Nước Nhật là một tập hợp của các ḥn đảo và tuy có vua nhưng mỗi
một khu lại có một tướng quân cai trị mà người ta gọi là chế độ tướng quân
(Tokugawa
Shogunate),
giống như vua Lê chúa Trịnh bên Việt Nam,
Như ta biết chữ Hán là chữ của nhà Hán bên Trung Hoa cũng được xử dụng tại
Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Tuy rằng dùng cùng một chữ nhưng mỗi nơi
lại đọc một khác. Tới khi tiếp xúc với các nước Tây phương th́ Nhật Bổn
cảm thấy bị thua người ngoại quốc cho nên mới xét lại.
Ngày 3-2-1867
hoảng tử
Mutsuhito lên ngôi lúc 16 tuổi, nối ngôi vua cha là
Kōmei
lấy hiệu là
Minh Trị.
(On
February 3,
1867, sixteen-year old Mutsuhito
succeeded his father,
Emperor Kōmei)
Minh (明)
là ánh sáng, Trị (治) là cai trị
- ư nghĩa là trị dân một các sáng suốt. Minh Trị lên ngôi dẹp bỏ chính
sách Tướng quân bởi v́ Tướng quân là đại diện cho xă hội phong kiến nghĩa
là vua chia cho một ông Tướng cai trị một khu vực, và chuyển đổi sang chế
độ Quân chủ lập hiến rồi thi hành kinh tế tư bản. Chủ trương của nhà Vua
là canh
tân Nhật Bản.
(At the time of his birth in 1852,
Japan was an isolated,
pre-industrial,
feudal country dominated by the
Tokugawa Shogunate and the
daimyo, who ruled over the country's more than 250 decentralized
domains.)
Nhà Vua thi hành các chính sách canh tân quốc gia bằng cách cải
cách ngành giáo dục, mời các giáo sư dạy Anh văn, Khoa học Kỹ thuật vào
trong nước. Ngoài ra Minh Trị Thiên Hoàng ban hành chính sách quân chủ lập
hiến cho phép người dân bầu quốc hội để đại diện cho ḿnh. Nhà Vua cũng
thi hành chính sách quân dịch cho mọi công dân Nhật 21 tuổi đi lính trong
4 năm.
Chính sách của Minh Trị Thiên Hoàng giúp đỡ phát triển kinh tế và
xă hội Nhật Bản.
Minh Trị Thiên
Hoàng (明治天皇) trước khi lên ngôi chính là
Hoàng tử Mutsuhito
sinh ngày mùng 3 tháng 11 năm 1852 con của Hoàng đế
Komei,
là Hoàng đế thứ 122 của Nhật Bổn. Sau khi lên ngôi, Minh Trị Thiên Hoàng
cưới bà Haruko và được phong là Hoàng hậu
Shoken.
Minh Trị Thiên
Hoàng
rời đô từ Kyoto tới Tokyo. Ông có công trong
việc cải tổ giáo dục và kinh tế theo đường lối phương Tây giúp cho nước
Nhật ngày một cường thịnh.
Nhật gửi nhiều sinh viên du học tại Mỹ và Âu Châu, thuê trên 3000
giáo sư Tây phương để dạy khoa học, toán, kỹ thuật, và ngoại ngữ.
Chính phú xây dựng đường xá, thiết lộ, và cải tổ ruộng đất để chuẩn
bị phát triển.
Để giúp kỹ nghệ, chính phủ Nhật giúp các nhà kinh doanh các phương
tiện để mở mang kinh tế.
Trong thời Minh Trị các hải cảng và các nhà máy được xây dựng rồi bán
lại các nhà máy với giá rất rẻ chỉ bằng một phần nhỏ giá vốn để giúp đỡ
các nhà kinh doanh, mở đường cho các tổ hợp thương mại, chính sách giúp đỡ
việc kinh doanh làm cho kinh tế Nhật phát triển vượt bực.
Chúng ta hăy xét những tiến bộ trong việc thi hành cải cách kinh tế, xă
hội của Nhật Bổn.
Minh Trị Thiên Hoàng cai trị nước Nhật khoảng 45 năm chính thức
từ 23 tháng 10 năm 1868 tới 30 tháng 7 năm 1912. Nhật Bổn
đă canh tân và trở thành cường quốc. Minh Trị Thiên Hoàng ban hành Hiến
chương 5 ĐIỂM vào năm 1868 gồm có 5 ĐIỀU sau đây:
ĐIỀU 1- Thiết lập Quốc hội Lập hiến
ĐIỀU 2- Cho phép toàn dân tham gia việc nước
ĐIỀU 3- Thu hồi các Luật lệ giới hạn quyền làm việc của các giai cấp
Nhật Bổn
ĐIỀU 4- Băi bỏ các hủ tục và ban hành các Luật công b́nh
ĐIỀU 5- Nghiên cứu các văn minh quốc tế để tăng cường cơ sở của Đế
quyền.
Hiến chương 5 ĐIỀU này hoàn toàn băi bỏ
chế độ tướng quân và hoàn toàn thiết lập chế độ
QUÂN CHỦ LẬP
HIẾN
trong việc toàn dân tham gia vào chính quyền. Để thi hành Hiến chương, 11
đạo luật được ban hành. Trong đó cung cấp Hội đồng Quốc gia, nền Tư pháp,
quy chế công chức, giới hạn mỗi nhiệm kỳ 4 năm, cho phép nhân dân bầu cử,
ban hành hệ thống thuế má mới, ban hành các Luật cai trị địa phương.
Chính phủ công nhận
quyền thừa kế
đất đai.
Năm 1871 thiết lập các Hội đồng quản trị các đô thị.
Các Luật lệ về đất đai và thuế vụ được ban hành trong khoảng năm
1871 tới năm 1873. Chính phủ công nhận
quyền tư hữu,
công nhận quyền làm chủ đất đai nhà cửa. Năm 1875 thiết lập Hội đồng các bô lăo xét lại các Điều khoản của
pháp luật. Ba năm sau, Hội nghị các Tỉnh trưởng thiết lập việc bầu cử Hội
đồng các tỉnh. Năm 1880, các Hội đồng làng xă, thành phố đều thi hành.
V́ vậy nước Nhật đă học được kỹ thuật từ Tây phương, dần dần kiểm soát thị
trường Á châu đầu tiên với vải vóc. Kinh tế của Nhật Bổn được phát triển
bằng cách nhập cảng các nguyên liệu và xuất cảng các hàng hóa đă chế tạo
được. Nhật Bản đă trở thành nước kỹ nghệ đầu tiên của Á Châu.
Để kỹ nghệ hóa nước Nhật, chính phủ Nhật đă thi hành :
1869 lập điện tín từ TOKYO tới Yokohama
1871 lập bưu chính mở đầu từ Tokyo
1871 lập trạm vận tải bằng ngựa tại Tokyo, và năm 1903 thay bằng xe
điện
1872 MINH TRỊ THIÊN HOÀNG khánh thành đường hỏa xa Tokyo và
Yokohama
1887 khánh thành cầu sắt Azuma qua sông SUMIDA
Kinh Đô được xây dựng theo kiến trúc Tây phương gồm các ngân hàng,
các khu buôn bán và các công sự chính quyền.
Nhật Bổn đă chủ trương thi hành nền kinh tế thị trường của Anh và
Mỹ, và thiết lập các hăng kinh doanh tư bản. Sự cải tổ kinh tế bằng cách
ban hành đồng
Yen, ban hành chính sách ngân hàng, thương mại, luật thuế khóa thị
trường chứng khoán và hệ thống thông tin.
Năm 1890 nền
kinh tế Nhật Bổn đă hoàn thành nền kinh tế tư bản. Tuy nhiên chính phủ
Nhật Bổn vẫn kiểm soát các phương tiện canh tân, tài chính. Sau thế chiến
thứ nhất, Nhật trở nên một cường quốc kỹ nghệ.
Như ta đă biết Minh Trị Thiên Hoàng thiết lập nền quân chủ Lập Hiến theo
đó Hiến pháp được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 1980 và chấm dứt ngày 2
tháng 5 năm 1947 khi nước Nhật bị thua trận, và đặt dưới quyền quản lư của
người Mỹ.
Hiến pháp của Minh Trị Thiên Hoàng phục hồi quyền của Hoàng đế Nhật Bổn
trước kia bị các tướng quân (lănh chúa) chiếm đoạt. Bản Hiến pháp giới hạn
quyền Hành pháp (của Thủ tướng và các Bộ trưởng) và Hoàng đế quyền năng
tuyệt đối. Hiến pháp Nhật thiết lập một nền tư pháp độc lập và Quốc hội;
bên cạnh c̣n có một tổ chức giống như Thượng viện của Mỹ quốc.
Hiến pháp Nhật có 7 Chương, 2500 chữ. Trong 7 Chương gồm có:
Chương 1
– Hoàng đế (từ Điều 1 đến Điều 17)
Chương 2 - Quyền lợi và bổn phận của công dân Nhật Bổn (từ Điều 18
đến Điều 32)
Chương 3
- Quốc hội (từ Điều 33 tới Điều 54)
Chương 4 – Các Bộ trưởng và Hội đồng Tư vấn (Cơ mật) (từ Điều 55 tới
Điều 56)
Chương 5
– Tư pháp (tử Điều 57 tới Điều 61)
Chương 6
– Tài chánh (từ Điều 62 tới Điều 72)
Chương 7 – Các Quy tắc Bổ túc (từ Điều 73 tới Điều 76)
Theo Hiến pháp Minh Trị, quyền tối hậu là nhà Vua, Vua là đại diện
tối cao của nước Nhật. Trong Luật số 4 nói rơ Vua đứng đầu quốc gia và Vua
đứng đầu cả Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.
Hiến pháp cũng quy định:
Nhiệm vụ công dân là tôn trọng Hiếp pháp, đóng thuế, phục vụ trong
quân đội.
Quyền lợi công dân
Tự do di chuyển
Không ai đựợc khám xét nhà của dân nếu không có trát ṭa
Thư từ được bảo vệ
Quyền tư hữu
Tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do lập hội (Điều khoản 29)
Ngoài ra các công dân Nhật Bản có quyền tự do tôn giáo, tự do khiếu nại,
được quyền đối xử công bằng trước ṭa án, được quyền bổ nhiệm vào các chức
vụ dân sự hoặc quân sự. Nhật Hoàng có toàn quyền tuyên chiến kư Hiệp ước
ḥa b́nh, giải tán Quốc hội, ban hành các Sắc lệnh khi Quốc hội nghỉ hè là
Tổng tư lệnh quân đội Hoàng gia về lục quân, hải quân. Hiến pháp Minh Trị
cung cấp chính phủ gốm có Thủ tướng và các Bộ trưởng tuân theo lệnh Thiên
Hoàng.
Như vậy hiến pháp Nhật Bổn thông qua năm 1889 gồm Thượng viện (upper
house) do nhà vua lựa và Hạ viện (lower house) do dân bầu ra. Ngoài ra c̣n
có viện cơ mật (genro)
gồm các cố vấn giúp nhà vua.
Hạ viện chỉ được bầu ra bởi các nam công dân Nhật Bổn.
Sau khi ban hành Hiến pháp th́ nước Nhật trong ṿng 45 năm cai trị bởi
Minh Trị Thiên Hoàng đă trở thành một cường quốc trên thế giới. Nhờ sự cải
tổ giáo dục học tiếng Anh, nhập cảng văn minh phương Tây, xây dựng đường
xá cầu cống, phát triển kỹ thuật cho nên dần dần ra khỏi bóng văn minh
Trung Hoa.
Cũng nên nhắc lại, trong thời gian trị v́ từ năm 1868 tới năm 1912 nước
Nhật đă mời 3000 giáo sư Tây phương dạy Khoa học, Toán, Kỹ thuật, Sinh ngữ,
nước Nhật xây dựng đường xá, đường sắt, cải cách ruộng đất cho phù hợp với
sự phát triển kinh tế. Để đề cao kỹ nghệ, chính phủ Nhật giúp đỡ các nhà
kinh doanh tư lập các chương tŕnh mua các dụng cụ tối tân để phát triển
kinh tế. Trong thời Minh Trị Thiên Hoàng, chính phủ Nhật Bổn tự đứng ra
xây dựng cac nhà máy, các xưởng đóng tàu rồi bàn lại cho tư nhân với giá
rất rẻ v́ vậy các nhà kinh doanh nhanh chóng trở thành các tổ hợp.
Ngày 15-5-1878,
thiết lập thị trường chứng khoán TOKYO
(Tokyo Stock Exchange Co., Ltd.)
Ngày 30-6-1943, thị trưởng chứng khoán Tokyo đổi tên là
Thị trường chứng khoán an toàn Nhật (Japan
Securities Exchange)
Ngày
16-4-1947,
thị trường chứng khoán
an toàn Nhật bị giải tán (dissolved)
Ngày 1-4-1949, thị trường chứng khoán
Tokyo được tái lập và giữ nguyên trạng cho tới nay.
Trong khoảng từ 1945-1952, Nhật bị Hoa Kỳ chiếm đóng và
Hoa Kỳ đă giúp đỡ Nhật Bổn trở thành nước dân
chủ. Hoa Kỳ đă giúp đỡ Nhật làm cho kinh tế Nhật Bổn càng ngày càng
phát triển. Vào khoảng 1955, sản xuất của Nhật Bổn đă bắt kịp thời tiền
chiến (Thế chiến thứ 2).
Trong khoảng 1953-1965, Tổng sản lượng GDP phát triển gia tăng khoảng
9% mỗi năm, đặc biệt là khu vực sản xuất và đào mỏ tăng 13% xây dựng tăng
11%, hạ tầng cơ sở 12%.
Tới năm 1965, 41% dân số Nhật Bổn thuộc công nhân lao động, 26% phục
vụ canh nông. Sau chiến tranh, Nhật canh tân nền giáo dục. Nhật là nước có
tỷ lệ biết chữ cao nhất thế giới và nền giáo dục đại học Nhật Bổn giúp đỡ
Nhật tiến bộ kỹ thuật và phát triển kinh tế. Các trường Nhật Bổn khuyến
khích kỹ luật để tạo ra các công nhân hữu hiệu sau này. Nhật Bổn phát
triển về kỹ nghệ vải vóc, xe hơi, tàu thủy, các dụng cụ máy móc.
Nền kinh tế Nhật Bổn phát triển gia tăng sản và đào mỏ 17% từ năm
1965 tới năm 1970. Độ tăng trưởng GDP khoảng 8% đặc biệt phát triển ngành
tiểu thương tài chánh thông tin, dịch vụ. Nhật Bổn bị thử thách kinh tế
vào giữa thập niên 1970. Sự khủng hoảng dầu hỏa năm 1973 làm hại nền kinh
tế Nhật v́ nền kinh tế này phụ thuộc vào nhập cảng dầu hỏa. Nhật Bổn cố
gắng tiết kiệm năng lượng và cố gắng phục vụ dầu hỏa và tăng cường sản
xuất trong thập niên 1970 và 1980.
Trong các thập niên 1970 và 1980, Nhật Bổn phát triển các mạch dẫn
điện tử, các máy điện toán, TV, xe hơi, máy móc. Trong thập niên 1980,
mức tăng trưởng GDP tăng trưởng khoảng 5%.
Trong thập niên 1970, Tổng sản lượng quốc gia GDP của Nhật đứng hạng
nh́ thế giới chỉ sau Hoa Kỳ trong khoảng từ 1987-1989, kinh tế Nhật tăng
trưởng khoảng 5%.
Năm 1989, nền kinh tế Nhật lên cao cùng cực thị trường chứng khoán
Nhật cao nhất ngày 29 tháng 12 năm 1989 với chỉ số NEKKI 225 : 38915.
Trong khi đó nhà cửa Nhật Bổn cao nhất thế giới tại Tokyo (1m2
đất giá 1 triệu rưỡi đô-la Mỹ). Lúc đó người ta ước lượng rằng đất đai
xung quanh khu hoàng thành của nhà vua cao hơn giá tổng số đất đai của
tiểu bang California.
(Prices were highest in Tokyo's
Ginza district in 1989, with choice properties fetching over
US$1.5 million per square meter ($139,000 per square foot). Prices
were only slightly less in other areas of Tokyo. By 2004, prime "A"
property in Tokyo's financial districts had slumped and Tokyo's
residential homes were a fraction of their peak, but still managed to be
listed as the most expensive in the world. Trillions were wiped out with
the combined collapse of the Tokyo stock and real estate markets.)
V́ giá nhà đất cao như vậy cho nên nhiều người không đủ tiền trả góp nên
mất nhà, nhà băng cũng bị thua lỗ. Và t́nh trạng này, nhà xuống giá thê
thảm mà người ta gọi là t́nh trạng địa ốc bong
bóng x́ hơi.

Với Chỉ số giá nhà năm 1984 là
100 th́ năm 1990 là
250 nhưng năm 2008 lại xuống c̣n 110,
nghĩa là sau 24 năm giá nhà lại gần như cũ.
Nói khác đi giá nhà năm 2008 chỉ bằng
110/250 =40% giá nhà năm 1990 và v́ vậy nền
kinh tế Nhật Bổn thật sa sút và làm cho nền kinh tế bị suy sụp cho đến
ngày nay chỉ số chứng khoán Tokyo chỉ số NEKKI 225
trên dưới 8 ngàn (thị trường chứng khoán
Nhật cao nhất ngày 29 tháng 12 năm 1989 với chỉ số NEKKI 225 là 38915).
Kể từ năm 1990 sau kỳ suy thoái bong bóng địa ốc
và lúc đó kể từ thập niên 1990 Nhật Bản bị nạn giảm giá. Ngày 19
tháng 3 năm 2001, chính phủ Nhật và nhà băng Nhật Bản giảm giá tiền lời
xuống 0%. Chính sách này không giúp đỡ ǵ kinh tế
Nhật Bổn và làm cho nền kinh tế Nhật không tiến được.
Trong thập niên 1990 - 2000 kinh tế Nhật Bổn tăng trưởng rất ít so
với các nước khác độ tăng trưởng rất yếu chỉ khoảng 1% trong 10 năm trong
khi thập niên 1980 độ tăng trưởng của Nhật khoảng 4%-5%. Trong giai đoạn
này, Nhật bị 3 lần suy thoái, thậm chí tổng sản lượng nội địa GDP Nhật năm
2001 gần bằng năm 1995, nghĩa là dậm chân tại chỗ, thập niên này có tên là
thập niên thất thoát (lost decade).
(Japan's economic performance since the early 1990s has been
disappointing, both in relation to its own history and relative to the
record of other major industrial countries. Real GDP growth has averaged 1
percent a year over the past 10 years, well below that in other OECD
countries, and only one-fourth of the 4 percent annual average growth rate
recorded in Japan in the 1980s. Japan, moreover, experienced three
recessions in the past decade, in contrast to the trend in other
industrial countries toward milder and less frequent downturns in the
postwar period. Meanwhile, nominal GDP has fared even worse than real GDP
(the level of nominal GDP in 2001 was approximately the same as in 1995),
as moderate deflation has become entrenched. This poor economic
performance has led some commentators to call the 1990s Japan's "lost
decade."
)
Chi tiết:
http://www.imf.org/external/pubs/nft/2003/japan/index.htm
Tháng
7 năm 2006 chính sách tiền lời 0% bị hủy bỏ, tuy
nhiên đến năm 2008, tiền lời của các nhà băng Nhật vẫn thấp nhất thế giới
(0.5 %).
Việc
giảm phát (Deflation) của Nhật Bổn bao
gồm các nguyên nhân sau đây:
Tiền vốn giảm bắt đầu từ giá nhà càng ngày càng xuống lan tràn sang
giá các vật khác gây ra nạn giảm giá tức là giá mỗi hàng hóa cứ mỗi ngày
mỗi xuống, khi mà giá vốn giảm th́ tiền tệ cung cấp thu hẹp lại.
Các nhà băng cho các công ty và cá nhân vay tiền. Khi giá nhà xuống
th́ người vay không trả được dù nhà băng có tịch thu nhà và bán được nhà
với giá hạ th́ cũng không đủ bằng giá cho vay. Các nhà băng hy vọng giá
nhà sẽ lên trở lại, tuy nhiên giá nhà càng ngày càng xuống và v́ vậy các
nhà băng càng ngày càng suy thoái và làm cho nền kinh tế suy sụp theo.
V́ các nhà băng mất quá nhiều nợ cho nên không đủ khả năng cho vay
nữa và v́ vậy càng ít tài trợ cho các dự án phát triển kinh tế. Nhân dân
Nhật lo sợ các nhà băng sụp đổ cho nên đổ xô mua vàng nên số tiền đáng lư
dùng trong việc phát triển kinh tế th́ ứ đọng lại trong các đống vàng làm
cho kinh tế càng ngày càng suy thoái thêm. Thời kỳ này xảy ra từ năm 1989
và kéo theo nền kinh tế Nhật Bổn gần như không thể phát triển được. Như ta
đă biết điểm cao nhất của thị trường chứng khoán Tokyo là 38915 vào ngày
29 tháng 12 năm 1989, và cứ thế tuột dốc xuống năm 2003 tới 7603 tức là
c̣n 7603/38915 = 19.537%. Ngày nay, khoảng trên dưới 9000.
Thị trường chứng khoán Nhật Bổn tên là Nikkei 225 có chỉ số thay đổi sau
đây.
Chi tiết:
http://en.wikipedia.org/wiki/Tokyo_Stock_Exchange
NIKKEI
225 (Osaka)

Năm 2003 xuống tới 7831.
So sánh tổng sản lượng nội địa của Nhật và vài nước trong khoảng từ
1951- 1980 GNP theo tỷ Đô-la Mỹ.
Nominal
GNP of Five Major Nations, 1951-1980 (amounts in US$ billion)
|
Year
Năm
1951
1955
1960
1965
1970
1975
1980 |
Japan
Nhật
14.2
22.7
39.1
88.8
203.1
498.2
1,040.1 |
USA
Mỹ
328.4
398.0
503.8
688.1
992,7
1,549.2
2,633.1 |
W.Germany
Tây Đức
28.5
43.0
70.7
115.1
184.6
418.2
816.5 |
France
Pháp
35.1
49.2
60.0
99.2
145.5
339.0
657.1 |
Britain
Anh
41.4
53.9
71.9
100.2
124.0
234.5
525.5 |
Source : Keizai Koho Sentaa,
Japan: An International Comparison (Tokyo: Keizai Koho Sentaa, (1983),
p.5.
Ngoài ra, GDP (Tổng sản lượng nội địa) của Nhật Bổn hàng năm theo bản
kết toán sau đây:
|
Year |
Gross
Domestic Product |
US
Dollar Exchange |
Inflation Index (2000=100) |
|
1955 |
8,369,500
$23.248 tỷ USA |
¥360.00 |
|
|
1960 |
16,009,700
$44.47 tỷ USA |
¥360.00 |
|
|
1965 |
32,866,000
$ 91.29 tỷ USA |
¥360.00 |
|
|
1970 |
73,344,900
$204 tỷ USA |
¥360.00 |
|
|
1975 |
148,327,100
$499.4 tỷ USA |
¥297.26 |
|
|
1980 |
240,707,315
$ 1069.8 t ỷ USA |
¥225.82 |
75 |
|
1985 |
323,541,300
$ 1366.3 tỷ USA |
¥236.79 |
86 |
|
1990 |
440,124,900
$ 3056.4 tỷ USA |
¥144.15 |
92 |
|
1995 |
493,271,700
$ 4016.8 tỷ USA |
¥122.78 |
98 |
|
2000 |
501,068,100
$ 4682 tỷ USA |
¥107.73 |
100 |
|
2005 |
502,905,400
$ 4571 tỷ USA |
¥110.01 |
97 |
2007 GDP $ 4384
Xem như vậy, kể từ khi thị trường nhà cửa của Nhật Bổn cao quá vào khoảng
năm 1989-1990 gây ra nạn không trả nợ được kéo theo nền kinh tế Nhật Bản
tŕ trệ gần 20 năm nay. Trong thập niên
khoảng 1900-2000, độ tăng trưởng của GDP Nhật Bổn gần như không đáng kể
gây ra t́nh trạng kinh tế đ́nh trệ mặc dầu
với cơ sở sản xuất điện tử, TV, xe hơi và các hàng kỹ thuật cao đứng ngang
hàng với Mỹ và GDP đứng hạng nh́ thế giới sau Mỹ cho đến ngày nay 2008,
nhưng thị trường chứng khoán Nikkei cũng không bao giờ hồi phục được, mức
cực đại là 38915 vào ngày 29 tháng 12 năm 1989 nay
c̣n khoảng 8859 vào ngày 31-12-08 sau 19 năm.
NIKKEI
225 (Osaka)

|
Index Value: |
8,859.56 |
|
Trade Time: |
Dec 29 |
|
Change: |
112.39
(1.28%) |
|
Prev Close: |
8,747.17 |
|
Open: |
8,716.28 |
|
Day's Range: |
8702.95 - 8859.56 |
|
52wk Range: |
6,994.90 - 15,156.70 |
Gương sáng của Nhật Bổn phát triển kinh tế sau cải cách của
Minh Trị Thiên Hoàng đưa Nhật Bổn lên hàng thứ nh́ về kinh tế trên
toàn thế giới cho đến ngày nay nhưng việc giá nhà
của thị trường địa ốc Nhật Bổn cao quá tầm mua của nhân dân Nhật
làm cho thị trường chứng khoán Nhật Bổn không đạt được giá trị cũ sau 19
năm.
Đây cũng là một bài học cho các nước khác kể cả Mỹ Quốc và Việt Nam là
chính sách tiền lời nhà băng 0% không giúp ǵ cho kinh tế phát triển được.
Websites tham khảo:
http://www.artelino.com/articles/meiji-period.asp
http://en.wikipedia.org/wiki/Economic_history_of_Japan
http://en.wikipedia.org/wiki/Japanese_asset_price_bubble
http://images.google.com/images?hl=en&q=
house+price+change+in++japan+from+1988+to+2008&btnG=
Search+Images&gbv=2
http://graphics8.nytimes.com/images
/2008/03/18/opinion/18opchart.large.gif
http://www.ired.com/news/mkt/japan2007.htm
http://www.investopedia.com/articles/economics/08/japan-1990s-credit-crunc
http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_Japan
http://en.wikipedia.org/wiki/Meiji_Constitution
http://www.jref.com/society/
japan_postwar_economic_miracle.shtml
http://www.theodora.com/wfb1989/japan/japan_economy.html

Nguyễn
Văn
Thành
Xuân
Kỷ
Sửu
- 2009
