Trong
mỗi chúng ta, tận sâu thẳm tâm hồn ai cũng có một miền quê hương riêng đề
thương để nhớ. Nói về sự thương nhớ ở nơi mình được sinh ra và lớn lên có
vẻ mênh mông trừu tượng quá, ở nơi đó gồm tất cả những điều mà chúng ta
cảm nhận được theo cách rất riêng của mình, có thể đẹp và xấu, yêu và giận,
thức ăn, thức uống ngon hoặc dở,v.v… sự vật diễn ra thật vô tình trong bao
nhiêu thời gian ta ở đó. Nhưng khi rời chân đi đến một nơi khác có thể vui
thú hơn, sung túc hơn, liệu ta có thực sự quên được nơi chốn mà khi sống
cùng với nó ta đã rất đổi ơ hờ, rồi trong giây phút thinh lặng cô đơn ta
suy nghĩ mông lung, tự gợi lại trong ký ức đã ngủ quên bao năm, rồi bất
chợt những bước chân nhung nhớ nhẹ nhàng trở về gõ cánh cửa tiềm thức. A !
Ta biết đó là thương nhớ quê xưa, thôi thúc ta trở về chốn cũ, dù chỉ đi
ngang qua một địa chỉ mà chủ nhân đã ra người thiên cổ từ lâu, hay hỏi
thăm vớ vẫn vài câu về một người đẹp đã thành quá khứ. rồi ăn những món
dân dã quen thuộc mà hương vị đã nằm sâu trong lưỡi.
Vùng
đất lưng tựa vào núi mặt nhìn biển cả, được hình thành từ cuối thế kỷ 17,
nhờ công mở cõi của Chúa Nguyễn Phúc Tần, sau nhiều lần thay đổi, tên Ninh
Hòa đã ra đời kèm theo những địa danh, xóm Rượu, xóm Mới, cầu Gỗ, dốc Ga,
lầu Thương chánh ở Hòn khói v..v..khách hỏi đường như thế sẽ được chỉ dẫn
nhanh hơn. Xin trở về với sự thương nhớ của tôi sặc mùi trần tục, thèm quá
những món bánh ở N H, cám ơn ông Chúa Nguyễn nào đó đã để lại cho đất này
một bà phi xinh đẹp, giỏi giang. Bà phi ấy dừng chân ở xóm Rượu, truyền
cách làm các món bánh cho dân làng,(hiện vẫn còn lăng Bà vú), đây chỉ là
giả thuyết vì các món bánh rất giống các món bánh của cố đô Huế, tuy có
hương vị rất riêng cho hợp với điều kiện sẵn có và sở thích của người sở
tại. Tôi xin làm một so sánh rất chủ quan như bánh bèo Huế ngon ở chén
nước mắm kèm ớt xanh nhưng không đẹp bằng bánh bèo N H. Bánh bèo N H đổ
trong chén nhỏ sâu lòng, bánh có xoáy rất sâu, thoa tí hẹ, rắc chút tôm
chà màu đỏ cam, nước mắm ngòn ngọt chan vào cái lúm tròn xoe, cứ để nguyên
cái mà há miệng to ra, xin đừng cắn bánh làm hai.
Bánh
dây là món bánh tôi chưa được thấy ở nơi khác, bột gạo và bột nếp pha lẫn,
những sợi bột đan vào nhau cở hộp diêm, các thứ bánh hỏi, nậm, ướt đều nhỏ
nhắn, thanh tao, tuyệt nhiên không dùng kèm thịt, chả, rau, như bánh Huế,
lẽ đơn giản là cho phù hợp với miền đất mới khai phá còn hoang sơ. Nem
nướng đã mất cuốn chả ram chiên dòn có con tôm đất đỏ au,chỉ còn là miếng
bánh tráng chiên ngập dầu, phát ngấy, chỉ thiếu con tôm đất bằng ngón tay,
đã làm mất đi cái hương vị đặc trưng của một vùng đất. Nem chua cũng vậy,
xưa làm nem từ thịt con heo cỏ chắc lụi, miếng nem giòn ngọt trong nhúm lá
chùm ruột xanh tươi, hôm nay mua xâu nem làm quà hơi hồi hộp, bên ngoài
vẫn đẹp nhưng đâu biết bên trong ra sao, có khi mở một đống lá tìm được
cái nem nhỏ xíu, chua chẳng chua, ngọt chẳng ngọt...
Xin
thông cảm cho sự thương nhớ quá phàm phu, tục tử của tôi nhé, còn thêm nỗi
nhớ tư gánh bún cá hay bánh canh chả cá mỗi sáng sớm được các bà gánh
xuống chợ có chậu than lửa hâm nóng, thật ấm lòng, còn bà hàng bánh mỗi
khi ngang qua nhà hay bị chọc ghẹo ‘’ hỏi có cưới hông’’ hoặc ‘’ ướt chừng
nào khô ‘’, bà bán hàng cười nắc nẻ ‘’ mấy cô hỏi cắc cớ. Trời hửng sáng,
má hay ra quét phần đường trước nhà, tiện thể đón những gánh hàng từ trên
quê đi ngang qua nhà, một gánh hàng thường có nhiều thứ, ai có thứ gì bán
thứ ấy, ra xem má mua đồ là một thú vui vì có khi mua gạo được thêm trái
ổi, mua trứng thêm ớt...giá cả có khi tùy thuộc vào sự quen biết của đôi
bên, có khi người bán không cần rao mà chỉ bước chậm rồi kêu lên – chị Sáu
ơi ! chổi nè, hoặc- chị Tư ơi! Mua đồ cúng hông … lủ tôi được dịp la to
chọc phá - cho chị chục cán chỗi – chị không ăn đồ cúng đâu … Những gánh
hàng ngày rằm, mồng một,thường kèm những bó bông điệp vàng, bông trang đỏ
đòng đưa theo nhip quang gánh, đã làm thành nỗi nhớ rất vẩn vơ,rất lâu
chưa quên được.
Ninh
Hòa có xóm Rượu, xưa kia nổi tiếng có nhiều người đẹp, tôi nghĩ nguồn gốc
từ Bà phi và các nữ tỳ theo hầu, sự liên tưởng xuất phát từ câu chuyện
tình cờ được nghe trong đám cưới ở miền nam. Có một vùng của tỉnh Bến tre,
con gái rất đẹp, tuy chỉ là nông dân miệt vườn nhưng da trắng tóc dài. Vào
thời lưu vong của Chúa Nguyễn cũng đã để lại nơi này một số phi tần, cung
nữ cùng vợ con các quan tướng, sau các cuộc hành quân dài ngày mỏi mệt. Họ
đã định cư lập làng và cho ra đ ời những người đẹp.
Nhớ
Ninh Hòa là nhớ về biển,
êm dịu, hiền hòa. Ai đã ở lại ngủ ở Dốc lết vào một đêm trăng sáng, đi dạo
trên những đồi cát trắng chơi vơi, mênh mông như không có điểm tận cùng,
một không gian tĩnh lặng, trong trẻo và huyền ảo mới thấy và cảm được hết
vẻ đẹp của nó, tách khỏi thế giới sống động ngoài kia.
Ninh
Hòa như cô gái đẹp không biết trang điểm thành ra thiếu nét duyên trong
mắt du khách. Người NH vẫn thích giữ lề thói cũ trong cung cách mua bán và
ăn uống. Những gánh hàng quà rong từng làm cho NH một vẻ riêng từ thuở đất
rộng người thưa, nay trông có vẻ nhếch nhác khi đặt cạnh đường xe ầm ầm
qua lại, tìm sao ra nét thanh nhã của bún lá, cái mềm mại trong chiếc bánh
ướt mỏng tang, mịn như da em bé, khi nó được bán trong những hàng quán
không đủ vệ sinh. Người ta coi thường những món điểm tâm chỉ vài ngàn bạc
mà quên mất chiều dài thời gian mà nó trải qua, món ăn cùng đi theo lịch
sử phát triển.
Tôi
về Ninh Hòa cầm mươi ngàn ra đầu ngõ xóm là được một bữa điểm tâm ‘’ hoành
tráng lệ ‘’ ( ngôn ngữ học tầm phào mà ai cũng hiểu ). Vậy đó, cứ thế mà
mãi thương, mãi nhớ những ngày gió nam khô quắt, mắt rát, môi khô. Tháng
chín, tháng mười mưa lụt dầm dề, tìm con cá đồng về nướng, giã chén mắm
ngò với trái me non …, làm một bụng rồi leo lên gường trùm mền đọc tiểu
thuyết, nằm trong căn phòng nhỏ, của căn nhà cũ đầy ẩm mốc vì ngày mưa kéo
dài.
Lâu
lâu ghé về bao giờ cũng thấy lạ, vì ‘’ vũng đã nên đồi’’. Người già hơn,
một số người mới đến, cây cối cao lớn hoặc bị chặt đi, nhà cửa được xây
mới hay chia nhỏ ra … Năm nay thời tiết thất thường, có cành mai trước nhà
nở sớm, chẳng đợi đón giao thừa, màu vàng của vài mươi bông mai run run
trong cơn gió lạnh hiếm hoi ở miền nam,làm gây gây nỗi nhớ quê …

Huỳnh
Trịnh
Tuyết
Hoa
15 tháng chạp 2008.

Trang XUÂN 2009- Văn Học Nghệ Thuật
Và Quê Hương