Người Viết
: Phạm Văn Thịnh là tên thật của tôi. Những nhân vật mà tôi đề cập
đến, trong bài viết dưới đây, đều là tên thật. Nếu có mạo phạm đến quí tôn
danh nào, xin chân thành tạ lỗi. Ngoài ra, nếu quí vị nào là cựu học sinh
Phạm Ngũ Lăo có nhận ra tôi, và nếu muốn, xin liên lac :
pttrong@yahoo.com

Không
hiểu thời xưa, trẻ con được cho đi học trễ hay v́ hoàn cảnh chiến tranh
phải chạy loạn, mà măi cho đến năm 14 tuổi anh tôi mới bắt đầu học lớp Đệ
Lục, c̣n tôi 8 tuổi mới đang học lớp Năm, tức là lớp 1 bây giờ. Tôi c̣n
nhớ năm ấy là 1954, sau Hiệp Định Genève, gia đ́nh tôi đi tàu há mồm đến
Nha Trang, và chỉ 3 ngày sau đó, bố tôi đă gởi anh tôi học nội trú Trường
Kim Yến ở đường Lê Lai. C̣n tôi, th́ theo gia đ́nh đi Ninh Ḥa cách
NhaTrang khoảng 30km. Dù ở đó không đầy 6 tháng, tới nay hơn nửa thế kỷ đă
qua, trong ḷng vẫn thấy đậm đà với Ninh Ḥa. Có lẽ tại Ninh Ḥa đă cho
tôi nhiều cái “biết lần đầu” ở cái tuổi chưa biết mấy, nhưng dấu ấn sâu
đậm nhất, Ninh Ḥa đă đặt vào cuộc đời tôi h́nh ảnh cuộc đời của một con
người, một con người tầm thường hơn tất cả mọi thứ tầm thường trên đời,
nhưng nỗi đau đớn của nó lại văng ra từ sự giẫy dụa triền miên của cả một
dân tộc.
Gia
đ́nh tôi đến Ninh Ḥa vào một buổi chiều dịu nắng. Xe dừng trước một căn
nhà “Tây” ở mặt tiền, trong khuôn viên Bệnh Viện Ninh Ḥa, đằng trước có
hàng cây mà sau này mới biết tên gọi là Cây Bông G̣n. Rồi một người đàn bà
trẻ đẹp có vẻ mừng rỡ ra chào đón, bố mẹ bảo chị em tôi khoanh tay chào
“cô đỡ”, và từ đấy chúng tôi gọi người đàn bà đẹp ấy là Cô Đỡ như một cái
tên.
Cô
Đỡ là người Hà Nội, tốt nghiêp Trường Hộ Sinh Quốc Gia, được bổ nhiệm về
Ninh Ḥa từ mấy năm trước, làm Trưởng Nhà Hộ Sinh trực thuộc bệnh viện
quận, có ông Giám Đốc tên là Hà. Hóa ra, bố tôi và Cô đă quen nhau từ đời
thuở nào rồi, và trước khi di cư bỏ miền Bắc, bố tôi vẫn liên lạc với Cô,
nên mới mau chóng về Ninh Ḥa là như vậy. Cô Đỡ sống độc thân, nhưng có 2
con, đứa trai 4 tuổi tên Cầu và đứa gái 2 tuổi tên Duyên, với một “chị ở”
theo Cô từ Hà Nội vào. Cô nhường nửa căn nhà của cô cho gia đ́nh tôi ở tạm,
rồi tính sau. Sau khi t́m chỗ học cho tôi và sắp xêp được chỗ ăn ở tạm cho
gia đ́nh xong, bố tôi làm một cuộc hành tŕnh hết Trung tới Nam suốt nhiều
tháng để t́m đất sống.
Mới
chân ướt chân ráo tới Ninh Ḥa được vài ngày, bố tôi đă nhờ Chị Quỳnh, lôi
cổ tôi tới trường Phạm Ngũ Lăo nộp cho Thầy Thưởng (?). Chị Quỳnh chính là
“chị ở” nhà Cô Đỡ, chắc khoảng 20 ngoài. Nghe đâu, hồi năm đói Ất Dậu,
thấy chị sắp chết đói nằm co quắp gần Sở Cẩm Sơn Tây, bố mẹ Cô Đỡ đem về
nuôi, sau này Cô Đỡ đi đâu Chị Quỳnh theo đó để hầu hạ. Thân phận của chị
cũng giông giống với anh B́nh tôi. Anh là con nuôi của bố mẹ tôi, nhưng
trên khai sinh, tôi với anh cùng cha cùng mẹ. Có một độ, tôi thấy anh lúc
nào cũng thở ngắn thở dài, mặt lúc nào cũng thừ ra, có khi thấy anh ngồi
một ḿnh, miệng há hốc nước dăi chảy cả ra mép, trông như một con gà rù.
Mẹ tôi bảo anh B́nh ốm tương tư chị Quỳnh…Trở lại chuyện đi học, chị Quỳnh
dẫn tôi đi khai học trường Phạm Ngũ Lăo vào một buổi sáng, ngay giờ ra
chơi. Sau khi thử sức, Thầy xếp tôi vào học lớp bét, tức là lớp Năm, mà
bây giờ gọi là Lớp 1. Có lẽ nhờ được xếp vào lớp bét nên tôi thuộc loại
học giỏi trong lớp, chẳng qua là trước đó tôi đă học xong lớp Năm, nhưng
bị đứt đoạn mới phải học lại, nên chỉ hơn tháng sau tôi được Thầy cho lên
Lớp Tư, chứ chắc không phải tại tôi “thông minh vốn sẵn tính trời”. Được
lên lớp, nhưng không phải chuyển pḥng học, mà chỉ phải chuyển bàn, có lẽ
pḥng học gồm nhiều học sinh có tŕnh độ khác nhau.
Một
chút kỷ niệm về thầy Thưởng. Thầy khoảng 40 tuổi, tôi đoán như vậy. Trông
Thầy cao cao, dáng người to khỏe nhưng không mập, khuôn mặt rắn rỏi, và
h́nh như nước da hơi ngăm ngăm đen, Thầy có người con trai lúc ấy đă học
lớp Đệ Tứ, thỉnh thoảng anh vẫn đứng lớp,
mỗi khi Thầy bận công chuyện.
Tôi chưa bao giờ thấy Thầy cười với học tṛ trong lớp, kể cả lúc Thầy khen
tôi học giỏi mà mặt vẫn nghiêm như một ông quan ṭa. Thỉnh thoảng dẫn học
tṛ đi chơi xa, kiểu học tṛ Mỹ đi “field trip”, mới thấy nét mặt Thầy
“nhẹ nhơm dễ thương” một chút. Có lần thầy dẫn chúng tôi đi xa lắm, tôi
nghĩ cả chục cây số, đi bộ từ sáng đến trưa, ăn uống xong nghỉ ngơi rồi
tắm suối, đến tắt nắng cũng chưa về tới nhà. Tuy mệt, nhưng cũng thích thú
lắm, khoái nhất là dọc đường vớ được mấy cây sim có trái chín tim tím ngọt
ngọt, c̣n kẹt lắm th́ cũng nhai đỡ mấy trái “sắn thuyền” chát chát chua
chua. Lúc ấy, tôi không thấy đồi sim “tím cả chiều hoang biền biệt” như
sau này đọc thơ Hữu Loan, v́ chỉ đi qua những vùng sim lác đác, nhưng thấy
“môi tím cả chiều hoang” th́ có, v́ ăn sim với sắn thuyền xong môi đứa nào
đứa nấy tím ngắt mầu sim. Sau ngày đi chơi, Thầy lại tiếp tục dành cho
chúng tôi “con đường gian khổ”, tiếp tục “dữ đ̣n” với kẻ “cần đ̣n”. Học
tṛ “dốt” hay làm biếng Thầy trị một kiểu, “ở dơ” trị theo kiểu ơ dơ. Bị
quỳ, bị bắt nằm xuống đánh roi, bị ở lại trưa chép phạt, hay bị khẻ tay…tùy
theo “tội trạng” mà xử. Đối với tôi, Thứ Sáu nào cũng là Thứ Sáu Đen, tôi
như “cá nằm trên thớt”, v́ mỗi Thứ Sáu là khám “vệ sinh thân thể”, tay bị
dây mực hay móng tay dính đất là chỉ có nước ăn thước kẻ nát tay, và tôi
không lần nào thoát cả, cố giữ thế nào bàn tay vẫn vấy mực, móng tay vẫn
dính đất. Mà công nhận thầy đánh đau thật, tôi vừa sợ vừa “ghét” thầy vô
cùng, lúc ấy tôi cứ ngỡ thầy không ưa “Bắc Kỳ Di Cư” nên đánh tôi đau hơn.
Cho tới khi có chuyện lớn xẩy ra, tôi mới vỡ lẽ, ḿnh bị khẻ tay không
phải tại thầy ghét Bắc Kỳ. Chuyện từ vụ một tṛ khác không phải là Bắc Kỳ
bị ăn đ̣n đau, và cũng nhờ chuyện lớn này mà Thầy đă phá lệ cho tôi một
“tí cười”, chỉ một tí thôi, nhưng cũng đủ làm thằng bé tôi lúc đó cảm động
đến tê người.
Giờ
tan học buổi chiều hôm ấy, khi đă ra tới gần giữa sân mà tay tôi vẫn từ
sau bám vai người trước, miệng nghêu ngao hát nhái giọng Ninh Ḥa, chọc
ghẹo anh bạn có khuôn mặt đầy loang ben, “Tang” học rồi là “tang” học rồi…
Cũng nói thêm ở đây, thời đó học tṛ phải đi học ngày 2 buổi, mỗi ngày
chúng tôi phải hát mấy bài hát khác nhau, tùy theo sáng trưa chiều, giờ
tan học th́ hát “Tan học rồi là tan học rồi, giơ tay đứng lên chia tay ra
về. Đi đi đi trên đường ta đi ta hát…Đẹp thay thời ấu thơ…”. Trước khi ra
về, mọi học sinh phải ngồi ngay ngắn, thầy cất tiếng hát, tṛ hát theo,
khi nào thầy gơ một cái th́ bàn thứ nhất giơ tay đứng lên, người sau vịn
vai người trước, vừa đi vừa hát “tan học rồi…” cho tới khi ra khỏi lớp,
một tiếng gơ tiếp theo th́ bàn kế tiếp mới đứng lên, cứ vậy cho tới bàn
cuối cùng. Lúc ấy đă ra tới gần giữa sân, tôi vẫn c̣n bám vai chọc ghẹo
anh bạn loang ben với chữ “Tan” nhái giọng hát thành “Tang”. Bất chợt
chúng tôi thấy có một ông Hiến Binh đội két đỏ săm săm đi tới. Anh bạn ṭ
ṃ đi theo người HB, c̣n tôi chạy vụt ra cổng, v́ mùi chuối chiên từ phía
đó bốc lên thơm lừng, vừa chạy tôi vừa lằn túi xem có c̣n đồng bạc chị
Quỳnh cho hồi trưa. Tôi biết và khoái món chuối chiên cũng tại chị Ḥa
“thảo ăn”, học cùng lớp. Người
Bắc gọi
người “thảo ăn” có nghĩa là người thường cho hoặc mời người khác chia phần
đồ ăn của ḿnh, chị Ḥa cho ăn thử một đôi lần, tôi “bắt nghiền’ luôn.
Miếng chuôi chiên vừa nóng vừa to, tôi đứng tại chỗ chén chưa hết phân nửa,
th́ nghe có tiếng ồn ào phía sân trường : một đám đông học tṛ đang đứng
trước cửa lớp nh́n vào.
Tay
xách cặp, tay cầm miếng chuối chiên cuộn vội trong tờ lá chuối heo héo,
tôi chạy về phía cửa lớp. Chuyện ǵ vậy? Thầy bị oắn một cái. Ai oắn ? Ông
Hiến Binh ba tṛ…Sao oắn ? Ai biết. Tôi hỏi lung tung, cuối cùng cũng biết
người HB, có đứa con trai bị đánh đ̣n bữa trước, nên mới tới gây gỗ và
hành hung thầy tôi. Khi nghe thầy bị đánh, tự nhiên tôi cảm thấy mặt nóng
bừng bừng, và cảm thấy cần phải làm một cái ǵ để bênh vực thầy, nhưng tôi
chỉ là thằng bé con, biết làm ǵ bấy giờ. Sau khi người HB hầm hầm bỏ đi,
thầy tập trung chúng tôi tại sân rồi dặn, “Về nói với ba má, sớm mai các
tṛ đi biều t́nh, tṛ nào ba má không cho đi th́ ở nhà, khỏi đi học. Bây
giờ các tṛ về đi.”…Lần đầu tiên nghe chữ “biểu t́nh”, tôi chẳng hiểu ǵ
cả, nhưng cũng đoán là làm cái ǵ đó chống lại ông Hiến Binh.
Đă
ra khỏi cổng trường, nghĩ sao tôi quay trở lại, thầy vẫn ngồi tư lự trên
bàn của thầy trong lớp học. Tôi ngập ngừng trước cửa, tính quay ra. Bất
chợt, thầy nói vọng ra, “sao chưa về”. Có lẽ thấy tôi ấp a ấp úng, thầy
đứng lên tiến về phía tôi, “có chuyện ǵ không ?”, một lúc tôi mới lắp bắp
lí nhí trong cổ, “Thầy..có đau không?”. Tôi thấy Thầy khẽ nhếch mép cười,
không thành tiếng, tay đặt nhẹ lên đầu tôi. Từ bàn tay Thầy, tôi cảm thấy
như có một luồng điện đang truyền vào mặt tôi, điện qua gáy lan xuống sống
lưng, cả người tôi cứ tê tê lên v́ cảm động. Có bao giờ tôi được Thầy gần
gũi thân thiện như vậy đâu. Tôi nói, “ngày mai con biểu t́nh”, dù chưa
biết biểu t́nh là làm ǵ.Thầy bảo, “Ừ, về đi.”. Sau tiếng “dạ”, tôi quay
người chạy, vấp phải cái ǵ đó chút síu th́ té, miếng chuối chiên trơn
trợt tuột khỏi tờ lá chuối văng xuống đất. Sau lưng có tiếng Thầy gọi với
theo, “dơ rồi, bỏ đi, coi chừng té.”.
Từ
đấy, tôi cảm thấy tự tin hơn khi đứng trước mặt thầy, và cũng không c̣n
thấy “ghét” thầy nữa, dù bàn tay tôi vẫn “tan nát” vào mỗi ngày Thứ Sáu,
cây thước kẻ của thầy vẫn nặng kí chắc nịch như hồi nào. C̣n Ông Hiến Binh,
không biết có bị bắt tội ǵ không, nhưng tôi có thấy đến trường gặp thầy
mấy lần, trông ỉu x́u. Lần đến sau cùng, ông HB đi cùng với một người nữa,
đứng trước lớp học, phải xin lỗi thầy, và xin lỗi cả đám học tṛ oắt con
là chúng tôi nữa. Sau đó, lớp học vắng bớt một người, hay là gia đ́nh
người HB đă di chuyển khỏi Ninh Ḥa ?
Trong
số những bạn học Phạm Ngũ Lăo, bây giờ tôi chỉ c̣n nhớ tên được 3 người.
Chị Ḥa “thảo ăn”, người cho tôi lần đầu biết món chuối chiên. Người thứ
hai là anh Đắc to bục bịch, giọng e é như con gái, mà mấy đứa thuộc loại
“thứ 3 học tṛ” thường chọc ghẹo “ghép đôi” anh với chị Ḥa. Anh Đắc cũng
gốc Bắc Kỳ, nhưng là gịng dơi “ Bắc Kỳ Cựu”. Người Bắc 54 gọi những người
Bắc vô Nam trước, theo những đợt tuyển phu cạo mụ cho Tây đồn điền cao-xu
từ Thập Niên 30,40 là Bắc Kỳ “Kịu”. Miền Trung không có đồn điền cao xu,
nhưng có lẽ theo ḍng đời, gia đ́nh Đắc đă trôi dạt đến Ninh Ḥa? Sau này,
thời c̣n đi học ở Sài G̣n, trong một lần làm “cái đuôi” lén lút “theo em
đi lễ đầu năm”, tôi vô t́nh gặp anh Đắc là thầy tu trong một ngôi chùa áo
Nâu ở ngoại ô Sài G̣n. Tại đây, tôi biết anh bị “gay”, v́ anh có vẻ muốn
“tán tỉnh” tôi. Nhưng không hiểu sao đến đầu thang 5/1975, vô t́nh thấy
anh tại khu Ngă Tư Bảy Hiền gần Phi Trường Tân Sơn Nhất, tôi lại thấy anh
mặc áo Vàng. Nh́n anh từ “Nâu” đổi sang “Vàng”, tự nhiên tôi thấy người
gai gai, ngại ngần không dám đến bắt tay, v́ dầu sao lúc ấy tôi là kẻ
đang trên đường đến trường Nguyễn Thượng Hiền gần đó, để tŕnh diện lần
đầu, theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản Sài G̣n. Vả lại, trong đời, tôi sợ
nhất là con rắn, nhưng gớm ghét nhất là con tắc kè.
Cho
tới bây giờ, đă giữa Thu tuổi đời, có ai nhắc tới Ninh Ḥa, là tôi nghĩ
ngay tới Khánh và chị Quỳnh; hay ngược lại, gặp ai có tên Quỳnh hay Khánh,
tôi lại nhớ tới Ninh Ḥa, cũng như khi nh́n thấy miếng chuối chiên lại nhớ
chị Ḥa. Khánh là người Hoa, cũng trạc tuổi tôi, con nhà giầu nhưng tánh
t́nh rất b́nh dị, dễ ḥa đồng, nhà ngay mặt tiền khu phố chợ Ninh Ḥa. Tôi
hay trêu
gọi anh là “ Khánh C̣m” hoặc “Khánh khè”,
v́ anh trông thật gầy g̣, và đôi khi hơi thở của anh nghe như có tiếng kḥ
khè từ trong cổ. Ngày nào Khánh cũng chờ tôi ghé qua nhà gọi đi học, mà
lần nào khi ra khỏi nhà, anh chàng cũng mang theo một món đồ ăn, lúc th́
gói chà là, khi cái bánh tráng nướng, hay mấy cục ô mai cam thảo, và dĩ
nhiên, lần nào tôi cũng được chia phần, có lần Khánh chia cho tôi nửa con
khô mực nướng, to kềnh như cái quạt mà trong đời tôi mới thấy lần đầu. Và
cứ vậy, ngày 2 buổi, gần như ngày đi học nào cũng 4 lần đi về chung với
Khánh. Tôi thích chơi với Khánh, không biết tại Khánh dễ thương hiền lành
giống…tôi, hay v́ Khánh hay cho tôi đồ ăn, có lẽ tại cả hai. Nếu gia đ́nh
tôi vẫn ở lại Ninh Ḥa tới khi tôi khôn lớn, có lẽ chúng tôi đă trở thành
bạn rất thân. Không hiểu Dương Công Khánh, tức nhà văn Nam Kha bây giờ, có
phải là thằng “Khánh Khè” của tôi ngày xưa không ? Tại trường, tôi chỉ
chơi với Khánh, c̣n ở nhà, tôi chơi với chị Quỳnh. Gia đ́nh tôi không có
một liên hệ ǵ với chị Quỳnh, chỉ ở chung nhà, nhưng sao chị thương và
chiều chuộng tôi c̣n hơn là chị ruột. Với Khánh, tôi c̣n được chung lớp
chung trường 5, 6 tháng; với chị Quỳnh, tôi chỉ có không đầy 3 tháng chung
nhà, nhưng mấy tháng ngắn ngủi này đă theo tuổi lớn dần của tôi, càng ngày
càng hằn sâu trong ky
ức từ cái tuổi thơ xa xưa ấy, để
rồi tôi nghiệm ra rằng, cuộc đời đầy bi thương của chị Quỳnh là sự ngắt
véo từ cái bi thương trăm năm lịch sử đất nước.
Mang
thân phận tôi đ̣i, nhưng chị Quỳnh có dáng dấp của một cô gái con nhà giầu.
Mẹ tôi thường khen chị da trắng như bông bưởi, thắt đáy lưng ong, tướng
mắn con chiều chồng. Tôi th́ chỉ khoái nh́n đôi mắt to đen lay láy của chị,
nhất là cái tṛng trắng xanh lơ lơ. Có lần tôi bảo có mây bay trong mắt
chị, chị nạt tôi “thằng nhăi con có im đi không”, chắc chị sợ người khác
nghe chứ lúc ấy tôi 8 tuổi, đă biết ǵ đâu, chỉ thấy sao nói vậy. Dáng chị
cao cao, trông khỏe mạnh, đi chung với chị ngoài đường, tôi thấy nhiều anh
nh́n chị muốn văng cả tṛng ra ngoài. Chị thương và chiều chuộng tôi vô
cùng. Buổi trưa, đi học về trễ, tôi thường ăn cơm một ḿnh. Chị vẫn lấy đồ
ăn bên Cô Đỡ bỏ vô chén tôi, lúc miếng thịt, khi khúc cá nạc, thỉnh thoảng
chị cho tôi nguyên cả một trái táo Tây. Cái bánh sèo đầu đời của tôi là ở
Ninh Ḥa, chị Quỳnh mua cho. Một bữa, chị hỏi tôi có ăn bánh sèo không,
nói tới “ăn” là tôi “có” liền, nhưng cũng hỏi lại bánh sèo là ǵ, chị bảo
cũng như món bánh khoái của người Bắc, mà ngon hơn nhiều, rồi chị cầm dĩa
đi mua về chứ không dắt tôi đi ăn tại chỗ, chị bảo con trai không được
ngồi ăn ngoài đường, chả là chỗ bán bánh sèo nằm ngay lề đường phía bên
kia nhà. Chiếc bánh sèo trắng trợt, bên trong chỉ có vài cọng giá, nhưng
là chiếc bánh ngon nhất đời, nhất là lần đầu được ăn nước mắm pha chua
chua ngọt ngọt, tôi húp sạch không c̣n một giọt, ăn xong miệng c̣n chép
chép thèm thèm. Lần duy nhất trong đời tôi đi coi hát bội, cũng là chị
Quỳnh cho. Từ nhà, chị dẫn tôi đi bộ qua cầu, tới ngă ba sát Chợ Ninh Ḥa
quẹo phải, đi riết một hồi lâu, h́nh như phải quẹo vào một con đường đất
nữa, đi thêm một đoạn mới tới ngôi đ́nh có đêm hát bội. Tôi coi chả hiểu
ǵ, chỉ thấy đào kép rên ư ử, chủ yếu là ngồi nhấm nháp mấy món đồ ăn chị
Quỳnh mua đem theo. Mẹ tôi “phát lương” cho tôi 1 đồng vào buổi sáng, c̣n
chị Quỳnh thường cho tôi 1 đồng trước khi đi học buổi trưa.
Thường
là chiều nào cũng vậy, nấu nướng xong, chị dọn cơm sẵn cho Cô Đỡ, nghề của
cô giờ giấc bất thường, về lúc nào ăn lúc đó, và sau khi cho 2 đứa bé ăn,
chị thường gởi mẹ tôi trông chừng, rồi mang đồ dẫn tôi ra sông tắm giặt,
chị xách một túi lớn đựng đồ dơ, c̣n tôi mang túi đồ sạch, khi về tôi phụ
chị xách một túi nhỏ, c̣n chị th́ 2 tay 2 giỏ nặng trĩu đồ ướt. Mỗi lần đi
tắm, chị đều không quên mang theo một ít vôi. Chị thường dẫn tôi đến một
khúc sông vắng, có băi cát thoai thoải thật sạch, nước trong veo, không
đục ngầu và bùn lầy như bờ sông ngoài Bắc quê tôi. Ở đó, hai chị em tắm
giặt và đùa giỡn với nhau. Có lần tôi bị 2 con đỉa bám ngay bắp vế, chị
lấy vôi bôi vào, một lúc sau th́ đỉa rơi xuống. Th́ ra, chị mang vôi theo
để trị đỉa, người ta bảo “giẫy đành đạch như đỉa phải vôi” là như vậy.
Giặt giũ xong chị mới tắm, khi tắm chị để cả quần áo, chị ḱ cọ cho tôi
thật kỹ, tôi sợ nhất lúc chị thoa xà bông cho tôi, cục xà bông đá như
chiếc xe chồm lên chồm xuống trên con đường đầy ổ gà, là cái thân thể gầy
g̣ lấp ló những cọng sườn non yếu của tôi. Tắm xong, chị thay đồ trong một
tấm áo mưa bằng nhựa có cái lỗ ở giữa để ló đầu ra ngoài, tuy vậy, chị vẫn
cấm tôi không được nh́n chị, và phải quay ra ngoài trông chừng người ta
nữa, cho chị thay đồ. Có lần hai chị em đang tắm, th́ một đám 5,6 người
vác máy ảnh đi tới, trong đó có cả mấy cô mặc đồ tắm vai choàng khăn. Họ
yêu cầu chị bước lên băi để chụp h́nh chị đang mặc đồ ướt, chị chối đay
đảy và vội d́m người xuống nước. Chị không đẹp, sức mấy người ta đ̣i chụp
h́nh.
Một
hôm, nhà nhận được điện tín của bố tôi từ Sài G̣n. Vài ngày sau, mẹ đi gặp
bố, có cả chị tôi đi theo để phụ bế em, tôi ở nhà một ḿnh, và dĩ nhiên,
tôi đă được gởi gắm cho Cô Đỡ. Bữa cơm chiều, hôm trước ngày mẹ tôi đi Sài
G̣n, cả nhà Cô Đỡ và nhà tôi ăn cơm chung. Tối hôm đó, ở sân chợ Ninh Ḥa
lại có chớp bóng chiếu phim Tarzan, tôi đ̣i ăn trước, rồi vội vàng tếch đi
coi phim. Khi trở về, tôi thấy 3 người đàn bà đang chuyện tṛ rù ŕ, chị
Quỳnh mắt đỏ hoe, mẹ tôi và Cô Đỡ cũng sụt sùi. Tôi chả biết chuyện ǵ,
chỉ nghe loáng thoáng tiếng Cô Đỡ “Quỳnh ở lại đi, chúng nó nhớ chị lắm.”,
mẹ tôi th́ nói, “sao chị dại vậy”. Lúc ấy, tôi đâu biết được, bữa cơm hồi
chiều là mẹ tôi đăi, để tiễn chị Quỳnh đi tập kết về Bắc. Sáng hôm sau,
chị Quỳnh đi Nha Trang cùng với mẹ tôi, chị xách theo một cái va-li to
tướng. Buổi chiều đi học về, tôi lại thấy chị ỏ nhà.
Hôm
sau, chị cho tôi đi chơi Nha Trang. Trên đường ra ga xe lửa, chị dẫn tôi
ghé trường xin phép nghỉ học 1 ngày. Chị đưa tôi đến trường Kim Yến gặp
anh tôi. Chị dẫn anh em tôi đi chơi cả ngày, ăn uống, xi-nê, đi cả Sở Cá
nữa. Ngồi ở quán nước, chị khóc sướt mướt, chị bảo anh tôi, “ Mai chị về
Bắc, cậu ra bến tàu tiễn chị nhá.”, anh tôi hỏi sao chị không ở lại, chị
nói chị phải về để “t́m anh ấy”, chị c̣n hẹn “2 năm nữa sẽ quay lại, chị
em lại gặp nhau”, chị bảo chị mồ côi, chỉ có anh em tôi “là em trai” yêu
quí nhất của chị. “T́m anh ấy”, “anh ấy” là người yêu của chị. Sau này,
nghe anh tôi kể lại, anh ấy là một phu kéo xe ở Hà Nội. Những trưa hè vắng
khách, anh thường leo lên xe tựa càng bên gốc cây hoa phượng trước nhà ông
bà chủ của chị, nằm lim dim chờ khách, chị đi ra đi vô, hai người quen
nhau, yêu nhau, rồi ước hẹn chuyện vợ chồng. Bỗng một hôm, tự nhiên anh đi
đâu biệt vô âm tín, chị chỉ biết thở ngắn thở dài. Măi sau mới có tin nhắn,
anh bỏ chị chạy lấy người, v́ hoạt động bí mật bị lộ, được điều đi chiến
khu. Th́ ra thế, chị đă bắt anh B́nh tôi làm con gà rù, để trở lại chốn
xưa, đi t́m người về từ chiến khu. Nếu cuộc chiến có hậu, mối t́nh của
chị và “anh ấy” đẹp biết bao !
Trả
anh tôi lại trường, chị Quỳnh dẫn tôi về lại Ninh Ḥa. Buổi tối, Cô Đỡ bận
việc trong nhà Bảo Sanh, trong nhà đă có người giúp việc mới, chị vẫn quấn
quít với 2 đứa trẻ cho tới khi chúng ngủ say. Tới khuya chị bảo tôi đi ngủ,
lần đầu tiên chị ngủ cùng giường với tôi, chị rấm rức khóc, chị lấy tay
tôi quyệt nước mắt chị. Tôi thương chị vô cùng, nhưng tệ thật, sao tôi
không khóc với chị, không những thế, tiếng khóc rấm rức của chị như lời ru
đưa tôi thiếp vào giấc ngủ. Sáng thức dậy, chị Quỳnh của tôi đă đi rồi….Tôi
không khóc được với chị đêm chia tay, chị đi rồi tôi mới thấy hụt hững.
Những ngày nối tiếp thật buồn tẻ. Cả tháng, tôi không thiết ǵ ăn uống.
Buồn nhất là mỗi sáng thức dậy, h́nh ảnh chị ̣a đến đầu tiên, chị Quỳnh
không c̣n bên tôi nữa. Buổi chiều càng buồn da diết, không có chị Quỳnh
đưa đi tắm. Đi học, qua cầu, 4 lần nh́n nước sông Dinh, bóng dáng chị lại
chập chờn. Mấy tháng qua đi, mẹ tôi dọn nhà vô Sài G̣n, sau khi gởi tôi
vào trường Kim Yến với anh tôi, tới hết niên học. Tôi chia tay Ninh Ḥa từ
dạo ấy…
Trong
nỗi nhớ Ninh Ḥa, có cả con đỉa bị chị Quỳnh bôi vôi, chỉ có vôi mới đuổi
được đỉa. Tôi gọi những kỷ niệm Ninh Ḥa của tôi cũng là một lũ đỉa, loại
đỉa không hút máu mà chỉ bám chặt lấy tôi măi măi, không cách chi gỡ được.
Tôi không thích là vôi, bạc bẽo lắm. Không phải là vôi, không bạc như vôi,
làm sao tôi giết được cái lũ đỉa kia, lũ đỉa tôi gọi Đỉa Ninh Ḥa. Nói như
thế, đủ biết tôi đă sâu đậm với Ninh Ḥa như thế nào. Thế mà mới đây có
dịp về Việt Nam, tôi đă không thể nhín được dù chỉ 1 ngày cho Ninh Ḥa, cứ
tiếc măi. Nhưng bù lại, tôi đă về thăm quê tôi tận miền Bắc.
Thế
này, hồi tháng 11-2008, tôi có chút việc cần về Việt Nam, 12 ngày. Tôi dự
trù dành 4 ngày ra Bắc thăm quê cũ, và 2 ngày đi Ninh Ḥa, nhưng v́ tiêu
xài không chừng mực nên hết tiền đi Ninh Ḥa, đành hẹn Ninh Ḥa lần khác,
không biết đến bao giờ.
“Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lơ lững vườn quanh,
êm suôi về Nam. Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau, bóng tre ru êm mấy
hàng cau, đồng quê mơ màng. Nhưng than ôi…”. (Chung Quân)
Làng
xưa của tôi y chang như như vậy đó, cũng cây đa cao ngất, cũng ḍng sông
lượn lờ quanh những đồng lúa vườn dâu, những mái tranh nghèo, hàng cau,
lũy tre xanh ... Bên đây sông, ngày 4 lần nhà thờ “kính coong” đổ hồi, réo
gọi đàn chiên. Chiều tới, thật xa từ bên kia, tiếng chuông chùa ngân nga
vang vọng lúc đàn trâu mệt mỏi về chuồng, buồn buồn, mà êm êm.
Ai
được trở lại thăm vùng đất xưa mà ḷng không xúc động bùi ngùi, nhất là
đối với tôi, ngày xa quê khi răng cái mọc cái chưa, nay trở lại th́ răng
c̣n răng mất. Vâng, xúc động lắm. Không thể tả được, chỉ biết nói thế. Khi
xe chờ phà qua con sông Đáy trên đất Nam Định, bờ bên kia là đất Ninh B́nh
có quê tôi, tôi mường tượng đủ điều. Qua phà vài cây số, có con sông đào
đang chờ, dẫn tôi về làng. Và đúng thế, con sông vẫn kiên nhẫn chờ tôi hơn
nửa thế kỷ. Đường về quê vẫn như hồi nào trong trí tưởng. Từ trên xe, nh́n
những cánh đồng 2 bên bờ sông nhỏ, dân quê tôi vẫn sống kiếp mặt cắm đất
mông chổng trời, vẫn cái cầy có con trâu đi trước. Tôi hít thở thật mạnh
hơi hướng quê xưa. Qua cánh đồng trống, làng tôi mờ mờ phía trước như thuở
nào, trông im ĺm hiu quạnh. Câu thơ Tiền Chiến của ai đó lướt qua :
Làng tôi đấy hon tiêu điều quạnh quẽ
Trông im ĺm như một nấm mồ ma…
Về
tới làng, loay hoay một hồi, tôi cũng hỏi thăm gặp được một người đàn bà
tên Lài, có họ xa và ít hơn tôi vài tuổi, một người khác là một ông cụ tên
Phiết, đă 84 tuổi nhưng c̣n nhanh nhẹn. Ông Phiết biết hết mọi người họ
hàng nhà tôi. Hai người này đă hướng dẫn tôi đến những nơi tôi muốn tới.
Trong làng, cảnh vật trái ngược hẳn với tưởng tượng, những cái mà tôi nghĩ
vẫn c̣n th́ không c̣n nữa, trong khi những ǵ lẽ ra phải biến mất th́ lại
c̣n nguyên si.
Cây
đa trăm năm bến cũ đă đi đâu mất rồi, hỏi ra, nó bị chặt hết chân tay, bị
banh da xẻ thịt. Chết. Theo lời kể, qua nhiều mùa Đông giá lạnh, rễ bị
chặt, vỏ bị lột dần để làm củi và sưởi ấm, cuối cùng th́ người ta đă hạ
xuống xẻ gỗ. C̣n cái đ́nh làng, có từ thời cụ Nguyễn Công Trứ làm Dinh
Điền Sứ, những tưởng ngàn năm sau vẫn được giữ ǵn, cũng đă bị phá ra lấy
gạch và gỗ quí dùng cho việc công ích ! Trong khi đó, dấu vết chiếc cầu Đá,
bị du kích giật sập từ thời Tây, vẫn bừa bộn nguyên vẹn. Tôi c̣n nhớ, khi
bỏ làng ra đi, một chiếc cầu ván thay thế cầu đá, cây cột cầu bằng đá được
kéo lên bờ, bây giờ vẫn ở vị trí đó, những mảng vụn vỡ ra từ cầu vẫn nằm
chỗ cũ. Đi sâu vào trong, khỏi bờ sông khoảng vài trăm mét, là ngôi nhà
thờ nhỏ trúng đạn Tây, đă được dỡ bỏ hồi nảo hồi nao, nhưng vẫn để lại cái
nền ngổn ngang gạch vữa. Tôi c̣n đang ngẩn ngơ với những h́nh ảnh cũ mới,
chợt có tiếng cụ Phiết, “Gạch vụn có ǵ mà xem, c̣n đi chỗ khác nữa, tối
đến nơi rồi.”.
Ra
khỏi nền gạch vụn chưa bao xa, thấy một “cái miếu”, tôi hỏi miếu thờ ai mà
lớn thế, cụ Phiết bảo, “miếu đâu mà miếu, nhà bà Hải đấy.”. Nhà ǵ mà kỳ
cục vậy, tôi đứng thẳng, mái nhà chỉ ngang cằm, cúi hẳn người xuống mới ló
được cái đầu nh́n vào trong “nhà”. Bên trong, rộng mỗi bề khoảng 2m, đủ kê
một chiếc chơng tre làm giường, c̣n trống một khoảng là nơi chứa đựng gia
tài của chủ nhà, gồm vài cái nồi niêu bên góc trái cửa ra vào, bên phải là
chiếc kệ nhỏ để mấy cái chai lọ, dưới gầm chơng có một cái rương nhỏ bằng
tôn sơn đỏ và mấy cái bị cói. Bên ngoài, sát cạnh cửa, là cái lu sành đựng
nước. Sát hông trái “căn nhà”, một mái hiên lợp rạ kéo từ trên chếch sát
xuống đất, làm nơi nấu nướng, khi bếp có lửa, một cơn gió có thể thiêu rụi
căn nhà.
Bà
Lài chỉ cho tôi thấy bà cụ Hải, đang lê một sô nước nhỏ từ giếng, cách
khoảng mươi mét, để đổ vào cái lu sành trước cửa. Cái sô nhỏ bằng nhựa, cỡ
vài lít, không biết bao lâu nước mới đầy lu, v́ nước trong sô cứ vơi dần
theo từng bước lê của cụ. Thấy tội nghiệp, tôi giúp cụ múc đổ đầy lu nước.
Tay chân bà Hải run lẩy bẩy, mặt mũi nhăn nhúm, lưng c̣ng gần song song
mặt đất, lúc đầu tôi đoán khoảng 90, sau mới biết chỉ có 75 tuổi. Bà sống
cu ky một ḿnh, không con không cháu, mỗi gia đ́nh trong thôn cho bà mỗi
tháng 1 lon gạo, cũng đủ cơm ăn; làng xă cũng quan tâm cho cụ tiền già 60
ngàn một tháng, xây cho căn nhà tuy bé như cái miếu, nhưng cũng đủ ở. Tôi
ṃ túi lấy ra 2 tờ 50 ngàn biếu, bà cụ run rẩy chắp 2 tay vái lia lịa, tôi
vội vàng vái lại rồi rảo bước đi khỏi. Cảm thấy bà Lài là người thật thà
tốt bụng, tôi đưa cho bà Lài 100 đô nhờ hôm sau mua mùng mền áo ấm cho bà
cụ Hải, số tiền c̣n lại th́ mướn người làm cho cụ một cái bếp bằng gạch để
tránh hỏa hoạn. Ngoài ra, tôi đưa thêm 200 đô và nhờ bà Lài nuôi cơm cụ
Hải 1 năm, bà cụ ăn không bao nhiêu, mỗi bữa nhín cho bà một chút, tôi hứa
năm sau nếu có tiền tôi sẽ gởi nữa. Buổi tối cụ Phiết mời ăn cơm, măi quá
nửa đêm mới về tới khách sạn Thúy Anh ở thị trấn Ninh B́nh, anh tài xế vẫn
vui vẻ, không cằn nhằn một tiếng.
Theo
cụ Phiết, bà Hải người ở “măi đẩu măi đâu”, thời Mỹ đánh bom bà sơ tán về
làng này, gặp anh Hải thương binh một chân mắt chột, 2 người lấy nhau, bà
Hải ở lại quê chồng luôn. Khi chưa có vợ, ông Hải ở với bà mẹ, nhà chỉ có
2 mẹ con. Lấy vợ rồi, mẹ con ông Hải tươi tỉnh hẳn lên, bà Hải đảm đang
quán xuyến mọi việc trong nhà. Ở với nhau được mấy năm, một sớm thức dậy,
bà Hải ra ao lấy nước xóc gạo rửa rau, thấy chồng thắt cổ chết lủng lẳng
trên cành Gáo sát bờ ao. Chồng chết, bà Hải vẫn lo cho mẹ chồng thêm cả
chục năm, tới khi bà mẹ chồng chết. Mười mấy năm trước, bà Hải bị ốm thập
tử nhất sinh, phải cầm cố căn nhà mẹ chồng để lại, lấy tiền đi chữa bệnh
trên thành phố. Sau cùng, bà phải bán nhà lấy tiền trả nợ. Tiền bán nhà
được 8 chỉ vàng, trả nợ 2 chỉ, c̣n 6 chỉ gởi người cho bà ở nhờ, được hơn
năm, người cho ở nhờ bán nhà đi Nam, quịt luôn 6 chỉ của bà. Thế là bà mất
trắng, bà phải ở nhờ nay nhà này mai nha khác, măi mấy năm sau mới được
làng xă xây cho căn nhà t́nh nghĩa, rồi sau đó nhiều năm mới được 60 ngàn
tiền già neo đơn. Biết được chuyện đời bà Hải, tôi thấy trong ḷng thật
nhẹ nhàng, thật hạnh phúc, khi phải bấm bụng hy sinh mấy trăm đô-la lo cho
bà, v́ tôi cũng đâu có dư tiền lắm của ǵ cho cam. Chỉ có điều đáng tiếc
cho bà, ông Hải chết đi chẳng để lại cho bà lấy một mụn con mà nương tựa
tuổi già.
Tôi
về lại Mỹ dịp Lễ Tạ Ơn, 2008. Măi tới chiều ngày cuối cùng của tháng 12,
anh tôi mới tới thăm, để nghe kể kỹ về chuyến thăm làng xưa. Hai anh em
vừa lai rai ly rượu đỏ, vừa nhớ lại thơ ấu. Tôi nhắc lại chuyện giúp bà
Hải. Anh tôi vẫn bảo, túi tôi lúc nào cũng rỗng v́ tánh “thương người bốc
đồng”, có khi anh bảo tôi tánh hay tin người dễ bị lừa, nhưng lần này lại
nói, “Chuyện bà Hải, lần tới chú để tôi.”. Tôi cũng kể với anh, ngoài bà
Hải, tôi cũng gặp mấy trường hợp khác, nên không c̣n tiền để đi Ninh Ḥa,
anh nói Ninh Ḥa có ǵ mà đi. Anh tôi học ở Nha Trang, chỉ ở Ninh Ḥa ngày
cuối tuần, không có ǵ với NH là đúng rồi, c̣n tôi th́ khác chứ. Nhắc tới
Ninh Ḥa, chúng tôi lại nhắc đến chị Quỳnh. Anh tôi kể những kỷ niêm của
anh với chị Quỳnh. Chúng tôi đều thương chị. Giá mà lúc ây, chị chịu lấy
anh B́nh, th́ bây giờ hạnh phúc quá; mất chị, tôi mất luôn cả anh B́nh, v́
sau đó vài năm anh B́nh đ̣i lấy một cô gái giang hồ làm vợ, bố mẹ tôi
quyết liệt phản đối, anh B́nh trốn khỏi nhà, đi biệt tăm với người đó từ
dạo ấy.
Hai
anh em nói hoài về chị Quỳnh mà không chán. Cũng như những lần trước, mỗi
khi nói về chị Quỳnh, anh tỏ ra rất ân hận, là đă không có mặt kịp để tiễn
chị Quỳnh tại bến tàu hôm ấy, v́ khi anh tôi tới nơi th́ đă trễ, xuống tàu
rồi.Tôi hỏi, anh có bao giờ nghe chị Quỳnh kể về “anh ấy” không, anh hỏi
anh ấy là ai, tôi bảo là người yêu của Quỳnh, người mà chị đă về lại Bắc
để đi t́m chứ c̣n ai nữa. Anh tôi À một cái, kể sơ sơ. Anh kể lại chút
đỉnh, vô t́nh anh nói tên “người ấy” của chị Quỳnh là Hải, tôi bỗng liên
tưởng đến bà Hải già neo đơn, lại chợt nhớ ông Phiết có nói, ông Hải trước
khi đi kháng chiến làm nghề kéo xe ở Hà Nội. Chả lẽ “người ấy” là “ ông
thương binh chân cụt một mắt”. Chả lẽ chị Quỳnh “đẹp như con gái nhà giầu”
của tôi, lại là bà già neo đơn, lưng c̣ng, mặt nhăn nhúm như người 90, đó
sao ? Người tôi lặng đi, nét mặt tôi chắc thay đổi nhiều, anh tôi hoảng
hốt, “Chú sao vậy, có sao không.”…

Phạm
Văn
Thịnh
(Chandler, AZ, tuần đầu năm 2009).
