Hai Ba Ông Táo Về Trời
Bà Táo Ở Lại Chèo Queo Một Mình...
Ngày
đó, khi còn ở nhà cũ, nhà tôi có cái bếp to thiệt là to để nấu
đường tán bán, ngày nào cũng hừng hực lửa. Kế bên cạnh là cái
chái bếp thấp lè tè với mấy cái lò để nấu cơm, nấu nước hàng
ngày. Quanh năm suốt tháng bếp than bếp củi bao giờ cũng đỏ rực
với những mẻ đường làm ra chợ bán. Cuối năm, như một thói quen,
Má sai Anh Thành, Anh Phú vác mấy cái lò cũ đem ra ngoài đường
luồng đi chợ để bỏ và mua mấy cái bếp mới bằng đất về để thay
thế coi như là thay áo mới và "giải tỏa" ông Táo sau 1 năm trời
làm việc cực nhọc...Cái đường luồng là một con đường tắt bé xíu
xiu ngoằn ngèo để đi tới chợ Ninh Hòa nằm bên kia con sông Dinh.
Chả biết tự năm nào mà nó đã trở thành nơi tập trung những cái
lò cũ bể vụn, gãy chỏng chơ của người dân thôn Sáu.
Trước
ngày hai ba tháng chạp, chợ Ninh Hòa bắt đầu nhộn nhịp những
gian hàng hóa bánh kẹo hoa quả để phục vụ cho ba ngày Xuân. Má
đi chợ, mua về nhà mấy bộ đồ ông Táo bằng giấy ngũ sắc sặc sỡ đủ
màu. Chúng tôi hay vạch ra coi rồi cười ngặt nghẽo vì thấy Má
mua toàn là áo chả có quần. Sau này mới biết ông Táo chả bao giờ
mặc quần dài để đi chầu Ngọc Đế. Đêm hai hai rạng sáng ngày hai
ba, Ba thức khuya, sắp một mâm gồm trái cây, bánh qui, đòn bánh
tét, dĩa mứt dừa, chùm ruột, thêm mấy bộ đồ bằng giấy râm râm
khấn vái xin ông Táo tha tội cho gia đình suốt một năm đã bắt
ông làm việc cực nhọc để phục vụ cho gia đình. Ba cũng không
quên "năn nỉ" ông lên trên trời, có tâu báo với Ngọc Hoàng thì
cũng ráng tâu những điều tốt đẹp để ông Trời còn phù hộ cho gia
đình năm sau buôn may bán đắt...Vái xong Ba đốt mớ giấy vàng bạc,
đốt bộ đồ của ông trong cái lu bằng đất sét. Trong khói hương
nghi ngút, trong cái se lạnh tái tê của những ngày cuối năm,
những tàn tro bay phấp phơ trong ánh lửa bập bùng giống như hình
ảnh ông Táo cưỡi cá chép về Trời tấu trình về những tháng ngày
nơi hạ giới...
Từ
hôm đó, mãi tới đêm tất niên cuối năm, mâm bánh, trái cây, dĩa
mứt nơi bàn thờ xó bếp luôn đỏ đèn để chờ tới ngày rước ông về
lại trần gian. Má thì luôn miệng hát vang "Hai ba ông Táo về
trời, Bà Táo ở lại chèo queo một mình..." Không biết ổng đi rồi
bà có ngồi đó mà nhớ nhung thương xót không. Bên nhau cả năm
trời, đưa đầu hứng những cái nồi, cái xoong to tổ bố để rồi
những ngày cuối năm phải nằm chèo queo lạnh lẽo một mình. Thương
bà Táo quá!
Những
ngày này Má cũng bắt đầu làm củ kiệu. Củ kiệu tươi mua ở chợ về
Má lấy một cái thau to, hốt mớ tro than bỏ vào rồi châm thêm
nước. Để đó hồi lâu cho tro than lắng xuống dưới đáy còn bên
trên là một lớp nước trắng phau. Má khéo léo trút lớp nước ấy
qua một cái thau khác rồi bỏ kiệu vào ngâm qua đêm cho nó lọc
sạch hết những tạp chất và để tẩy cho củ kiệu thêm trắng ngần.
Sáng hôm sau Má vớt ra, để ráo nước rồi tập trung bầy con lại để
làm sạch rễ và gọt đi lớp vỏ bên ngoài còn lại bên trong trắng
muốt. Củ kiệu giống như củ hành nhưng ít hăng và cay hơn nhìn
rất ư là bắt mắt.
Sau
khi lột xong, rửa sạch, Má bỏ trong nia đem ra phơi khoảng 1
nắng cho heo héo rồi bắt đầu đem vào muối. Má còn mua đu đủ, cà
rốt về xắt thành từng miếng nhỏ bằng đốt tay cũng đem phơi
khoảng một nắng rồi đem đi muối chung với kiệu. Má lấy cái thẩu,
bỏ vào đó một lớp đường, một tí dấm, thêm tí nước mắm rồi hốt
từng lớp kiệu, đu đủ, cà rốt bỏ vào. Làm vài lớp như thế là đầy
thẩu. Đậy nắp lại, đem vào trong bếp bỏ đó khoảng vài ngày đường,
dấm, nước mắm hòa trộn vào nhau, thấm vào từng miếng kiệu, đu đủ,
cà rốt bỏ vào miệng nhai nghe xừng xựt. Cái mùi hăng, mùi chua,
vị ngọt, giòn cứ đan xen vào nhau ngon đến tận kẻ răng...
Bao
nhiêu năm, bếp than, bếp củi cũng chẳng ai dùng ở phố thị. Họa
hằn chăng về ở những vùng quê hẻo lánh. Thay vào đó là những bếp
ga, bếp điện tân thời. Cái ngõ đường luồng năm nào giờ ghé ngang
qua cũng chẳng còn chất đầy những ông lò sứt quai gãy trán...Chợt
giật mình thấy lòng se thắt, chợt thấy thời gian trôi đi hờ hững
quá, thấy mình già thêm vài tuổi, chợt thấy nhớ, thấy thương...
Cảnh
cũ còn đây mà những người năm xưa giờ nơi nào không biết!

Nguyễn
Hữu
Tài
12/1/2009