www.ninh-hoa.com Lăng Bà Vú
Địa Lư & Lịch Sử  -  Thùy Trang  Huyền Thoại - Nguyễn Hiền

 

LĂNG BÀ VÚ – DI TÍCH LỊCH SỬ
Huyện Ninh Ḥa - Tỉnh Khánh Ḥa
Vơ Sự

 

 


T
rải qua bao thăng trầm của lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam, năm 1999, lăng Bà Vú được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng “Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia”.

Đến năm 2004, Trung tâm Quản lư Di tích Danh lam Thắng cảnh Khánh Ḥa công nhận Lăng Bà Vú là một trong những di tích lịch sử của tỉnh Khánh Ḥa và cho phép huyện Ninh Ḥa trùng tu lại di tích này.
 

Lăng Bà Vú nằm trong địa phận có địa danh là Xóm Rượu – Thôn 3 - Thị trấn Ninh Ḥa (trước có tên là thôn Mỹ Hiệp – xă Ninh Hiệp); cách chợ Ninh Ḥa (chợ Dinh) chừng 1 cây số. Xưa kia, Lăng Bà Vú nằm trên một g̣ đất rộng cả mẫu, có tên là "G̣ Lăng”, nơi đây có chôn cất nhiều mồ mả cha ông dân làng. Phía Bắc và Đông Bắc là một khu rừng, phía Đông là khu vườn cây ăn quả, có lũy tre bao bọc, phía Nam là cánh đồng ruộng, có rải rác nhà dân cư, phía Tây là khu dân cư. Đến năm 1959, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cho mở con đường đất từ đường Vơ Tánh (đường luồn Cây Thị) xuyên qua Xóm Rượu kéo dài ngang qua G̣ Lăng ṿng ra đường Bắc giáp ranh với đường Nguyễn Trường Tộ. Sau đó vài năm, chính quyền đă cho dân bốc mộ dời đi nơi khác, đất đai phân lô cấp cho dân xây nhà ở, hoàn thành khu dân cư G̣ Lăng (Xóm Rượu – thôn Mỹ Hiệp).

  Theo lịch sử, năm 1777, khi nhà Tây Sơn hùng mạnh, vua Quang Trung khôi phục miền Nam, bắt giết chúa Nguyễn; Nguyễn Ánh được thoát thân.

  Theo truyền thuyết, trên đường chạy trốn khỏi quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh cùng một số tùy tùng đă t́m đến trú ẩn tại nhà Bà Vú ở Ninh Ḥa, được hầu đăi cơm nước và lo nơi trú ẩn an toàn.

  Theo lịch sử, sau cái chết đột ngột của vua Quang Trung (năm 1792), chúa Nguyễn Ánh phục hồi đạo binh, đánh chiếm Gia Định, Qui Nhơn, Phú Xuân rồi tiến thẳng vào Thăng Long (giữa năm 1802) chấm dứt triều đ́nh Tây Sơn.

  Theo truyền thuyết, sau khi lên ngôi Hoàng Đế, để tưởng nhớ đến công ơn của người Vú năm xưa, vua Gia Long cử người t́m về Ninh Ḥa để đền đáp nghĩa ân, đến nơi được biết bà Vú đă mất. Nhà vua bèn giao chiếu chỉ cho xây dựng Lăng bà Vú vào cuối năm 1802 và hoàn tất năm 1804. Nghệ thuật kiến trúc, trang trí Lăng thuộc ḍng nghệ thuật triều Nguyễn. Các mô túp trang trí rất phong phú về đề tài, chặt chẽ và hài ḥa bố cục, triết lư sâu sắc về h́nh tượng, tác động lớn về Đạo học của thời hưng thịnh Nho giáo, Lăo giáo, tinh xảo trong kỹ thuật thể hiện – cũng là một công tŕnh văn hóa có giá trị nghệ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Lăng được xây trên một g̣ đất rộng bao quanh, có cây cối xum xuê, bốn mùa hoa nở, chim chóc hoan ca; có khí thế như một vùng đất linh thiêng. Lăng được xây 3 lớp thành với chất liệu là gạch, vôi, cát; thành ngoài là khuôn viên bao bọc Lăng, bề ngang khoảng 14 m, dài 20m, cao 1,5m, có cửa ra vào rộng khoảng 3,5m, trên mặt tường thành có tạc tượng 2 con sư tử lớn, trông vạm vỡ và oai phong, con đực bên trái, con cái bên phải (nh́n từ trong ra). Phía trong cửa thành chừng 1m là bức án phong chắn ngang, cùng được xây bằng gạch, vôi, cát, …Bề cao độ 1,8m, bề ngang 2m, bề dày 0,15m.

Qua khỏi án phong là lớp thành thứ hai, cao độ 1m. Trên 2 đầu thành được tạc tượng 2 con Kỳ Lân, trông cũng oai phong lẫm liệt, lại đượm vẻ linh thiêng, lại con đực bên trái, con cái bên phải (nh́n từ trong ra). Kế đến là 2 lớp thành thứ 3, thấp hơn hai lớp thành trước, trên 2 đầu thành (trái, phải) được tạc tượng 2 con chít ? (Dân gian vùng này thường gọi là con chít) trong tư thế nằm, đầu đuôi nằm dọc từ trước ra sau. Bên trong lớp thành thứ 3 là ngôi mộ của Bà Vú, kích thước: 3m x 1,8m, có tấm bia đá khắc chữ Hán, ghi sự tích của công đức của Bà.

Trong cùng và ngay trên bức thành hậu là một án phong lớn, cao và rộng (sau ngôi mộ) có thành nội h́nh ṿng cung (một ṿm giữa cao, hai bên là hai ṿm thấp hơn) rộng độ 9m, cao 1,2m. Nơi ṿm cung giữa, trên có chạm nổi h́nh Mặt Trăng cùng các áng mây đối diện với hướng Mặt Trời mọc (hướng Đông), có ư nghĩa tượng trưng “Nhật Nguyệt”?, âm dương? hay quy luật của sự vận hành vũ trụ ? phía dưới các ṿm cung, có khắc nhiều ḍng chữ Hán, bao quanh là các hoa văn khá sắc sảo. Ngoài ra, các mặt trong của 3 lớp thành đều có khắc hoa văn, chạm trỗ, trang trí nhiều h́nh tượng, mang triết lư săn sắc về Đạo học (Nho và lăo Giáo).

Trước mặt của Lăng, hướng về phía mặt trời mọc (hướng Đông) là một sân rộng h́nh chữ nhật khoảng độ 250m2, chiều sâu độ 4m, ngoài cùng là hồ sen h́nh vuông rộng khoảng 250m2, chiều sâu độ 4m.


Lăng Bà Vú - Cũ


Lăng Bà Vú - Mới

Tục truyền rằng, xưa kia cứ vào những đêm trăng sáng, từ trong khu rừng cạnh Lăng (hướng Bắc) có cặp thỏ bạch thường ra trước sân Lăng giỡn trăng.

Cách Lăng chừng 300m về phía Đông Nam, ở cuối cánh đồng Lăng, có cụ “Bốn Tạo” vừa là một nhà Nho, vừa có năng khiếu về vẽ, viết, chạm trỗ rất nét các án phong cổ xưa hoặc các hoa văn … tại các Đ́nh làng, các Miếu thờ phụng Tiền Hiền … tuy cụ đă mất cách đây vài chục năm (năm 1970) nhưng những chuyện kể của cụ vẫn vang vọng đâu đây, nơi Lăng Bà Vú này. Cụ kể rằng, xưa kia khu vực Lăng rất vắng vẻ, sầm uất nên thường đêm các bóng của các con Sư Tử và Kỳ Lân ra hồ sen tắm quậy, đùa giỡn. Có đêm th́ ra các vườn cây ăn trái của dân làng nào bưởi, chuối, cau, …quậy phá rồi mang về trước sân Lăng vừa ăn vừa bỡn cợt. Cụ c̣n kể rằng, tuy tên tuổi Bà Vú không có sách vở nào ghi nhưng dân gian truyền lại từ nhiều đời, được biết Bà Vú không có con, tên là Trương Thị Tiềm, bà là người giàu có nhất trong vùng thời bấy giờ. Trong dân gian không ai nhớ Bà mất năm nào, chỉ biết ngày giỗ của Bà là ngày 16 tháng chạp. Cũng có nhiều người dân địa phương cho rằng chính Bà về báo mộng tự xưng tên bà là Trương Thị Tiềm - kể cả chuyện "Đóm lửa ngũ sắc" xuất hiện trước ngày giỗ Bà. Hàng năm đến ngày 16 tháng chạp, dân địa phương đều cử người cao tuổi trong làng, thay mặt dân làng, dâng mâm cơm đạm bạc cúng và tưởng niệm Bà, cần xin bà phù hộ cho quốc thái dân an.

Một nông dân trong vùng, nay đă 78 tuổi (vừa mất) là ông Nguyễn Thuận làm ruộng cạnh khu vực Lăng, c̣n kể rằng trong Lăng có cặp rắn Bà sống từ trên 100 năm, nhiều lần chính mắt ông nh́n thấy cặp rắn Bà ḅ qua đám xướng mạ của ông, bên phải của Lăng, rắn dài trên 3m, to bằng đầu người, một con có mồng màu xanh, con kia có mồng đỏ tía. Rắn thường đi ban đêm, ḅ trên những đám ruộng ngoài đồng.

Vào những năm từ 1986 – 1989 phong trào đào đăi vàng bùng rộ ở Đá Bàn (Ḷng Hồ - Ninh Sơn); rồi Xuân Sơn (Vạn Ninh), dân thất nghiệp đổ xô đi đào vàng. Tại Lăng cũng có một số người địa phương đến đào trộm ở chung quanh Lăng, khua động đến ngôi mộ Bà Vú, đập phá, làm vỡ các mảng tượng Lân và Sư Tử, mất vẻ nguyên vẹn của kiến trúc. Anh Nguyễn Ṭi (con ông Nguyễn Thuận) nhà ở cạnh Lăng cho biết, do sự đào xới t́m vàng mà phạm đến sự yên tịnh của cặp rắn. Do đó anh Ṭi đă chứng kiến cặp rắn xuất hiện lần cuối vào năm 1986, cặp rắn ḅ từ trong đám ruộng vừa mới gieo của anh rồi mất hút trong đêm. Đến nay, không ai c̣n thấy rắn xuất hiện nữa.

Sau bao năm bị lăng quên, nay Lăng Bà Vú được nhắc đến với danh hiệu “Di tích Lịch sử” của Tỉnh, đă được trùng tu mới mẻ, sạch đẹp sang trọng. Con đường vào Lăng thẳng tắp được bê tông hóa như tấm thảm trải dài để đón khách du lịch vào thăm Lăng như một biểu tượng, một tương lai tươi sáng, một nét son tô đẹp cho nền lịch sử văn hóa nước nhà, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

 

Vơ  S
30/8/2005



trở về Ninh-Hoa Dot Com
1