trang nhà www.ninh-hoa.com   |  thơ & truyện Nguyễn văn Thành


Nguyễn Văn Thành

cựu học sinh Trung học Trần Bình Trọng, niên khóa 1960-1964. Hiện cư ngụ tại Minnesota.
 


Truyện / Biên  Khảo
 

Ấy
Ngõ
Ninh Hòa, Mùa Mưa
Giây Phút Mất Mẹ
Về Ninh Hòa Ăn Tết
Hé, Hẻ, Hè, Hửng

Xóm Rượu - Quê Tôi

 Phần (1)   Phần (2)


Mức Thu Nhập Của
    Một Người Mỹ Gốc
    Việt Tại Hoa Kỳ
  

Gánh Nặng Quằn Vai
                           

 

Phương Ngữ
     Ninh Hòa


 Phần (1)     Phần (2)

 Phần (3)     Phần (4)

 Phần (5)     Phần (6)

 Phần (7)
    Phần (8)

 Phần (9)     Phần (10)

 Phần (11)   Phần (12)

 Phần (13)   Phần (14)

 Phần (15)   Phần (16)


 Phần (17)   Phần (18)

 Phần (19)   Phần (20)

 Phần (21) 
 Phần (22)

 Phần (23)   Phần (24)

 Phần (25)   Phần (26)
                   Kết Luận
                          
                          
Nguồn Gốc Văn Tự
        Việt Nam
  
                       
Tìm Hiểu Các
    Dòng Họ Chính
    Của Việt Nam

 Phần (1)   Phần (2)

 Phần (3)   Phần (4)

 Phần (5)   Phần (6)

 Phần (7)   Phần (8)

 Phần (9) 

 

 


 

 

                             

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ

Bẽ Bàng
Bỡ ngỡ
Đêm
Tôi Giã Biệt Ninh Hòa
Nhớ Em
Ninh Hòa
Xóm Rượu Có Nhớ Chăng?
Tuổi 16
Tạm Biệt Xóm Rượu



 

  

  
 Xóm  RưỢu -  Quê Tôi
Nguyễn Văn Thành

  

Phần 1:


Đôi lời phi lộ:

Trong lòng người ở hải ngoại, mỗi chúng ta không ai không nhớ về xóm làng yêu dấu. Bởi nơi chốn ấy có mồ mả của ông bà tổ tiên ta mà họ lúc sinh tiền, đã đổ mồ hôi nước mắt gây dựng mái gia đình và xóm làng. Bởi nơi chốn ấy còn có bằng hữu, thân nhân, bà con ruột thịt sinh sống mà sự liên hệ gắn bó tình cảm giữa người xa quê và người ở lại càng mật thiết hơn theo truyền thống bất hủ của người Việt được biểu hiện qua những câu ca dao sau:
                  Cây có cội, nước có nguồn
hay
                
  Con người có tổ có tông
            Như cây có cội, như sông có nguồn

Thời gian tôi sống ở hải ngoại dài hơn thời gian tôi sống tại Việt Nam, và dài gấp bội thời gian tôi đủ trí khôn để hiểu và nhớ những kỷ niệm ở Ninh Hòa. Nói như vậy có nghĩa là trong khoảng 13 năm tuổi thơ tại Ninh Hòa, chỉ có 5 năm sau cùng tôi thực sự hiểu biết về Ninh Hòa. Do đó, những sự kiện được viết ra đây hoàn toàn dựa vào trí nhớ của tôi trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1964. Sau năm 1964, tôi không thường xuyên về Ninh Hòa nữa vì bận việc đi xa, và đến khi muốn trở về xóm làng cũ thì tôi gặp trở ngại.

Viết một bài về xóm làng thì quả là một chuyện khó làm. Hơn nữa tôi ở trong hoàn cảnh rất hiếm tài liệu và xa người lớn tuổi ở Ninh Hòa để tham khảo, còn trí nhớ lắm lúc cũng không được hoàn hảo nên không sao tránh được những thiếu sót, phiền toái và nhiêu khê. Loạt bài này cốt ghi lại những sự kiện trong thời gian trên để giúp thế hệ sau muốn tỉm hiểu về xóm Rượu, mà không nhằm phê phán hoặc chỉ trích cá nhân cũng như lòng tin và nghề nghiệp của bất cứ ai. Cuối cùng, tác giả mong sự góp ý xây dựng của các bậc trưởng thượng để loạt bài viết này được mỹ mãn hơn.

  

Dẫn Nhập:

Xóm Rượu quê tôi nằm trong quận (huyện, phủ) Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tôi có biết bao kỷ niệm ở xóm Rượu vì nơi đây tôi đã sinh ra và trải qua quãng thời gian thơ ấu. Vào cuối thập niên 1950, tại Trung tâm quận Ninh Hòa có xã Ninh Hiệp được chia thành 2 làng: Mỹ Hiệp và Vĩnh Phú ngăn cách bởi sông Dinh. Nhờ cầu Dinh (trước kia là Quốc lộ 1) nối giữa hai đầu cầu nên việc thông thương qua lại của hai làng được dễ dàng.

Làng Mỹ Hiệp gồm có 3 thôn: Mỹ Hiệp 1, Mỹ Hiệp 2 và Mỹ Hiệp 3.

Căn cứ theo tấm hình làm sổ gia đình bên dưới do bác Tỷ (người trong xóm thường gọi bác là bác Tỷ đen, tên thật là Phan Tiên Đạt người Hải Nam) là thợ chuyên môn chụp hình gia đình, chụp năm 1962 thì gia đình tôi thuộc Ấp Đông, Đại biểu U, Liên gia 1 và Gia đình 7 của làng Mỹ Hiệp, xã Ninh Hiệp, quận Ninh Hòa.

Thôn Mỹ Hiệp 3 nay đổi thành thôn 3.

Phía Bắc (phạm vi giữa đường Nguyễn Trường Tộ và sông Dinh) có:

Ấp Bắc hay còn gọi là ấp Ngoài, có xây miếu thờ Thiên Y Thánh Mẫu ANA,

Chùa Trường Thọ được xây giữa bãi cát bên dòng sông Dinh nên dân xóm Rượu quen gọi là chùa Cát.

Nhà thờ Mỹ Phước được Pháp xây dựng năm 1914 trên một gò đất mọc toàn là cây muồng nên còn được gọi là "nhà thờ Gò Muồng" và

"Ruộng Xoi" sát sông Dinh của dòng họ Trần về sau chia lại một nửa cho họ Lý lập hãng nước đá và lò gạch.

Dân sinh sống bằng nghề buôn bán tạp hóa, đan giỏ tre, đổ bánh ướt, bánh căn, bánh bèo, làm nem nướng...

Phía Đông (bao hình giữa đường Nguyễn Trường Tộ và con mương, trước 1975 là chi nhánh của sông Dinh chảy qua xóm Lò Heo Cầu Gỗ và cầu Trạm hay cầu Đồn) giáp gò Lăng có:

Ấp Đông Thành (người trong xóm gọi tắt là ấp Đông) thờ bà Hậu Thổ. Dân sống bằng nghề nấu rượu, đan vỉ bánh tráng, bánh xèo, bánh ú, bánh ít, bánh canh, tóm lưỡi câu, trồng rau, thợ mộc, thợ hồ, làm bún.. và tráng bánh.

Vì dân trong xóm làm rượu nên được gọi là xóm Rượu. Tại xóm Rượu còn đồn bót của Pháp mọc lên bên cạnh đường chánh có tên là Nguyễn Trường Tộ được phóng ảnh trên bản đồ quân sự của Pháp để họ dễ chuyển quân đi chống đỡ các hướng và dễ tiếp tế khi cần. Cạnh đồn Tây (lô-cốt) có một ngôi trường Tiểu học Tư thục Đức Trí do Thầy Nguyễn Tố làm Hiệu trưởng, sau đó vì bận công tác nên Thầy Tố nhường lại cho Thầy Ngô Văn Cử. Năm 1959, trường được dời về dốc Quán trước nhà bà Âu và nhà ông Quốc.

Gò Lăng chỉ cách nhà tôi chừng vài trăm thước. Hồi ấy, có hai người lớn tuổi nhất trong xóm kể cho tôi nghe rằng bà Nguyễn Thị Tiềm, một phú hộ người Việt gốc Hoa, do có công nuôi quân của chúa Nguyễn Ánh nên sau khi lên ngôi, chúa Nguyễn Ánh xưng hiệu là Vua Gia Long nhớ ơn bà bèn sai tuần phủ sắc phong và cho xây lăng mộ (nay gọi là lăng bà Vú) vào khoảng năm 1803.

Phía Nam (phạm vi bên kia con mương giáp xóm Mới) có:

Nhiều đồng ruộng nằm bên trong nên gọi là "đồng trong",

Hai cái bàu lớn: bàu ông Sở và bàu ông Ngao. Cả hai bàu đều có nước trong và sâu, nhiều hoa súng và hoa sen, nhiều cá trầu, cá trê, cá rô, cá sặc, cá lòng tong, cá trèn, lươn. Ngoài ra, xóm Rượu còn một cái bàu cạnh nhà ông Thúi là bàu Sú có nước đục và nhiều lục bình.

Đất dưới bàu đặc biệt là màu xám đậm giống xi-măng và dẻo như đất sét hấp dẫn nhiều tay thủ công nghệ nắn ly tách, hoặc đám trẻ đến bàu thọc tay sâu dưới nước lấy đất từ thành bờ rồi vò tròn thành viên bi, phơi nắng làm đạn để bắn chim.

Nhiều cây ăn trái như xoài thanh ca, xoài cà lăm, xoài tượng, mận, đào, đào tiên, me,.v.v... Chỉ nhà bà bảy Ngọ không thôi, lúc bấy giờ có ít nhất 20 cây xoài và cam mọc đầy hai bên con mương.

Nhiều bụi tre, dừa và cau cao. Đặc biệt nhiều cây trảy rất thích hợp cho đám trẻ muốn làm ống thụt.

Riêng cái gò của nhà ông Ngoại tôi, cách nhà tôi chừng vài chục thước có một vườn trái thơm không biết bao nhiêu bụi thơm mà kể.

Phía Tây (giữa đường Nguyễn Trường Tộ và con mương) giáp Đàng Luồn Cây Thị (đường Võ Tánh) có:

Cái miếu nhỏ gọi là miếu "Thổ Kỳ" thờ Thần Đất nằm trong miếng đất của nhà người làm nhang họ Hàn (người Hải Nam). Giao điểm của con “đường trong” của xóm Rượu hợp với đường Võ Tánh của Đàng Luồn Cây Thị làm thành hình chữ "T" là địa điểm của cái miếu Thổ Kỳ này.

Đối với nhà tôi thì khu vực này còn gọi là xóm trên, tập hợp nhiều đào kép cải lương nhất trong xóm Rượu. Trong số ấy có chú ba Thành (kép chính xuống giọng cổ rất "mùi"), chú bảy Xi (đờn vọng cổ), chú hai Tiết (kép phụ), chú Thạnh (chuyên hát bội), chị Nguyễn Thị Tri (làm cô đào đẹp trong vở tuồng “Đường Lên Xứ Thái”), v.v... Sân khấu tập tuồng hầu như mỗi đêm tại miếng đất cạnh mấy cái mả Hời gần nhà bác ba Lợi (bác bán hàng quảng cáo trên chợ Dinh) và cách nhà tôi chừng vài chục thước.

Hễ nói "xóm trên" thì tất nhiên có xóm giữa, xóm dưới, xóm trong và xóm ngoài của xóm Rượu. Người xóm Rượu tự đặt tùy theo vị trí tương đối nào trong xóm để phân biệt xóm nào của xóm Rượu cho dễ truyền thông.

Phía dưới nhà tôi tức đi về hướng gò Lăng là xóm gò Lăng (hay xóm dưới) có bác sáu Đựng, không những là một nhạc sĩ nổi tiếng nhất của xóm mà còn của quận Ninh Hòa sành sỏi nhiều loại nhạc cụ dân tộc. Còn có nhà của dượng tám tôi, thầy Phạm Đồng là giáo viên lâu đời của trường Tiểu học Đức Trí.

Xóm tôi nằm chính giữa nên còn được gọi là xóm giữa hay là xóm bánh tráng cũng tập hợp khá đông đảo đào kép, trong số ấy có mợ năm Mãi (xuống giọng cổ rất "mùi"), cậu bảy Nghi (vai vua trong vở tuồng "Hội Nghị Diên Hồng"), cậu tư Lặt (kép phụ), cậu mười Dưa (kép phụ ca giọng cổ rất "mùi"), dì Cải (ca rất mùi) v.v... Sân tập và giàn dựng tuồng không đâu xa lạ, chính trong cái sân của nhà cậu năm Hà tôi.

Xóm ngoài (gần dốc Quán) có trường gà nổi tiếng đầu tiên của xóm Rượu được tổ chức vào mỗi cuối tuần tại nhà bác ba Bản. Về sau vì số người sáp trận đông đảo nên trường gà dời vào xóm giữa, cách đó chỉ vài chục thước, đá độ tại sân đá của nhà bác chín Đề, rộng rãi hơn.

Xóm trong còn được gọi là xóm "đồng trong” giáp xóm Mới có băng nhạc cổ truyền chuyên kéo đờn đám chết do bác bốn Tui làm trưởng ban. Ngoài ra, còn có thầy Hà, là vị thầy thuốc Tây giỏi có tiếng và từng cứu giúp nhiều người, trong số đó có má tôi khi bà chuyển bụng và quặn đau nửa đường nên bà phải bò trên cầu Dinh trên đường đi qua nhà thương bên Vĩnh Phú để sanh tôi. Theo lời bà Ngoại tôi kể lại rằng nếu không nhờ ông Thầy Hà giỏi và tận tình cấp cứu kịp thời, tôi và mẹ tôi cả hai đã qua đời.

Xóm Rượu xưa kia có rất nhiều ngõ. Có 5 ngõ hẻm sâu vào nhà tôi khoảng đầu thập niên 60: ngõ ăn thông chợ hoặc đồn G.I. (Government Issue – Anh và Pháp dùng như nhau) gọi là ngõ "đàng luồn cây thị", ngõ ăn thông với trường Ðức Trí gọi là ngõ dốc Quán, rồi ngõ xuống gò Lăng nơi có lăng bà Vú gọi là ngõ gò Lăng, ngõ ra nhà bà Điếc chính là ngõ ra ngoài "Xoi", một thời đã là sân vận động của đám trẻ trong xóm và ngõ "đồng trong” băng qua những cánh đồng ruộng, ao bàu mương để vào xóm Mới.

Chưa hết, quanh xóm Rượu còn có nhiều ngõ khác chẳng hạn ngõ ra ấp Ngoài (ấp Bắc), ngõ lên thành Chùa, ngõ lên nhà ông ba Lợi, ngõ xuống nhà ông Bổ chích thuốc, ngõ xuống chùa Cát, ngõ xuống nhà thầy Bảy, ngõ hẻm ông "Vẹo" bán nước mía lên chợ Dinh, .v.v... Tôi không làm sao kể xiết vì Xóm Rượu tôi có lắm ngõ ngách !

(còn tiếp)

  

 

Nguyễn Văn Thành
          
2/12/
2005