P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
̉ A
Nguyễn Văn Thành
Phần 14:
Tiếng
Anh càng ngày càng ảnh hưởng sâu đậm vào ngôn ngữ Việt Nam nói chung và
phương ngữ Ninh Ḥa nói riêng cùng với sự phát triển kinh tế của nước Việt
Nam. Cho đến ngày nay nhiều phụ huynh học sinh ở Việt Nam cũng cố gắng gửi
các con em của họ tới các lớp một thuộc bậc Tiểu học có dạy thêm tiếng Anh.
Vậy,
ta có thể tạm chia sự xâm nhập tiếng Anh vào ngôn ngữ Việt Nam thành 4
giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất:
Trong năm 1944, một số sĩ quan
người Mỹ đă giúp đỡ Việt Minh trong công cuộc giải cứu các phi công Mỹ bị
phát-xít Nhật bắn hạ tại vùng trời Bắc Việt. Các phi công được cứu thoát
sau đó đă được Việt Minh đưa sang Tàu một cách an toàn, vào vùng có quân
đội Trung Hoa Dân Quốc lănh đạo bởi Tổng Thống Tưởng Giới Thạch và Mỹ kiểm
soát. Cũng nên nhắc lại, ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp rồi
trao quyền cho vua Bảo Đại và sau đó vua Bảo Đại cử ông Trần Trọng Kim ra
làm Thủ Tướng.
Trong
hai năm này, tiếng Anh đă thấy xuất hiện lần đầu ở Việt Nam:
Như trên ta
thấy một số quân nhân Mỹ trong đó có Thiếu tá Archimedes L.A Patti, người
chỉ huy đơn vị OSS (Office of Strategic Services – Cơ Quan Phục Vụ Chiến
Lược Hoa Kỳ) đă có mặt tại Việt Nam từ năm 1944, và mang theo tiếng Anh
với họ, điển h́nh hơn hết là chữ "Mít-ting" (Meeting) mà Việt Minh đầu
tiên dùng danh từ này nhiều nhất trong việc dùng loa phóng thanh, hô hào
dân chúng biểu t́nh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm 1945 từ tay của
Nhật và chánh phủ Trần Trọng Kim. Kể từ tháng 9 năm 1945, tiếng Anh đă
được giảng dạy như một Sinh Ngữ tại bậc Trung học của các trường toàn quốc.
Những câu
mở đầu trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Chính Phủ Hồ Chí Minh ngày 2 tháng
9 năm 1945 được dịch ra từ trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ ngày 4
tháng 7 năm 1776 (The Declaration of Independence of the Thirteen
Colonies", cụ thể là :
“...mọi người sinh ra đều b́nh
đẳng, Tạo Hóa đă ban cho chúng ta những quyền bất khả xâm phạm, trong đó
có quyển sống, quyền được tự do và quyền được hưởng hạnh phúc...”
"...that all men are created
equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable
Rights, that among these are Life, Liberty, and the pursuit of
Happiness..."
Ngoài ra, những từ như quần sọt (short – ngắn), đồng
phục vải "kaki" (khaki), nón bấc (nón nhẹ làm bằng cây bấc, cây bần - mượn
từ chữ Pháp "liège" dịch ra tiếng Việt) cũng thấy xuất hiện khắp trên
đường phố.
Giai đoạn thứ hai:
Sau
hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954, Việt Nam chia đôi đất nước tại
vĩ tuyến thứ 17. Miền Bắc thuộc Cộng Sản, miền Nam thuộc Quốc Gia. Người
Mỹ đă vận chuyển một cuộc di cư vĩ đại của trên dưới một triệu đồng bào
miền Bắc bỏ mồ mả cha ông để di cư vào Nam sinh sống và lập nghiệp. Chương
tŕnh di cư lúc ấy phải chấm dứt trước ngày 30 tháng 5 năm 1955 theo hiệp
định Genève v́ ngày đó là ngày cuối mà Quốc Gia phải rút khỏi miền Bắc và
Cộng Sản tiếp thu Hải Pḥng. Việc di chuyển bằng phi cơ đă chấm dứt vào
ngày 1 tháng 10 năm 1954, nên chỉ c̣n đường tàu thủy mới có thể giải quyết
số người đông đảo như vậy. Tuy nhiên, người di cư không được phép mang
theo các đồ nặng cồng kềnh để nhường chỗ trống trên tàu cho người khác, v́
thế các "chợ Trời” đầu tiên xuất hiện ở ngoài Bắc và đường phố ngổn ngang
chưng bày những đồ vật mang ra bán. Ai ai cũng muốn tống khứ các vật dụng
và cố bán tháo bán để, để có chút vốn di cư gồm những giường ván, tủ, đồ
thờ tự, lư nhang, b́nh, chén bát rồi quần áo, gia dụng và nhiều đồ lặt vặt
khác.
Vậy danh từ “chợ Trời” trong ngôn
ngữ Việt Nam đă phát sinh từ đó, và đó là nơi bán đồ đạc ngoài vỉa hè trên
chỗ đông người qua lại.
Các loại hàng hóa đem bày bán ở
chợ Trời gọi là hàng "Lạc Son", có thể do chữ "Lot Sold" tiếng Mỹ mà ra,
nhưng cũng có người nói do chữ Pháp "à la solde" (?).
Giai đoạn thứ ba:
Sau
khi di chuyển những người di cư từ Bắc vào Nam, chính phủ Mỹ đă giúp đỡ về
mặt tài chánh và quân sự cho chính phủ Quốc Gia do Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm lănh đạo. V́ ông Ngô Đ́nh Diệm muốn giữ vững chánh nghĩa và nền độc
lập của Quốc Gia, và v́ ông chỉ muốn chính phủ Mỹ dưới sự lănh đạo của
Tổng Thống John F. Kennedy giúp đỡ về tài chánh, khí giới và huấn luyện
quân sự mà ông không muốn người Mỹ đem quân đến Việt Nam để chống Cộng
thay cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa. Do vậy có cuộc đảo chính của Dương
Văn Minh và kết quả 2 ông Diệm Nhu đă bị giết chết vào ngày 2 tháng 11 năm
1963. Tiếp theo đó, Mỹ đă đem khoảng nửa triệu quân sang giúp Quân Đội
Việt Nam Cộng Ḥa để chiến đấu dưới thời Tổng Thống Lyndon B. Johnson.
Các danh từ quân sự, chiến đấu,
hạch hỏi, và các dịch vụ buôn bán trao đổi giữa quân đội Mỹ và nhân dân
miền Nam bắt đầu ảnh hưởng đến ngôn ngữ Việt Nam lan rộng. Tuy nhiên,
phương ngữ Ninh Ḥa đă không mấy ảnh hưởng v́ không có đơn vị lớn nào của
quân đội Mỹ đóng tại Ninh Ḥa, chỉ có lưa thưa vài cố vấn Mỹ ở rải rác.
Đặc biệt Sư Đoàn Bạch Mă của Đại Hàn đóng tại đèo Bánh Ít nhưng họ rất ít
tiếp xúc với dân địa phương nên cũng chẳng góp phần nào đáng kể vào phương
ngữ Ninh Ḥa.
Một số từ cụ thể như sau:
Ti Vi (Television)
Cassette
An-bum (Album)
Photo
CC (carbon copy - thông báo)
flash (đèn chụp h́nh)
Number one
Number ten
Bô-cu (beaucoup)
Cô-néc (Conex)
OK
Đi Show (đi tŕnh diễn)
Live Show (nhạc sống)
bis (Một lần nữa)
Cao Bồi (Cowboy)
Quần Jean
Bán Ba (Bar)
Đánh Gôn (Golf)
Giữ Gôn (Goal) khuôn thành trong môn đá banh (bóng tṛn)
Gin (gene –genealogy) di truyền học, truyền giống, chủng học
Hippy (Hippy choi choi - phong trào quần túm tóc dài)
Ra xông xi (C-ration) Lương thực khô dùng trong quân đội
Mỹ
Chạc (charge) mấy đồng ?
Nhạc Rock ...v..v...
Giai đoạn thứ tư:
Sau cuộc chiến Việt Nam, Mỹ phát
triển vượt bậc về kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật và nghiễm nhiên
chiếm vị thế quan trọng và giàu mạnh nhất thế giới.
Kể từ khi chế độ Liên Sô sụp đổ,
kinh tế thị trường Việt Nam phát triển, người ngoại quốc đến làm ăn buôn
bán ở Việt Nam chỉ dùng ngôn ngữ duy nhất là tiếng Anh trong các dịch vụ
đối với nhân viên giúp việc của họ. Ngày nay, ngôn ngữ Anh là gốc, đă và
đang theo đồng Mỹ Kim (US dollars) và nhất là kỹ thuật điện thoại di động
(cell phones), vệ tinh nhân tạo (satellites), máy vi tính (computers) đă
đi khắp mọi nơi trên thế giới, tới những hang cùng ngơ hẻm có con người
sinh sống, và những nơi có con người xử dụng Internet.
V́ vậy, tiếng Anh đă du nhập vào
Việt Nam trong hầu hết mọi sinh hoạt kể cả giải trí, phim ảnh, nghệ thuật
trong đó có nhiều danh từ bây giờ vẫn giữ nguyên tiếng Anh nguyên gốc,
chẳng hạn như:
"Top ten, top, laser, laptop,
DVD, VCD, CD, VCR, decor, palm (máy vi t́nh bỏ túi), Cassette CD,
cell phone, satellite, download, video,
festival, quota, fonts, HIV, AIDS, virus, Ti Vi, USD, freezer, loa JBL, Internet,
trang Web, Website, WebCam, Games, Online, User ID, Reply, BCC (blind
carbon copy), e-mail, world cup, sky garden, Karaoke (phát sinh từ
Nhật nhưng người Mỹ đă đưa vào Việt Nam),
Product ...v.v.. ."


Bên dưới đây, một số những từ phổ thông Việt Nam được
tác giả thiết lập, có ảnh hưởng tiếng Anh kể cả một số ít danh từ quân sự
và tiếng lóng, thường được xử dụng:

A
AIDS : (Acquired Immune Deficiency Syndrome)
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, là giai
đoạn cuối của những người
nhiễm HIV
Album: Quyển Al-bum, tập ảnh
Alcohol : Ăn-côn (Pháp – Alcool) - Rượu, cồn
Automatic : Automatic (Pháp – Automatique) - Tự
động
Amplifier : Âm Ly – Máy khuếch đại
Audio : O-đi-ô (phần âm thanh)
B
B-40 : Quả đạn phóng lựu
B-52 : Pháo đài bay, bay thả bom ở độ cao
Baby : Bé by – Em bé
Ballet : Vũ Ba-lê (Pháp – Ballet)
Band : Băng đảng, nhóm, ban nhạc (Pháp – Bande)
Band-Aid : Ben ét - Băng cứu thương
Bank : Nhà Băng (Pháp – Banque)
Bar : Quán bán rượu, bán "bar"
Bass : Kèn bát
Bay : Bay –Vịnh (Cam Ranh Bay - Vịnh Cam Ranh)
BCC : Bi xi xi - Blind Carbon Copy
Beaucoup : Bô cu (nguyên thủy từ tiếng Pháp),
nhiều
Beer 33 : Một loại bia chai nhỏ (Pháp – Bière)
Bill : Bill
–Hóa đơn, quảng cáo
Billiards :
Tṛ chơi bi-da (Pháp – Billards)
Birthday : Bớt-đay - Sinh nhật
(Happy Birthday)
Biscuit :
Bánh bích-quy (Anh và Pháp như nhau)
Blouse : Áo
bờ lu (lao) – Áo choàng, áo jacket (Anh và
Pháp
viết như nhau)
Bomb : Bom nổ (Pháp – Bombe)
Boot : Giày bốt, giày cao cổ (Pháp – Botte hay
giày
"botte de saut")
Box : Bốc –
Môn quyền Anh (Pháp – Boxe)
Boxer : Bốc xơ – vơ sĩ quyền Anh (Pháp – Boxeur)
Buffet : Tủ bút phê, nhà hàng ăn buffet (Anh và Pháp
viết như nhau)
Building : Bin đing – Cao ốc, nhà nhiều tầng (Anh
và
Pháp viết giống nhau)
Bump : Bùm (tiếng kêu, nổ, va chạm)
Bus : Xe Buưt (Anh và Pháp – Autobus)
Nguyễn Văn Thành
Đầu tháng 9/2004
(c̣n tiếp)