Ấy
Nguyễn
Văn
Thành


Nhân
chuyến đi Pháp vừa qua, tôi may mắn gặp lại một đồng hương Ninh Ḥa mà hơn
45 năm qua tôi chẳng có một tin tức ǵ về người ấy, chị Nguyễn Thị Tri.
Chị vừa là một bạn học trường Trần B́nh Trọng và cũng là người cùng xóm
Rượu với tôi. Cả hai rời quê hương khá lâu, người ở bên Mỹ kẻ ở bên trời
Tây, nhưng khi gặp lại chị sau một thời gian dài, tôi hết sức ngạc nhiên
về giọng Ninh Ḥa không nhạt phai của chị.
Ngạc nhiên đến độ, tôi phải thốt lớn:
- Tời “quơi”, chị c̣n giữ giọng Ninh Quà (Ḥa)
thừn tí (thuần túy)!
Trong lúc hàn huyên những chuyện buồn vui thời thơ ấu, tôi để ư đến vài
cụm từ với giọng rặt Ninh Ḥa, nhất là từ “ấy” được chị quen miệng “đệm”
trong những câu đối thoại với tôi. Sự thản nhiên “ấy” của chị đă làm tôi
nhớ lại từ “ấy” mà mấy đứa em gái Ninh Ḥa của tôi cũng hay đệm trong lời
nói khi mới đến Mỹ. Có lần tôi chọc giận đứa cháu gái con của bà chị họ ở
Ḥn Khói nhân lúc cháu vừa đến Mỹ. Cháu có giọng miền biển Ninh Ḥa nặng
trịch, mở miệng ra là pha “ấy”, nói cái ǵ cũng “ấy”, và làm ǵ cũng có
“ấy” trong đó. Tôi cố t́nh chọc dai để cháu tôi nói nhiều với giọng Ninh
Ḥa cho tôi nghe, cho tôi nghe lại tiếng Ninh Ḥa.
Thiết nghĩ, từ “ấy” biểu hiện nét đặc trưng của nền văn hóa riêng của dân
tộc Việt Nam, đặc biệt phụ nữ miền quê hun hút hoặc miền biển Hà Liên và
Ḥn Khói dùng nhiều nhất. Trong phạm vi bài này, tôi muốn bàn về nghĩa của
từ “ấy”, thanh lẫn tục, và vị trí của từ “ấy” trong Văn Học & Nghệ Thuật.
Nghĩa TỤC và THANH của chữ “ấy” trong Văn Chương:
Một thí dụ điển h́nh trong nghĩa tục của từ “ấy”:
- Mọi người đi ngủ hết rời (rồi), giờ chị em ḿnh tha hồ “ấy” đi! (Lập lại
nguyên văn lời của chị Tri).
Ở đây chữ “ấy” có ngụ ư “ôn về chuyện trường lớp bạn bè và thầy cô” mà
người nghe là tôi mới hiểu rơ câu chuyện đă được dự định trước giữa tôi và
chị Tri sau khi mọi người đi ngủ.
Chị giải thích giọng Ninh Ḥa ḿnh th́ như vậy đó nhưng tại người nghe
dịch sái nghĩa rồi nghĩ bậy.
Nghĩa thanh của từ “ấy” trong bài thơ thất ngôn sau đây của một cố nhân
nào đó đă tặng chị Tri, được chị ngâm cho tôi nghe:
Hôm ấy anh đi nắng vỡ đầu
T́m em mà chẳng thấy em đâu
Trưa buồn phố vắng đ́u hiu quá
Bất kiến giai nhân vạn cổ sầu.
Một dịp khác, trong khi nói chuyện điện thoại với anh Phan Đông Thức về
lối viết thư pháp, anh có nói: Anh hay viết “ấy”, rồi cả hai ôn lại chuyện
ngày xưa về “lỗ lở “ linh thiêng gần Phong Phú, nơi có một cô gái rớt
xuống sông Dinh và chết đuối, anh nói với tôi: Bây giờ nó “ấy” rồi! Nghĩa
ở đây “lỗ lở” ngày nay đă không c̣n nữa, đó chính là ư của anh Thức muốn
nói. Cũng như chị Tri và tôi, anh Thức quen giọng nói Ninh Ḥa pha trộn
“ấy” trong lời nói. Anh đă không biết rằng tôi đang muốn tiếp xúc với anh,
với người Ninh Ḥa để kiểm chứng từ “ấy” mà người Ninh Ḥa hay nói.
Có thanh có tục, do đó vấn đề chỉ tùy thuộc vào người nghe suy diễn.
Vậy thế nào là thanh và tục của từ “ấy” ?
Bàn về khía cạnh “tục”, những người với đầu óc phong phú hoặc lăng mạn,
thoạt nghe, đă liên tưởng đến nghĩa tục, nói nôm na cái “ấy” (của quư) ...
của đàn bà. Do đó, nếu người nghe nghe không quen tai hoặc người nghe mắc
bệnh dị ứng về cái “ấy” hoặc người nghe không phải là người Ninh Ḥa hoặc
không từng sống ở Ninh Ḥa th́ họ có thể khó chịu v́ họ cho rằng chị Tri
hoặc anh Thức đă nói tục hoặc có ẩn ư tục trong lời nói. Trái lại, những
người thâm thúy văn chương, yêu ngôn ngữ th́ không nghĩ là tục, họ cho là
thanh, nghĩa là một cách nói tắt vậy thôi. Những người này đổ lỗi cho
những người khác đă nghĩ quá bóng bẩy, mờ ám, đen tối...
Một thí dụ khác trong đó từ “ấy” được dùng, tôi xin lưu ư từ “trễ” cải âm
thành “trỡ” và “thôi rồi” thành “thơi rời”.
Hai đứa bạn gái với nhau có tên Lan và Hoa. Hoa bảo Lan:
- Lan mau lên đi, không khéo “trỡ” giờ !
Hoa sực nhớ:
- Ồ, “thơi rời”, chết mẹ tới giờ “rời”. Nè, bồ ráng chờ tao một chút, tao
phải đi “ấy” một cái đă !
Từ “ấy” trong câu trên hàm súc việc đi “tiêu” hoặc đi “tiểu” hoặc cái ǵ
đó mà cá nhân Hoa đă quên, chẳng hạn việc ăn cơm, uống nước, thay quần áo,
việc chào hỏi, thăm viếng ai đó... Đó là chuyện riêng của Hoa đă quên
trước khi đi cùng Lan.
Một hôm nọ trời mưa, Lan nói với Hoa:
- Mưa miết không sửng mày, thằng kép của tao chắc chờ đến tối mưa sửng mới
tới “ấy” tao.
Mới nghe, từ “ấy” trong câu này ẩn chứa chuyện trai gái gần nhau như “rơm
gần lửa” là chuyện “tục” thường t́nh. Tuy nhiên, từ “ấy” có thể chứa đựng
nhiều sự việc khác xảy ra nhưng chính Hoa là người nghe có thể không hiểu
Lan muốn nói ǵ và chàng kép của Lan có ư định “ấy” như thế nào với bạn
ḿnh.
Lần khác, Hoa tâm sự với Lan nên quan tâm ḍm ngó các em trai và gái đang
tuổi dậy th́:
- Chuyện “ấy” xảy ra bất cứ lúc nào nếu các em trai và gái của tao và mày
không được giáo dục kỹ lưỡng.
Chuyện “ấy” xảy ra có thể được hiểu là chuyện “tục” cũng như “thanh”, hiểu
nghĩa nào cũng đúng hết. Tôi đồng ư rằng, lời nói chính là phương tiện
biểu lộ truyền thông cùng hành động. Như vậy, thế nào là tục? là thanh ?
Nếu người nghe nhậy cảm về chuyện “tục” th́ vấn đề “tục” sẽ nảy sinh ra
trong đầu óc họ. Và họ cho rằng nói tục với người khác, nhất là giữa chốn
đông người là không nên, là không tôn trọng họ. Nhưng có lẽ đó là phong
tục của người Ninh Ḥa, đặc biệt đàn bà và phụ nữ pha “ấy” trong lời nói
thường hơn đàn ông, nếu không nói là quen miệng hoặc lạm dụng nhiều hơn.
Tôi thành thật xin lỗi quư bà nhưng phải công nhận sự thật như vậy. Trong
những câu chuyện xă giao hàng ngày ở Ninh Ḥa, mẹ nói với con, vợ nói với
chồng, bà nói với cháu...từ “ấy” luôn được nhắc đến nhưng không có nghĩa
là mấy bà hay người Ninh Ḥa nói tục, hoặc họ cần phải nói tục và cũng
không có nghĩa là họ ám chỉ cái “ấy” kín đáo của người phụ nữ.
Người Ninh Ḥa là vậy, v́ do thói quen nên nói ǵ, thốt ǵ cũng thường
“phụ đề” từ “ấy” trên đầu môi chót lưỡi, nhiều lúc họ không tin rằng chính
họ đă nói hay phát ngôn từ “ấy” trúng chỗ hoặc không trúng chỗ, và vô t́nh
làm người nghe ngượng ngịu nghĩ “tục”.
Nói tục, chưởi tục có cố ư lại là một chuyện khác, thường biểu lộ một tâm
lư, một sự tức bực, giận dữ một chuyện ǵ đó tức đến độ như “tức nước vỡ
bờ”, thành thử nói tục cho đă giận. Ai ai cũng vậy, bất cứ dân tộc nào
trên thế giới cũng vậy, chỉ trừ những bậc đạo đức, những thầy tu hành có
chân tu tuyệt đối, đều văng tục, chưởi tục.
Trong thi văn, chúng ta hăy nghe thi sĩ Hồ Xuân Hương mà người đời c̣n gọi
là bà Chúa thơ Nôm đă muợn từ “ấy” để nhấn mạnh, để ám chỉ hoặc để tô màu
sắc cho bài thơ thật thâm thúy của ḿnh mang hai nghĩa đen và trắng. Bà
dụng từ “ấy” để chỉ định vai tṛ “ấy” thanh lẫn tục, đọc nghe thắm thía vô
cùng. Chúng ta hăy đọc các bài thơ thất ngôn sau đây của bà:
Trách Chiêu Hổ
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay...
Giếng Nước
Ngơ sâu thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nuớc trong leo lẻo một ḍng thông!
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá giếc le te lách giữa ḍng.
Giếng ấy thanh tân ai đă biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng
Vịnh Cái Quạt II
Mười bảy hay là mười tám đây?
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
Mỏng dầy chừng ấy chành ba góc,
Rộng hẹp dường nào cắm một cây.
Càng nóng bao nhiêu càng muốn mát,
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên v́ cậy,
Chúa dấu vua yêu một cái này.
Đánh Cờ
... Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đă lửa.
Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên....
Tuy thất bại và chán chường sự đời nhưng Trần Tế Xương đă đặt chữ “ấy” rất
thanh tao trong hai bài thơ thất ngôn sau đây:
Ba Thứ Lăng Nhăng ...
Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta .
Chừa được thứ nào hay thứ ấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà !
Đùa Ông Phủ
Tri phủ Xuân Trường được bốn niên,
Nhờ Giời hạt ấy được b́nh yên.
Chữ "y", chữ "chiểu" không phê đến,
Ông chỉ phê ngay một chữ "tiền".
Thi sĩ Nguyễn Khuyến đă dùng chữ “ấy” t́nh tứ hơn diễn tả về sự nóng nực
của mùa hè trong bài thơ ngũ ngôn “Đêm Mùa Hạ” sau đây:
Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thật oi ả.
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy biết cùng ai ?
Cảnh này buồn cả dạ
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đà sớm giục giă.
Ông c̣n ray rức hơn với từ “ấy” trong bài thất ngôn “Xuân Nhật Thị Chư Nhi”:
Tuổi thêm thêm được tóc râu phờ
Nay đă năm mươi có lẻ ba !
Sách vở ích ǵ cho buổi ấy ?
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
Xuân về ngày loạn c̣n lơ láo,
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ.
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng ?
Sao con đàn hát vẫn say sưa.
Thi sĩ Tố Hữu đậm đà với chữ “ấy” trong bốn câu thơ thất ngôn sau đây:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt Trời chân lư chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Hồi c̣n học ở trường Trần B́nh Trọng, tôi đă nghe hai câu nổi tiếng truyền
tụng trong đám học tṛ:
Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên!
Trong Thi Tập của Vinh Hồ, từ “ấy” cũng được tác giả nặng ḷng dùng đến để
gọi tên sông Dinh quyến luyến:
...Sông Dinh, sông Lốt, tên sông ấy
Ai đặt chi hai để nặng ḷng.
Chị Đoàn Thủy Tiên cũng đă dùng từ “ấy” trong bài “Mùa Hè Năm Ấy” tạo cho
người nghe có một cảm giác thật êm đềm, thanh tịnh của cảnh chùa:
...Mùa hè năm ấy Trời trong
Tôi và các bạn thong dong đến chùa...
Vơ Đông Điền cũng đă bâng khuâng người em gái, thắc mắc ngày
ấy trong bài
thơ “Bất Chợt Nh́n Nhau”:
...Một chút xa xôi
Một chút bồi hồi
Sao không như ngày ấy
Ngày em tṛn hai mươi tuổi
Sao không như ngày ấy
Để anh măi c̣n đôi mươi.
Hồn người đọc cảm thấy xao xuyến với những người con gái bên kia
ấy trong
mấy câu thơ đượm t́nh của nhà thơ Trúc Ly:
"Tôi đứng bên nầy bờ dĩ văng
Thương về con nước ngại ngùng xuôi
Những người con gái bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi
Tôi muốn hôn bằng môi của em
Mùa thu tha thiết nắng hoe thềm."
Thời xa xưa, Nguyễn Trăi là đại thần nhà Hậu Lê một hôm đi dạo phố Kinh Kỳ,
trong lúc Nguyễn Thị Lộ là cô gái bán chiếu xinh đẹp ở Tây Hồ, tức là Hà
nội ngày nay. Thấy gái đẹp, Nguyễn Trăi thả lời ong bướm:
Ả ở đâu nay bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay c̣n
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi
Đă có chồng chưa, được mấy con
“Ấy” trong “Gái Hồng Nhan” của Nguyễn Quư Tân cũng đậm đà hương yêu:
Thấy gái hồng nhan bỗng chốc mà
Hỏi thăm cô ấy chửa hay đà
H́nh dung yểu điệu in như thể
Diện mạo phương phi ngó tưởng là
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn
Nói năng phải lẽ giống con nhà
Ước ǵ ta được mà ta để
Ta để đem về để nữa ta
“Ấy” cũng đă đi sâu vào thơ nhạc trong:
Hai Sắc Hoa Ti-Gôn ví von chuyện t́nh của T.T.Kh do ca sĩ Hoàng Oanh
phát hành đĩa nhạc CD tại hải ngoại:
...Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: "Hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ t́nh ta cũng vỡ thôi!"...
Thuở “ấy” có “Chuyện T́nh Lan và Điệp” quá ư bi lụy được diễn tả qua giọng
hát đầy quyến rũ của nữ ca sĩ Trúc Mai mà tôi đă nghe khi c̣n ở Việt Nam:
Thuở ấy Điệp vui như bướm trắng
Say đắm bên Lan
Lan như bông hoa ngàn
Thương yêu vô vàn
Nguyện thề non nước sẽ không hề ĺa tan.
“Ngày Ấy Ḿnh Yêu Nhau” được tŕnh bày song ca qua giọng ca truyền cảm
“đầy học tṛ” của Giáng Thu và cao vút của Chế Linh:
Ngày ấy cây si anh trồng ngay lối đi
Tỏ t́nh nghe anh nói, cúi đầu em cắn môi
Chồng hiền như con gái, cưới vợ xinh quá đi thôi
Hàng xóm ra xem cứ khen hoài....
Hôm “ấy anh đi nghe réo rắc trong “Hai Kỷ Niệm, Một Chuyến Đi” do con
nhạn trắng G̣ Công, ca sĩ Phương Dung độc diễn:
Hôm ấy anh đi, ḿnh với ḿnh vừa quen
Đôi ta thường nói rằng
T́nh yêu như tờ áo trắng
Như nước êm trôi giữa ḍng ...
Chẳng những thế, “Ấy” cũng đă đi vào điện ảnh trong phim:
“Người Cô Đơn” do cặp tài tử Vân Hùng và minh tinh Thanh Nga thủ vai
chính trong cuộc t́nh éo le và ngang trái, buồn đến rơi nước mắt :
Ô ḱa trời xanh mây trắng
Ao dưới cầu có đóa hoa sen
Ô t́nh ta như nồng thắm
Ấy ! Ấy
! T́nh ta với ḿnh
(nhạc của Hoàng Thi Thơ)
Ngay cả trong làng cải lương, “ấy” cũng đă có mặt. Cố nghệ sĩ Thanh Hương
đă từng có giọng hát thật “mùi” làm cảm động biết bao thính giả trong 6
câu vọng cổ với tựa “Cô Bán Đèn Hoa Giấy”:
- Năm ấy em vừa lên 14 tuổi
Quả tim non chưa biết rộn ràng
Cứ mỗi độ mai vàng nở nhụy báo Xuân sang
Là mỗi độ em mang đèn ra chợ bán, khách du Xuân tấp nập ở ven...đường. Em
tựa thân cây dừa bên sông lạnh để rao hàng. Mái tóc em chấm ngang vai em
chưa biết cài suôn sẻ, em chưa biết niềm sầu mộng yêu thương....
Chữ “ấy” đă làm nỗi bật những câu tục ngữ ca dao, đă để lại cho đời những
tác phẩm bất hủ.
Ai đi đâu ấy hỡi ai
Hay là trúc đă nhớ mai đi t́m
T́m ai như thể t́m chim
Chim bay biển Bắc, đi t́m biển Đông
Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh
Nước non một gánh chung t́nh
Nhớ ai ai có nhớ ḿnh hay chăng
Cô ấy mà lấy anh này
Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu
Ngồi trong cửa sổ têm trầu
Có hai con nhỏ đứng hầu hai bên
Đêm qua nguyệt lặn về Tây
Sự t́nh kẻ ấy, người đây c̣n dài
Trúc với mai, mai về trúc nhớ
Trúc trở về, mai nhớ trúc không
Bây giờ kẻ Bắc, người Đông
Kể sao cho xiết tấm ḷng tương tư
Đồn rằng quan tướng có oai
Cưỡi ngựa một ḿnh, chẳng phải vịn ai
Vua khen rằng: "Ấy, mới tài"
Ban cho cái áo, với hai quan tiền
Đánh giặc th́ chạy trước tiên
Xông vào trận tiền, cởi khố giặc ra
Giặc sợ giặc chạy
Trở về gọi mẹ mổ gà khao quân
Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua
Gà trắng chân ch́, mua chi giống ấy
Hôm qua tát nước đầu đ́nh
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được th́ cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, Mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đă lâu
Mai mượn cô ấy về khâu cho dùm
Khâu rồi anh sẽ trả công
Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi ṿ
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan hai tiền cưới, lại đèo buồng cau
Mua trâu, cưới vợ, làm nhà
Cả ba việc ấy đều là khó thay
Rèm xưa ba bức mành manh
Mắt cô thế ấy tu hành được đâu
Sông Mơ, sông Mận, sông Đào
Ba ngọn sông ấy chảy vào sông Ri
Em yêu anh bụng đă phát ph́
Thuốc thang đâu khỏi anh th́ chữa thôi
Yêu anh dễ đứng khó ngồi
Bao giờ cho đến tháng mười
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta
Gặt hái ta đem về nhà
Phơi khô, quạt sạch ấy là xong công
T́nh cờ bắt gặp nàng đây
Hỏi rằng duyên ấy t́nh này ra sao
Cái ǵ là mận, là đào
Cái ǵ là ngăi tương giao với nàng
Trong văn xuôi, chữ ấy được nhà văn Thanh Tịnh dùng để tả về cảnh sương
thu ở một buổi mai hôm ấy:
"Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy
sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi, dẫn tôi đi trên con
đường làng dài và hẹp."
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng
ấy nảy nở trong ḷng tôi như mấy cành hoa
tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đăng.
Những ư tưởng ấy tôi chưa lần nào
ghi lên giấy, v́ hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết.
Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến
trường, ḷng tôi lại tưng bừng rộn ră.
Lần ấy
trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để
nh́n qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng ǵ
khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.”
Như vậy, dù người nghe có đầu óc lăng mạn, nghĩ sái từ “ấy” thốt ra bằng
lời nói rồi cho là tục nhưng ngôn ngữ Việt Nam không chối bỏ từ “ấy” đặc
trưng phát ra trong dân gian, nhất là người dân Ninh Ḥa. Nếu cứ cho là
tục th́ thơ của thi sĩ Hồ Xuân Hương sẽ không tồn tại và lưu truyền đến
hậu thế. Những đề tài được bà diễn tả nghĩ là tục, nhưng bà biết kỹ thuật
cấu tạo thơ tài t́nh chứa đựng thanh lẫn tục. Khi đọc lên người ta cảm
nhận tính chất văn chương hơn là phàm tục và v́ luân lư đạo đức không dám
nói ra, nên thơ của bà vẫn được người đời ưa chuộng.
KẾT LUẬN:
Tóm lại, từ “ấy” không chỉ, một đôi khi được hiểu theo nghĩa “tục” nhưng
“ấy” c̣n đóng một vai tṛ quan trọng trong kho tàng văn chương như nói lái,
ẩn dụ, lời thanh ư tục.... và nghệ thuật.
Tôi có một vài phân biệt về cách dùng của từ “ấy” như sau:
(1) Thời gian mơ hồ hay xác định:
Thuở ấy, hôm
ấy, chiều hôm
ấy, trưa ấy, sáng hôm
ấy, tối hôm ấy, bữa
ấy,
đêm ấy, năm
ấy, ngày ấy, tháng
ấy, khi ấy, dạo
ấy, từ độ
ấy, trong lúc ấy,
....
Hôm ấy, mưa tầm tă và gió băo bùng,
em nằm mơ thấy sông nước mùa thu dao động. Em giật ḿnh tỉnh giấc, anh ôm
chặt em trong ṿng tay rồi khẻ bên tai em: “Anh yêu em suốt đời”. Từ lúc
ấy, em an tâm có những giấc ngủ thật b́nh yên!
Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ ḍng trong
Cô lái đ̣ kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy
Để buồn cho những khách sang sông" - trích trong bài “Cô Lái Đ̣” của
Nguyễn Bính
(2) Số lượng, dung tích:
Chừng ấy, ngần
ấy, bấy nhiêu
ấy, giá ấy, cỡ
ấy, kiểu ấy ...
Thôi th́ thôi nhé có chừng ấy thôi
- Phạm Duy phổ nhạc.
Thường th́ vũ phu gặp ác phụ v́ nồi nào úp vung
ấy
Bày khéo thú vui non nước đủ,
Tây Hồ giá ấy dễ đâu so !
Trích
trong bài “Cảnh Tây Hồ” - Khuyết Danh
(3) Nơi chốn, địa danh:
Nơi ấy, chốn
ấy, chỗ ấy, ...
Nơi chân Trời xa xôi ấy, anh c̣n
nhớ đến người xưa
ấy?
(4) Người:
Cô ấy, anh ấy, thằng
ấy, chị ấy, bà
ấy, ông ấy, con
ấy, người
ấy, ...
Nghèo không là cái tội nhưng người con gái bạc bẽo
ấy đă quay mặt chê tôi.
(5) Nhấn mạnh, thay thế, chỉ định:
Cái ấy, con vật
ấy, điều
ấy, trong chiều hướng
ấy, thứ ấy, vị
ấy...
Ḍng sông Dinh ấy đă cuốn biết bao
nhiêu kỷ niệm và chôn vùi ngoài biển Đông.
Đời là thế ấy người ơi!
Nợ tiền nợ bạc c̣n cơ trả
Cái nợ văn chương ấy...vậy mà - ca
dao, tục ngữ
Lục dục là 6 điều ham muốn, theo nhà Phật, gọi là Lục Căn,
ấy là: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, và Ư.
Đàn bà con gái hiền phải có đủ "Tứ Đức",
ấy là "Công, Dung, Ngôn, Hạnh"
Con tưởng việc ǵ, chứ việc
ấy th́ ba không phải lo!
Nắng Sài G̣n anh đi mà chợt mát
Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng -
Nguyên Sa
(6) “Ấy” được dùng để cắt ngang một câu, thí dụ:
- Ấy ! Ấy
! cô đừng hiều lầm tôi chứ !
(7) “Ấy” c̣n dùng để diễn tả một hành động, hay ư nghĩ một câu chuyện hoặc
kết thúc một câu nói:
- Ấy ! Ấy
! t́nh ta với ḿnh – Hoàng Thi Thơ
Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương dùng “Ấy” có ư nghĩa thật mới lạ trong:
Ấy thương quân tử thương là thế,
Há dám thương đâu kẻ có chồng. –trích trong bài “ Thương” của Hồ Xuân
Hương
Ấy ai thăm ván cam ḷng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh. –trích trong bài “ Tự T́nh III" của Hồ
Xuân Hương
Để kết luận, chúng ta hăy nh́n vị trí của từ “ấy” bao hàm nhiều ư nghĩa
khác nhau vừa thanh vừa tục trong thí dụ sau:
Đêm ấy, tại khu vườn
ấy, thắng chó ấy,
nó đè nó ấy em, em la lên, cả xóm
ấy chạy lại, bắt nó lên xă
ấy nhốt 3 ngày.
Ấy vậy mà khi ra trước ṭa nó vẫn cứ chối leo lẻo không nhận
tội ấy của nó.
Dù tục hay thanh, từ “ấy” cũng là một thành phần quan trọng trong ngôn ngữ
và văn hóa Việt Nam. Bất cứ dân tộc nào hay văn chương nào cũng có tục,
không riêng ǵ người Ninh Ḥa, mà chỉ có hành động tục trước công chúng
mới đáng quan tâm.


Nguyễn
Văn
Thành
Giữa tháng 5, 2004