
Trâu tại Tiên Du, Ninh Hòa 12/2008 - Ảnh:
Sử Xương Hải
Tôi tuổi chó không phải
tuổi
trâu, nhưng chó và trâu cũng có sự gắn bó với nhau qua câu tục ngữ:
- Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu
Thế nên vào giờ Giao Thừa tôi sẽ thức để mừng bác Trâu lên ngôi Vua trị
vì năm Kỷ Sửu. Tôi có sưu tầm một số tài liệu có liên quan đến bác Trâu
xin đuợc kể ra đây cho vui trong ba ngày Tết:
1. Trong 12 con giáp:
trâu đựợc xếp thứ nhì và được nói đến nhiều nhất. Từ thời đi học ai chẳng
thích nghe bài Em Bé Quê của Phạm Duy với những câu: "Ai bảo chăn trâu
là khổ. Không, chăn trâu sướng lắm chứ. Ngồi mình trâu..." Ai chẳng
hăm hở
đi xem lễ hội mùa Xuân trong đó có chọi trâu.
Xem tranh trâu khoái nhất là chú bé chăn
trâu ngồi vắt vẻo trên mình trâu thổi sáo, hai chân tréo ngoảy trông thật
dễ thương. Và nghe những câu ca dao tục ngữ vẫn thường được nhắc đến thật
là sâu sắc ý nhị:
-
Trâu cột ghét trâu ăn,
-
Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết
- Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây
-Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc
- Vợ bé nghé con
-
Ruộng sâu trâu nái
- Sai con toán bán con trâu
-
Trâu kén cỏ trâu gầy,
trò kén thầy trò dốt.
-
Trăm năm còn có gì đâu
Miếng trầu liền với con trâu một vần
- Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già
Chứng tỏ hình ảnh con trâu đã in thật
đậm trong đời sống, văn hóa, ngôn ngữ và tôn
giáo của dân tộc VN.
2. Theo các nhà khoa học:
Trâu sống thành bầy: có thủ lĩnh cầm bầy, thích hợp với đầm lầy ấm
áp ở Đông Nam Á và Nam Á, nhiều nhất là ở các nước
Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Thái Lan, Việt Nam, Phi Luật
Tân, v. v… Trâu sống hoang dã còn xuất hiện ở phía bắc Australia. Trâu có
2 loại: đen và trắng. Trâu trắng còn gọi là
trâu cò.
Nhưng người VN thích nuôi trâu đen hơn. Trâu được chia làm 3 giống:
- Giống trâu hoang dã châu Á chỉ còn một số rất ít.
- Giống trâu song sống nhiều ở vùng Nam Á.
- Giống trâu đầm lầy (swamp buffalo) được nuôi nhiều ở vùng Đông Nam Á.
Ở Ấn Độ có trâu Murrah sừng xoắn cho nhiều sữa nhất.
3. Hữu
ích:
Trâu dùng để cày, kéo xe trâu, kéo súc, dở
ruộng, đạp lúa, đạp che làm đường mía… Phân hoai
bón ruộng, phân tươi dùng trét phên, trét cối xay lúa, trét ghe làm nước
lót trước khi trét dầu rái.
Các món ăn:
thịt trâu luộc với nước cơm mẻ, phở trâu nghé, thịt trâu nghé nướng lá lốt,
thịt trâu xào rau cần. Da trâu dùng để bịt trống. Sừng trâu dùng để
chế đồ trang sức như lược, gọng kính… Sữa trâu dùng để chế biến thành bơ,
pho-mát, có nhiều chất béo hơn sữa bò, nhưng thịt trâu lại ít mỡ hơn thịt
bò.
4. Theo các nhà khảo cổ:
Cách nay 6.000 năm, nghề trồng lúa ra đời, và
con trâu cũng được thuần dưỡng mà bộ xương đã được tìm thấy trong các di
chỉ đá mới và đồng thau ở Tràng Kênh (Hải Phòng), Tiên Hội (Hà Nội), Đồng
Đậu (Phú Thọ).
Vật trang sức hình đầu trâu bằng đá mài đã tìm thấy ở di chỉ
Đình Chàng, Hà Nội, có tuổi trên dưới 3.000 năm.
Tượng trâu nghệ thuật bằng đất nung đã được tìm thấy trong các
di chỉ Tiên Hội, Đồng Đậu (Hà Nội) hơn 3.000 năm trước.
500 năm trước Tây Lịch, hàng trăm lưỡi cày đồng thuộc nền Văn
hóa Đông Sơn đã được tìm thấy ở Cổ Loa.
5. Trâu qua lịch sử VN: Trong 15 bộ lạc hợp thành nước Văn Lang
có một bộ lạc mang tên Trâu.
Sách Giao Châu Ký (thế kỷ 3) ghi lại hình ảnh trẻ mục đồng VN thổi sáo
trên lưng trâu.
Đinh Bộ Lĩnh và bầy trẻ mục đồng ở Hoa Lư cỡi trâu rước cờ lau tập trận.
Lê Đại Hành lùa trâu đứng trên bờ sông Hoàng Long để đón chào sứ thần
nhà Tống.
Những đoàn xe trâu của chúa Trịnh đi từ Quảng Bình tới Quảng Nam đã
được Lê Quý Đôn (thế kỷ 18) tả trong sách Kiến Văn Tiểu Lục.
Hồ Tây, một thắng cảnh của Hà Nội, trước khi mang tên Hồ Sương Mù thời
Lý, Tây Hồ thời Lê, đã từng mang tên Hồ Trâu, Hồ Trâu vàng. Hồ Trâu và
dòng Kim Ngưu - một nhánh sông Tô Lịch chảy vòng quanh phía nam Hà Nội -
có liên hệ đến một huyền tích thần kỳ còn ghi trong sách Lĩnh Nam Chích
Quái.
Kể từ
thời đại vua Hùng dựng nước,
hình ảnh lễ hội đâm trâu
của người Việt cổ còn được khắc chạm trên trống đồng.
Seagame (Đại hội Thể thao Đông Nam Á) 2003 tổ chức tại Việt Nam
lấy con trâu vàng làm biểu tượng.
Ở Hà Nội có con đường tên Kim Ngưu.
“Con Trâu là đầu cơ nghiệp" của nền văn minh trồng lúa nước VN
đã được thu gọn qua hình ảnh:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa!
6. Trâu qua tập tục, tôn giáo: Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, Hải
Phòng lưu truyền 4 câu ca dao:
Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm bề
Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu
Chọi trâu không chỉ đơn thuần hai con trâu chọi nhau mà đã trở thành
tục lệ, tín ngưỡng ở vùng biển Đồ Sơn.
Tục cúng
vía trâu của người Thái Mường Lò, Văn Chấn, Yên Bái ngày 14-7 âm lịch hàng
năm, lễ vật gồm gà, xôi, rượu, trầu cau và một bó cỏ non.
Taị Ninh
Hòa, Khánh Hòa có lễ cúng Tết Trâu vào Tết Nguyên Đán.
Lễ chém
trâu tế thần linh của người Chàm tại đền Pô Rum Păn vào tháng 4 Chăm lịch
ở Lạc Tánh.
Lễ tế một
con trâu trắng tại núi Đá Trắng của người Chàm Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Lễ đâm trâu của người M’nông ở Đắk Nông, Tây Nguyên diễn ra vào những ngày
nông nhàn thường rơi vào tháng 3 hoặc đầu tháng 4 âm lịch
Lễ hội đâm trâu của người Cor ở Trà Bồng, Quảng Ngãi
7. Trâu
qua văn học nghệ thuật:
Con trâu có một vị trí to lớn gần gũi trong đời sống tinh thần của người
VN, là nguồn cảm hứng vô tận của văn học nghệ thuật.
Trên lưng trâu có trò chơi tao nhã của mục đồng như đọc sách, thổi sáo,
thả diều.
“Thập mục
ngưu đồ" là mười bức tranh trâu nổi tiếng của Thiền tông.
Con Trâu hiện diện trong tranh dân gian và điêu khắc gỗ đình làng VN vào
thế kỷ 17, 18.
Tranh Tết dân gian vẽ trâu phản ảnh đời sống tinh thần của người VN rất ý
nhị, hiện thực và nhân bản được trân trọng trong ba ngày Tết.
Bức tranh tứ bình “Ngư Tiều Canh Mục” đặc sắc với hình trẻ mục đồng ngồi
trên lưng trâu thổi sáo.
Trâu còn được chạm khắc trên bề mặt của trống đồng Vĩnh Hùng.
Trong bài ca dao:
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu……
con trâu được dùng làm thước đo về sự giàu sang trong xã hội.
Trong
một xã hội đầy bon chen giành giật, kẻ chậm chạp, thật thà thường thua
thiệt:
- Trâu chậm uống nước dơ
Trâu ngơ ăn cỏ héo
-Trâu chậm uống nước đục
Kịch liệt chống lại những cái võ hình thức phù phiếm, đạo đức giả:
-
Trâu,
dê lúc chết tế ruồi
Sao bằng lúc sống ngọt bùi là hơn
Có một lời răn dạy tự ngàn xưa nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị:
-
Trâu chết để da, người ta chết để tiếng
Một quan niệm mới mẻ, nhân bản đã đặt con người cao hơn của cải vật chất:
- Ruộng sâu, trâu nái không bằng con gái đầu lòng
Cảnh thế thái nhân tình thời nào cũng vậy:
-
Trâu buộc thì ghét trâu ăn
Quan võ thì ghét quan văn dài quần
Sẽ còn tiếp tục tranh cải dài dài về
hai quan niệm sống sau đây:
- Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm
-
Nước giữa dòng chê
trong chê đục
Vũng
trâu nằm
hì hục khen ngon
Sáu câu ca dao sau đây thuộc
hàng tuyệt bút là lời thiết tha đầy tình sâu
nghĩa nặng của bác nông dân gởi đến người bạn đồng hành cơ cực của mình:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Còn biết bao nụ cười dí dõm trào phúng qua những câu:
- Của chua ai thấy
cũng thèm
Em cho chị mượn
chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm
- Đêm qua kẻ trộm vào nhà
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu
Nằm đây chớ có ngủ đâu
Vậy mà vẫn
mất cả trâu lẫn bò
- Chăn trâu chả biết mặt trâu
Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm
Trong
tình yêu đôi lứa,
những câu ca dao sau đây thật tình tứ
lãng mạn:
Số giàu lấy khổ cũng giàu
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo
Phải duyên phải kiếp thì theo
Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi
Em ơi chữ vị là vì
Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo
Yêu nhau tam ứ núi cũng trèo
Thất bát song cũng lội, cửu thập đèo cũng qua
Con trâu cũng là nguồn sáng tạo của bao thế hệ cầm bút trong văn
chương bác học:
Thơ Nguyễn Khuyến:
Trâu già gốc bụi phì hơi nắng
Thơ
Bà Huyện Thanh Quan:
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
Nhà văn Trần Tiêu có cuốn tiểu thuyết mang tên Con Trâu.
Vân vân…
8. Kết luận:
Tóm lại, chẳng có con vật nào được người VN đặt hết tinh thần, tình cảm,
tâm linh và sống đầy yêu thương, gần gũi thân thiết như con trâu. Để kết
luận, tôi xin trích dẫn một bài ca dao dưới đây mà tôi cho là một trong
những bài ca dao hay nhất mô tả hai hình ảnh điển hình trong xã hội nông
nghiệp trồng lúa nước VN qua bốn nghìn năm lịch sử, là bức tranh quê vừa
sống động vừa đậm đà nhân bản, cũng là tiếng nói sâu thẳm trong tâm hồn
kêu gọi con người hãy mở rộng trái tim yêu thương, hãy nhớ nguồn cội và
không vong ân bội nghĩa:
Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày
Ai ơi! bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Vinh
Hồ
Sưu tầm
9/1/2009

Trang XUÂN 2009- Văn Học Nghệ Thuật
Và Quê Hương