. Rất đắc tiền nhưng có giá trị cao cho người bị bệnh tiểu
đường. Đế giày rất êm. Có nhiều loại khác nhau cho từng mổi loại chân
khác nhau. Ta nên hỏi ư kiến chuyên viên về giày. Ở Canada, có một công
ty bán lẻ tên là “The Running Room” có khắp các thành phố lớn của Canada.
Họ là những chuyên viên về giày để chạy. Họ hướng dẩn tường tận và có làm
những giày cho những người không t́m ra loại nào vừa chân của ḿnh. Theo
ư kiến của tôi, dùng loại dày này để đi bộ sẻ ít bị thương tổn chân của
người đi bộ.
Sở dỉ tôi
phân tích các loại giày để mọi người chọn đúng loại cho ḿnh và sẻ không
bị thương tổn đến đôi chân của ḿnh. Nếu người bệnh tiếc tiền vài chục
dollars nhưng bị cưa mất đôi chân là điều không đáng.
Những người bệnh tiểu đường loại 2 với biến chứng, đi bộ trên những đường
bằng phẳng, không lên dốc và xuống dốc. Đi bộ với vận tốc mà người bệnh
không bị mệt nhanh hay khó thở, nhịp tim không nên nhanh hơn 100 nhịp
trong 1 phút. Thỉnh thoảng ngừng lại và đếm nhịp tim ở cổ hay cổ tay.
Nếu nhịp tim nhanh hơn 100 nhịp/phút, người bệnh phải ngừng lại và nghỉ
một lúc cho đến khi họ căm thấy khoẻ trở lại và nhịp tim trở lại b́nh
thường (60-80 nhịp/phút). Nếu có khả năng, người bệnh tập ở nơi tập thể
dục (gym) hay mua một cái máy đi bộ (treadmill) vừa túi tiền thôi. Khi đi
bộ trên máy, người bệnh chọn tốc độ 1-3 miles/hr (1,6-5 cây số/giờ) và độ
dốc là 0% (không có dốc) tùy theo sức khoẻ của mổi người.
Khởi đầu, người bệnh đi khoảng 15 phút rồi nghỉ. Khi ta thấy khoẻ trở lại,
đi thêm 15 phút nửa. Cho đến khi đủ 1 giờ mổi ngày. Sau mổi 2-3 tuần,
người bệnh có thể tăng lên 5 phút cho mổi lần đi bộ nếu người bệnh thấy
khoẻ (có nghiả là 20-25-30 phút…) cho đến khi người bệnh có thể đi một lúc
1 giờ không nghỉ. Tốc độ đi bộ không nên tăng nhanh. Người bệnh có thể
tăng tốc độ khi nào đi 1 giờ mà không có đổ mồ hôi hay mệt. Nếu người
bệnh muốn tập nhiều hơn nửa, phải tham khảo với bác sỉ của họ. Trước và
sau khi đi bộ nên uống 1 ly nước lả. Những người bệnh tiểu đường với biến
chứng khi tập thể dục, nên tập với người bạn hoặc vợ hay chồng. Tập chung
với những người biết ḿnh bị bệnh tiểu đường và biết cách giúp người bệnh
khi họ bị những phản ứng bất ngờ.
Bệnh tiểu đường loại 2 không có biến chứng:
Những người thuộc nhóm này, khởi đầu tập thể dục như tôi vừa nói trên. Họ
có thể tăng thời gian tập nhanh hơn. Đa số những người bệnh tiểu đường
loại 2 thiếu hoạt động lâu ngày, nên việc tập thể dục nên khởi đầu tập ít
và tăng dần theo sức khoẻ của ḿnh. Nếu tập gấp rút sẻ bị đau bắp thịt và
đau khớp xương. Uống nước trước và sau khi tập rất là quan trọng. Đổ mồ
hôi càng nhiều càng uống nước nhiều hơn. Ở người 60 tuổi, uống khoảng 1/2
– 1 lít nước trước và sau khi tập rất quan trọng. V́ người lớn tuổi phản
xạ khát nước không c̣n bén nhạy nửa.
Nếu người bệnh có khả năng mua một máy đi bộ (treadmill) hay tập tại các
trung tâm thể dục là tốt nhất. Theo kinh nghiệm của tôi, người bệnh
thường lơ là việc tập thể dục vào mùa mưa bảo hay mùa đông ở Canada. Thời
tiết giới hạn việc đi bộ bên ngoài,người bệnh phát triển bệnh lười và
ngưng tập. Cái khó ở những người bệnh tiểu đường loại 2 là đa số những
người bệnh ít hoặc không tập thể dục trước khi họ bị bệnh (cũng có những
người tập thể dục thường xuyên nhưng cũng bị bệnh). Cho nên, việc động
viên người bệnh tập rất khó, ngoại trừ họ biết rỏ cái lợi của việc tập thể
dục cho bệnh tiểu đường loại 2. Theo tôi, thời tiết là một trong những
nguyên nhân của môi trường (environment) gây ra bệnh tiểu đường loại 2.
Cho nên, máy đi bộ hay trung tâm tập thể dục là phương pháp chửa trị
nguyên nhân này.
Khởi đầu, chúng ta đi bộ 15 phút rồi nghỉ. Sau đó đi thêm 15 phút nửa.
Chúng ta làm 4 lần (1 giờ). Sở dỉ, tôi đề nghị 15 phút là v́ theo những
cuộc khảo cứu nhận thấy rằng trung b́nh tập thể dục nhẹ (light excercises),
tích cực hơn (moderate excercises), hay rất tích cực (strenous excercises)
hơn 10 phút th́ bắp thịt của ta mới bắt đầu gia tăng sự hấp thu đường
(glucose uptake) vào trong bắp thịt nhiều hơn b́nh thường. Và cũng theo
những cuộc khảo cứu cũng như kinh nghiệm của tôi trong việc trị bệnh tiểu
đường loại 2, bệnh nhân tập 1 giờ mổi ngày, 5-7 ngày một tuần, có ảnh
hưởng rất lớn trên sự giăm đường trong máu sau 12 tuần trị liệu. Theo
kinh nghiệm của tôi, nếu ta kết hợp cách trị liệu đúng cách, chỉ cần 12
tuần, Hgb A1C có thể xuống dưới 6.5% dể dàng.
Sau 1-2 tuần, chúng ta tăng thời gian tập lên 20 phút cho mổi lần đi bộ.
Đi 3 lần mổi ngày (1 giờ). Tăng dần lên đến 25, 30 phút… cho đến 1 giờ
cho mổi lần tập.
Nếu chúng ta căm thấy thoải mái, chúng ta có thể đi nhanh hơn 6-8 cây số/giờ
(4-5 miles/hour). Hoặc tăng độ dốc lên 3%, 4%, 5%... cho đến 10%. Chúng
ta đi đường bằng phẳng 3-5 phút, rồi đi lên dốc 3-5 phút (tùy theo khả
năng của mổi người). Chúng ta có thể đi theo cách này đến 1 giờ. Điều
quan trọng là giăm tốc độ hay độ dốc nếu ta căm thấy mệt hay thở nhanh,
nhịp tim nhanh quá. Nếu bị khó thở hay chóng mặt (short of breath or
dizziness), chúng ta phải ngừng tập ngay. Nếu trong 15 phút mà không thấy
khỏe trở lại, ta phải đi gặp bác sỉ ngay.
Sau 3-5 ngày tập luyện, ta có thể nghỉ tập 1 ngày. Nhưng không nên nghỉ
lâu hơn 2 ngày, v́ biến dưỡng của ta sẻ trở lại như lúc chưa tập và sinh
ra lười biếng.
Nếu tập xong ta căm thấy thoải mái và khoẻ hơn mới tốt. Nếu bị mệt mỏi
sau khi tập, ta phải bớt thời gian tập và gặp bác sỉ để hỏi ư kiến.
Ở
lứa tuổi trên 60 tuổi, mổi ngày nên đi bộ khoảng 1 giờ. Nếu đi nhiều hơn
nửa nên bàn với bác sỉ của ḿnh.
Ở
lứa tuổi dưới 60 tuổi hay những người trên 60 tuổi nhưng vẩn c̣n khỏe, có
thể tập thêm tạ (weight lifting). Tập thể dục để giử ǵn sức khoẻ và
không nên tập nặng quá. Có nghiả là ta có thể làm những động tác 15-20
cái (repetitions), và có thể làm 2-3 lần cho mổi động tác mà không căm
thấy mệt, khó thở hay chóng mặt (malaise, short of breath, or dizziness).
Nhất là không nên tập quá nhiều làm các bắp thịt bị đau. Những người trên
60 tuổi cũng có thể tập tạ nhưng tập thật nhẹ và theo những nguyên tắc an
toàn khi tập. Để tránh những thương tích khi tập, ta nên đến những trung
tâm thể dục (gym) hoặc có huấn luyện viên (trainer) hoặc tập với những
người có nhiều kinh nghiệm luyện tập đúng cách.
Nếu chúng ta thêm phần tập tạ vào chương tŕnh thể dục, chúng ta có thể
chia thời gian ra như sau:
·
5-10 phút
đầu: vận động chân tay (stretching) cho nóng người (warm-up)
·
30 phút
kế tiếp: đi bộ hoặc đi trên máy đi bộ (treadmill)
·
30 phút
tiếp theo: tập tạ. chúng ta không tập toàn thân mổi ngày. Ta chia làm 2
phần: 1/ tập tay, ngực, và lưng trên (arm, chest, and upper back) 2/ tập
bụng, thắt lưng và chân (abdomen, lower back, and legs). Mổi ngày tập 1
phần.
·
15 phút
chót: đi bộ hay trên máy đi bộ chậm để máu huyết lưu thông b́nh thường trở
lại (cool down period)
Khi tập
thể dục, chúng ta không nên gấp rút. Khởi đầu nên tập thật ít và sau đó
tăng dần lên để tránh thương tích và để cơ thể ta có thời gian phát triển
sức mạnh (stamina and force).
Ngoài đi bộ và tập tạ, c̣n có những bộ môn khác nửa như đi xe đạp
(bicycling), bơi lội (swimming), bóng bàn (table tennis), vủ cầu
(badminton)… Chúng ta làm theo khả năng, tuổi tác, và sức khoẻ hiện tại.
Đừng hồi tưởng lại khả năng của ta lúc c̣n xuân sắc mà làm theo! Nên hỏi
bác sỉ và huấn luyện viên để tránh tổn thương. Khi tập luyện, chúng ta
thường xuyên bắt nhịp mạch ở cổ tay hay động mạch cổ . Chúng ta không nên
tập quá nhiều làm nhịp tim của ta tăng lên quá khả năng tối đa của ta.
Chúng ta ngưng tập hay đi bộ thật chậm giúp máu lưu thông điều ḥa và hơi
thở điều ḥa khi nhịp tim đă đạt đến mức tối đa. Ở mổi lứa tuổi, nhịp tim
tối đa khác nhau được tính bằng công thức sau đây:
Nhịp tim tối đa khi bắt đầu tập = 70-80% của (220- số tuổi)
Ví dụ một
người 65 tuổi,
Vậy nhịp
tim tối đa khi bắt đầu tập = (220-65) * 70% -80% = 155 * 70%-80% = 108-124
nhịp/phút
Tôi hy
vọng những kiến thức này giúp cho mọi người. Người bị bệnh tiểu đường sẻ
làm đường giăm nhiều và giúp cho số lượng thuốc mổi ngày cũng giăm đi.
Người không có bệnh tiểu đường loại 2 sẻ không mắc bệnh.
Chúc mọi người một mùa xuân khỏe mạnh hơn
Viết xong ngày 19/1/2009
References
1.
Linguistic Research on the Origins of the Vietnamese Language: An
Overview, University of California Press Journal, March 10, 2006, Mark
Alves
2.
Vietnamese Language, Wikipedia, Free Encyclopedia
3.
Origin of Language, Wikipedia, Free Encyclopedia
4.
History of Communication, Wikipedia, Free Encyclopedia
5.
Evolutionary Linguistics, Wikipedia, Free Encyclopedia
6.
First Language, Wikipedia, Free Encyclopedia
7.
Austroasiatic Languages, Wikipedia, Free Encyclopedia
8.
Nền Văn Minh Văn Hoá Cổ Việt Nam, Cung Đ́nh Thanh, Nguyễn Văn Tuấn,
Nguyễn Đức Hiệp
9.
Dân Tộc Việt Nam, Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia
10.
Văn Hoá Đông Sơn, Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia
11.
Văn Hóa Phùng Nguyên, Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam
12.
Di Chỉ Khảo Cổ Đồng Đậu
13.
The Current Status of Vietnamese Genetic Linguistic Studies, Mark
Alves, Nan Jeon
14.
Văn Hóa Ḥa B́nh (Hoabinhnian), Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia
15.
Văn Minh Lúa Nước, Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia
16.
Vietnamese People, Wikipedia Free Encyclopedia
17.
Oxford’s Atlas of World History xuất bản năm 2002
18.
Concise Atlas of World History của tác giả Hammond xuất bản năm 1995 &
2000
19.
Ethnologue.com: languages of the world
20.
The Genographic Project: Atlas of Human Journey, National
Geographic
21.
Lecture of Viet nam, University of Hawaii
22.
Universal Grammar, Wikipedia, Free Encyclopedia
23.
The World Encyclopedia of Archeology, published by Firefly Books
LTD., Chief Consultant: Dr. Aedeen Cremin
24.
TYPE 2 DIABETES MELLITUS, John B. Buse Kenneth S. Polonsky Charles F. Burant
, Kronenberg: Williams Textbook of Endocrinology, 11th ed., Copyright ©
2008 Saunders
25.
TYPE 2 DIABETES MELLITUS, Silvio E. Inzucchi Robert S. Sherwin, Goldman:
Cecil Medicine, 23rd ed., Copyright ©
2007 Saunders
26.
GLUCOSE HOMEOSTASIS AND HYPOGLYCEMIA, Philip E. Cryer, Kronenberg:
Williams Textbook of Endocrinology, 11th ed., Copyright ©
2008 Saunder
27.
COMPLICATIONS OF DIABETES MELLITUS,
Kronenberg: Williams Textbook of Endocrinology, 11th ed., Copyright ©
2008 Saunders,
Michael Brownlee Lloyd P. Aiello Mark E. Cooper Aaron I. Vinik Richard
W. Nesto Andrew J.M. Boulton
28.
Endocrine Pancreas , James C. Thompson, MD, Courtney M. Townsend Jr., MD,
Townsend: Sabiston Textbook of Surgery, 18th ed., Copyright ©
2007 Saunders
EXERCISE AND DIABETES
29.
Cardiology Clinics - Volume 19, Issue 3 (August 2001) - Copyright © 2001
W. B. Saunders Company , Stuart R. Chipkin
1
2
3 MD , Serena A. Klugh
1
3 MD, Lisa Chasan-Taber
2 ScD
30.
EXERCISE AND DIABETES, Stuart R. Chipkin
1
2
3 MD, Serena A. Klugh
1
3 MD, Lisa Chasan-Taber
2 ScD
31.
A Low-Carbohydrate/High-Fat Diet Improves Glucoregulation in Type 2
Diabetes Mellitus by Reducing Postabsorptive Glycogenolysis, Journal of
Clinical Endocrinology and Metabolism
Volume 89 • Number 12 • December 2004, Copyright © 2004 The Endocrine
Society, GIDEON ALLICK*
1, PETER H. BISSCHOP*
3, MARIETTE T. ACKERMANS
1, ERIK ENDERT
1,ALFRED J. MEIJER
1, FOLKERT KUIPERS
2, HANS P. SAUERWEIN
1, JOHANNES A. ROMIJN
3
32.
Metabolic effects of high-protein, low-carbohydrate diets, The American
Journal of Cardiology, Volume 88 • Number 1 • July 1, 2001, Copyright ©
2001 The American College of Cardiology , Margo A. Denke, MD
a
33.
Và nhiều
bài khác nhưng tôi không nhớ hết và cũng không đủ thời giờ để ghi thêm.

Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt

Trang XUÂN 2009- Văn Học Nghệ Thuật
Và Quê Hương