|
|
Xóm
RưỢu
- Quê
Tôi
Nguyễn
Văn
Thành


Phần 1:
Đôi
lời
phi
lộ:
Trong lòng người ở hải ngoại, mỗi chúng ta không ai
không nhớ về xóm làng yêu dấu. Bởi nơi chốn ấy có mồ mả của ông bà tổ tiên
ta mà họ lúc sinh tiền, đã đổ mồ hôi nước mắt gây dựng mái gia đình và xóm
làng. Bởi nơi chốn ấy còn có bằng hữu, thân nhân, bà con ruột thịt sinh
sống mà sự liên hệ gắn bó tình cảm giữa người xa quê và người ở lại càng
mật thiết hơn theo truyền thống bất hủ của người Việt được biểu hiện qua
những câu ca dao sau:
Cây có cội, nước có
nguồn
hay
Con
người có tổ có tông
Như cây có
cội, như sông có nguồn
Thời gian tôi sống ở hải ngoại
dài hơn thời gian tôi sống tại Việt Nam, và dài gấp bội thời gian tôi đủ
trí khôn để hiểu và nhớ những kỷ niệm ở Ninh Hòa. Nói như vậy có nghĩa là
trong khoảng 13 năm tuổi thơ tại Ninh Hòa, chỉ có 5 năm sau cùng tôi thực
sự hiểu biết về Ninh Hòa. Do đó, những sự kiện được viết ra đây hoàn toàn
dựa vào trí nhớ của tôi trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1964.
Sau năm 1964, tôi không thường xuyên về Ninh Hòa nữa vì bận việc đi xa, và
đến khi muốn trở về xóm làng cũ thì tôi gặp trở ngại.
Viết một bài về xóm làng thì
quả là một chuyện khó làm. Hơn nữa tôi ở trong hoàn cảnh
rất hiếm tài liệu và xa người lớn tuổi ở Ninh Hòa để tham khảo,
còn trí nhớ lắm lúc cũng không
được hoàn hảo nên không sao tránh được những thiếu sót, phiền toái và
nhiêu khê. Loạt bài này cốt ghi lại những sự kiện trong thời gian trên để
giúp thế hệ sau muốn tỉm hiểu về xóm Rượu, mà không nhằm phê phán hoặc chỉ
trích cá nhân cũng như lòng tin và nghề nghiệp của bất cứ ai. Cuối cùng,
tác giả mong sự góp ý xây dựng của các bậc trưởng thượng để loạt bài viết
này được mỹ mãn hơn.


Dẫn Nhập:
X óm
Rượu
quê tôi nằm trong quận (huyện, phủ) Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tôi có biết
bao kỷ niệm ở xóm Rượu vì nơi đây tôi đã sinh ra và trải qua quãng thời
gian thơ ấu. Vào cuối thập niên 1950, tại Trung tâm quận Ninh Hòa có xã
Ninh Hiệp được chia thành 2 làng: Mỹ Hiệp và Vĩnh Phú ngăn cách bởi sông
Dinh. Nhờ cầu Dinh (trước kia là Quốc lộ 1) nối giữa hai đầu cầu nên việc
thông thương qua lại của hai làng được dễ dàng.
Làng Mỹ Hiệp gồm có 3 thôn: Mỹ Hiệp 1, Mỹ Hiệp 2 và Mỹ
Hiệp 3.
Căn cứ theo tấm hình làm sổ gia đình bên dưới do bác Tỷ
(người trong xóm thường gọi bác là bác Tỷ đen,
tên thật là Phan Tiên Đạt người Hải Nam) là thợ
chuyên môn chụp hình gia đình, chụp năm 1962 thì gia đình tôi thuộc Ấp
Đông, Đại biểu U, Liên gia 1 và Gia đình 7 của làng Mỹ Hiệp, xã Ninh Hiệp,
quận Ninh Hòa.

Thôn Mỹ Hiệp 3 nay đổi thành thôn 3.
Phía Bắc (phạm vi giữa đường Nguyễn Trường Tộ và sông Dinh) có:
Ấp Bắc
hay còn gọi là ấp Ngoài, có xây miếu thờ Thiên Y Thánh Mẫu ANA,
Chùa
Trường Thọ được xây giữa bãi cát bên dòng sông Dinh nên dân xóm Rượu quen
gọi là chùa Cát.
Nhà thờ
Mỹ Phước được Pháp xây dựng năm 1914 trên một gò đất mọc toàn là cây muồng
nên còn được gọi là "nhà thờ Gò Muồng" và
"Ruộng
Xoi" sát sông Dinh của dòng họ Trần về sau chia lại một nửa cho họ
Lý lập hãng nước đá và lò gạch.
Dân sinh sống bằng nghề buôn bán tạp hóa, đan giỏ tre,
đổ bánh ướt, bánh căn, bánh bèo, làm nem nướng...
Phía Đông (bao hình giữa đường Nguyễn Trường Tộ và con mương, trước
1975 là chi nhánh của sông Dinh chảy qua xóm Lò Heo Cầu Gỗ và cầu Trạm hay
cầu Đồn) và
giáp gò Lăng
có:
Ấp Đông
Thành (người trong xóm gọi tắt là ấp Đông) thờ bà Hậu Thổ. Dân sống bằng
nghề nấu rượu, đan vỉ bánh tráng, bánh xèo, bánh ú, bánh ít, bánh canh,
tóm lưỡi câu, trồng rau, thợ mộc, thợ hồ, làm bún.. và tráng bánh.
Vì dân trong xóm làm rượu nên được gọi là xóm Rượu. Tại
xóm Rượu còn đồn bót của Pháp mọc lên bên cạnh đường chánh có tên là
Nguyễn Trường Tộ được phóng ảnh trên bản đồ quân sự của Pháp để họ dễ
chuyển quân đi chống đỡ các hướng và dễ tiếp tế khi cần. Cạnh đồn Tây (lô-cốt)
có một ngôi trường Tiểu học Tư thục Đức Trí do Thầy Nguyễn Tố làm Hiệu
trưởng, sau đó vì bận công tác nên Thầy Tố nhường lại cho Thầy Ngô Văn Cử.
Năm 1959, trường được dời về dốc Quán trước nhà bà Âu và nhà ông Quốc.
Gò Lăng
chỉ cách nhà tôi chừng vài trăm thước. Hồi ấy, có hai người lớn tuổi nhất
trong xóm kể cho tôi nghe rằng bà Nguyễn Thị Tiềm, một phú hộ người Việt
gốc Hoa, do có công nuôi quân của chúa Nguyễn Ánh nên sau khi lên ngôi,
chúa Nguyễn Ánh xưng hiệu là Vua Gia Long nhớ ơn bà bèn sai tuần phủ sắc
phong và cho xây lăng mộ (nay gọi là lăng bà Vú) vào khoảng năm 1803.
Phía Nam (phạm vi bên kia con mương giáp xóm Mới) có :
Nhiều
đồng ruộng nằm bên trong nên gọi là "đồng trong",
Hai cái
bàu lớn: bàu ông Sở và bàu ông Ngao. Cả hai bàu đều có nước trong và sâu,
nhiều hoa súng và hoa sen, nhiều cá trầu, cá trê, cá rô, cá sặc, cá lòng
tong, cá trèn, lươn. Ngoài ra, xóm Rượu còn một cái bàu cạnh nhà ông Thúi
là bàu Sú có nước đục và nhiều lục bình.
Đất
dưới bàu đặc biệt là màu xám đậm giống xi-măng và dẻo như đất sét hấp dẫn
nhiều tay thủ công nghệ nắn ly tách, hoặc đám trẻ đến bàu thọc tay sâu
dưới nước lấy đất từ thành bờ rồi vò tròn thành viên bi, phơi nắng làm đạn
để bắn chim.
Nhiều
cây ăn trái như xoài thanh ca, xoài cà lăm, xoài tượng, mận, đào, đào tiên,
me,.v.v... Chỉ nhà bà bảy Ngọ không thôi, lúc bấy giờ có ít nhất 20 cây
xoài và cam mọc đầy hai bên con mương.
Nhiều
bụi tre, dừa và cau cao. Đặc biệt nhiều cây trảy rất thích hợp cho đám trẻ muốn
làm ống thụt.
Riêng cái gò của nhà ông Ngoại tôi, cách nhà tôi chừng
vài chục thước có một vườn trái thơm không biết bao nhiêu bụi thơm mà kể.
Phía Tây (giữa đường Nguyễn Trường Tộ và con mương) giáp Đàng Luồn
Cây Thị (đường Võ Tánh) có:
Cái
miếu nhỏ gọi là miếu "Thổ Kỳ" thờ Thần Đất nằm trong miếng đất của nhà
người làm nhang họ Hàn (người Hải Nam). Giao điểm của con “đường trong”
của xóm Rượu hợp với đường Võ Tánh của Đàng Luồn Cây Thị làm thành hình
chữ "T" là địa điểm của cái miếu Thổ Kỳ
này.
Đối với nhà tôi thì khu vực này còn gọi là xóm trên,
tập hợp nhiều đào kép cải lương nhất trong xóm Rượu. Trong số ấy có chú ba
Thành (kép chính xuống giọng cổ rất "mùi"), chú bảy Xi (đờn vọng cổ), chú
hai Tiết (kép phụ), chú Thạnh (chuyên hát bội), chị Nguyễn Thị Tri (làm cô
đào đẹp trong vở tuồng “Đường Lên Xứ Thái”), v.v... Sân khấu tập tuồng hầu
như mỗi đêm tại miếng đất cạnh mấy cái mả Hời gần nhà bác ba Lợi (bác bán
hàng quảng cáo trên chợ Dinh) và cách nhà tôi chừng vài chục thước.
H ễ
nói "xóm trên" thì tất nhiên có xóm giữa, xóm dưới, xóm trong và xóm ngoài
của xóm Rượu. Người xóm Rượu tự đặt tùy theo vị trí tương đối nào trong
xóm để phân biệt xóm nào của xóm Rượu cho dễ truyền thông.
Phía dưới nhà tôi tức đi về hướng gò Lăng là xóm gò
Lăng (hay xóm dưới) có bác sáu Đựng, không những là một nhạc sĩ nổi tiếng
nhất của xóm mà còn của quận Ninh Hòa sành sỏi nhiều loại nhạc cụ dân tộc.
Còn có nhà của dượng tám tôi, thầy Phạm Đồng là giáo viên lâu đời của
trường Tiểu học Đức Trí.
Xóm tôi nằm chính giữa nên còn được gọi là xóm giữa hay
là xóm bánh tráng cũng tập hợp khá đông đảo đào kép, trong số ấy có mợ năm Mãi
(xuống giọng cổ rất "mùi"), cậu bảy Nghi (vai vua trong vở tuồng "Hội Nghị
Diên Hồng"), cậu tư Lặt (kép phụ), cậu mười Dưa (kép phụ ca giọng cổ rất "mùi"),
dì Cải (ca rất mùi) v.v... Sân tập và giàn dựng tuồng không đâu xa lạ,
chính trong cái sân của nhà cậu năm Hà tôi.
Xóm ngoài (gần dốc Quán) có trường gà nổi tiếng đầu
tiên của xóm Rượu được tổ chức vào mỗi cuối tuần tại nhà bác ba Bản. Về
sau vì số người sáp trận đông đảo nên trường gà dời vào xóm giữa, cách đó
chỉ vài chục thước, đá độ tại sân đá của nhà bác chín Đề, rộng rãi hơn.
Xóm trong còn được gọi là xóm "đồng trong” giáp xóm Mới
có băng nhạc cổ truyền chuyên kéo đờn đám chết do bác bốn Tui làm trưởng
ban. Ngoài ra, còn có thầy Hà, là vị thầy thuốc Tây giỏi có tiếng và từng
cứu giúp nhiều người, trong số đó có má tôi khi bà chuyển bụng và quặn đau
nửa đường nên bà phải bò trên cầu Dinh trên đường đi qua nhà thương bên
Vĩnh Phú để sanh tôi. Theo lời bà Ngoại tôi kể lại rằng nếu không nhờ ông
Thầy Hà giỏi và tận tình cấp cứu kịp thời, tôi và mẹ tôi cả hai đã qua đời.
X óm Rượu
xưa kia có rất nhiều ngõ. Có 5 ngõ hẻm sâu vào nhà tôi khoảng đầu thập
niên 60: ngõ ăn thông chợ hoặc đồn G.I. (Government Issue – Anh và Pháp
dùng như nhau) gọi là ngõ "đàng luồn cây thị", ngõ ăn thông với trường Ðức
Trí gọi là ngõ dốc Quán, rồi ngõ xuống gò Lăng nơi có lăng bà Vú gọi là
ngõ gò Lăng, ngõ ra nhà bà Điếc chính là ngõ ra ngoài "Xoi", một thời đã
là sân vận động của đám trẻ trong xóm và ngõ "đồng trong” băng qua những
cánh đồng ruộng, ao bàu mương để vào xóm Mới.
Chưa hết, quanh xóm Rượu còn có nhiều ngõ khác chẳng
hạn ngõ ra ấp Ngoài (ấp Bắc), ngõ lên thành Chùa, ngõ lên nhà ông ba Lợi,
ngõ xuống nhà ông Bổ chích thuốc, ngõ xuống chùa Cát, ngõ xuống nhà thầy
Bảy, ngõ hẻm ông "Vẹo" bán nước mía lên chợ Dinh, .v.v... Tôi không làm
sao kể xiết vì Xóm Rượu tôi có lắm ngõ ngách !
(còn tiếp)


Nguyễn
Văn
Thành
2/12/2005
|