|
|
NGUỒN
GỐc
VĂn
TỰ
ViỆt
Nam
N guyễn
Văn
Thành
Từ
thời Thượng Cổ, chúng ta chưa có văn tự. Sau gần 1000 năm lệ thuộc vào
nước Tàu, ảnh hưởng của chữ Hán vào nước ta càng ngày càng quan trọng
trong việc cai trị, thông tin và văn chương.
C ác nhà trí
thức của ta lúc đó mới đầu mượn chữ Hán tức là chữ xuất phát từ đời nhà
Hán để ghi lại những sự kiện trong nước ta, sau đó dùng trong văn chương
thơ phú. Trước thời nhà Hán cũng có văn tự nhưng chưa được hệ thống hóa và
chỉ từ đời nhà Hán, chữ Hán mới thành một văn tự với những quy luật rơ
ràng.
C hữ
Hán này không phải độc quyền của nước Tàu mà chính cả Nhật Bổn, Đại Hàn
cũng xử dụng rồi phát triển thêm nhu cầu của họ. Gốc gác của chữ Hán mới
đầu chỉ có khuynh hướng mô tả một sự kiện thí dụ như vẽ giống như trái "núi"
gọi là chữ “sơn”
, vẽ giống như “mặt trăng” gọi là "nguyệt" , vẽ giống cái "miệng"
ta gọi là chữ "khẩu"
, số một th́ một gạch, số hai th́ hai gạch ,…hội ư thí
dụ một bên chữ nữ
một bên chữ tử
gọi là chữ hảo
nghĩa là mẹ tṛn con vuông
tức là mẹ sinh con yên lành là một việc tốt, hay là dưới chữ tử (con) trên
chữ phụ (cha) nghĩa là con cơng cha lúc cha già đau yếu là chữ hiếu , cái
cây vẽ có lá có thân có gốc gọi là chữ "mộc"
, rồi th́ suy ra trong rừng có
nhiều cây th́ vẽ hai cây gần gần nhau, th́ gọi là chữ
"lâm"
.
V ậy chữ Hán
gốc là tượng h́nh, hài thanh và chuyển ư. Xem như vậy chữ Hán không phải
độc quyền của Trung Quốc, v́ chính bản thân Trung Quốc đă từng bị nước
ngoài xâm chiếm như quân Mông Cổ lập nên nhà Nguyên, quân Măn Châu lập nên
nhà Thanh nhưng tất cả các sắc dân này khi nắm chính quyền cũng đều dùng
Hán tự để phổ biến chính sách xây dựng triều đ́nh, phát triển văn chương
và thi phú.
T uy nhiên,
v́ các nhà trí thức của ta lúc đó mà ta thường gọi là Nho sĩ đă có sáng
kiến mượn chữ nhưng không dùng ngôn ngữ của người Trung Hoa mà đọc theo
tiếng Việt tức là mượn văn tự nhưng không mượn ngôn ngữ tránh cho ta bị
đồng hóa với người Trung Hoa. Đó là công của các nhà trí thức của chúng ta
thời đó. Những việc làm của các nhà Nho đó chẳng những chỉ dừng lại là
dùng nguyên chữ Hán mà lại c̣n phát triển và bổ túc để có thể tŕnh bày
các tư tưởng, văn hóa gốc của người Việt của chúng ta trở thành chữ Nôm,
và sau cùng tiếng Việt ta được Latin (La-tinh) hóa tức là mượn các gốc La-tinh
vần mẫu tự (Alphabet) để trở thành chữ Quốc Ngữ. Như vậy, ta có thể chuyển
nền văn hóa chữ Nôm sang chữ Quốc Ngữ ngày nay và mở đường cho văn học
hiện đại. Ngày nay, khi chúng ta đọc truyện Kiều bằng chữ Quốc Ngữ th́
nhiều người tường chừng như cụ Nguyễn Du đă viết truyện Kiều bằng chữ Quốc
Ngữ chứ không bằng chữ Nôm.
V iệc mượn
tiếng La-tinh để thành tiếng Quốc Ngữ không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà
nay v́ nhu cầu toàn cầu hóa, nhất là để cho các du khách khi sang du lịch
có thể nhớ và đọc được các tên đường phố … th́ tại Nhật Bổn và Trung Quốc
cũng bắt đầu dùng tiếng La-tinh.
N hư vậy, ta
cũng nhắc lại rằng một số các giáo sĩ người Âu Châu v́ nhu cầu giảng đạo
thiên chúa cho dân nước ta đă dùng ngôn ngữ học quốc tế để biến tiếng nói
của nước ta thành chữ Quốc Ngữ.
X em như vậy,
mặc dầu mục đích đầu tiên của các giáo sĩ Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ư
và Việt Nam chế tạo chữ Quốc Ngữ để phục vụ tôn giáo nhưng về lâu về dài,
công tŕnh này do những vị giáo sĩ cực kỳ tài giỏi về ngôn ngữ học đă thực
sự phục vụ cho nền văn chương chữ Quốc Ngữ bây giờ vậy.
N ước ta có
câu: "Uống nước nhớ lấy nguồn" vậy chúng ta
cũng nên ghi công của các vị giáo sĩ này trong việc phát minh ra chữ Quốc
Ngữ tồn tại đến ngày nay:
"Chữ Quốc Ngữ, chữ nước ta"
"Tiếng ta c̣n, nước ta c̣n" !

Nguyễn Văn Thành
Cuối tháng 12/2004
|