P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
̉ A
Nguyễn Văn Thành
Phần 15:
Trong
phạm vi bài này, một số từ tiếng Anh đă xâm nhập vào ngôn ngữ Việt chúng
ta trong giai đoạn 3 được dẫn chứng trong câu chuyện kể lại sau đây:


D̉NG
ĐỜi .....
Lần
cuối tôi gặp chị Ngọc Anh, một nữ sinh lớp đệ nhị, tại đường Bến Cá,
Phường Củi Nha Trang vào năm 1967. Chị là người Ninh Ḥa, đă cùng gia đ́nh
theo ba vào Nha Trang từ lúc chị c̣n bé. Sau một vài câu chuyện hỏi thăm,
chị buồn buồn cho tôi biết chị và gia đ́nh sẽ phải theo ba chị di chuyển
một lần nữa nhưng xa hơn, vào tận Sài G̣n. Thấy chị rơi nước mắt, tôi cũng
không dằn được nỗi xúc động chúc chị can đảm và gặt nhiều may mắn trên
bước đường dong ruỗi nơi đô thành dập d́u xe cộ.
Tôi an ủi chị:
- Trời Phật rồi sẽ giúp ḿnh gặp lại, chị ạ!
Hai mươi sáu năm sau, tôi gặp lại chị trên đất Mỹ, mừng
mừng tôi ngạc nhiên hỏi:
- Quạ, chị Ngọc Anh ! Ngọn gió nào đă đưa chị và tôi gặp
nhau ở đây ?
Cả hai chúng tôi đều đă trên 40, lứa tuổi mà người Mỹ gọi
là tuổi bắt đầu "down hill" nhưng chị vẫn "ngộ" vẫn c̣n nét mặt của một nữ
sinh đệ nhị trường nữ Trung Học Nha Trang. Chị Ngọc Anh vẫn xinh xắn và
duyên dáng.
Chị chưa nhận ra tôi nên tôi vồn vă:
- Chị có phải là chị Ngọc Anh ở Ninh Quà (Ḥa) hông (không)
dị ?
Lâu hung rồi, tôi mới gặp lại chị hè !
Chị nh́n sửng mặt tôi, ngạc nhiên hỏi lại tôi bằng giọng
Ninh Ḥa pha lẫn chút ít tiếng Mỹ:
- Ừ hữ, sao anh biết?
Thấy chiếc Lexus mới "cắt chỉ" bên cạnh chị, tôi vụt miệng
trầm trồ:
- Chu ! chị có chiếc xe láng quá.
Chị chau mày:
- Th́ hai cái Visa và hai cái Master Card là mua được chứ
đâu có khó khăn ǵ, nhưng mà xe của nhà băng (bank) mà.
Tôi thao thao kể lại chuyện cũ cũng không ngoài mục đích
nhắc chị nhớ lại tôi. Lần này, tôi tưởng chị vui sau một vài câu chuyện
trao đổi qua bao năm xa cách nhưng chị lại khóc giữa chốn đông người qua
lại. Có lẽ chị có thêm chuyện ưu phiền nên tôi lo ngại và nẩy ư mời chị đi
dùng cơm trưa.
Tôi hỏi chị:
- Tôi mời chị đi nhà hàng ăn, chắc chị hổng từ chối ?.
- OKay, nhưng nhà hàng nào ? Chị nhanh miệng trả
lời.
- Chị có thích ăn Pizza, Hamburgers, nhà
hàng Mc Donald hay thích đi nhà hàng ăn
"bao bụng" kiểu Buffet ? Tôi hỏi tiếp.
Chị đồng ư nhận lời và đi cùng tôi đến nhà hàng Buffet của
Tàu. Thấy chị nhiều thay đổi, không c̣n là Ngọc Anh
của một thời hàn vi, mà Ngọc
Anh đang sang trọng trong chiếc xe Lexus lộng lẫy!
Tôi ṭ ṃ muốn biết câu chuyện nào đă làm chị xúc động đến
độ chị phải rơi nước mắt và hỏi thăm sức khỏe của ba má và các em của chị.
Tôi bật cái Zippo đốt điếu thuốc Salem gắn chặt trên môi, rồi rít một hơi
dài và lắng tai theo dơi câu chuyện.
Chị bắt đầu kể:
Gia đ́nh chị gồm 5 chị em: 4 gái và 1 trai.
Lần gặp Thành ở Nha Trang, sau đó gia đ́nh của chị thuyên chuyển về Sài
G̣n; ba má chị dành dụm một số tiền khiêm tốn và mua được một căn nhà nhỏ
ở Khánh Hội.
Bất hạnh thay, ba má của chị lần lượt qua đời trong ṿng chưa
đến 2 tháng. Ba của chị mất tích và má của chị mất tại nhà v́ tai nạn
chiến tranh. Quanh khu chị ở lửa cháy nghịt trời, có dây kẻm gai
Concertina giăng đầy khắp lối đi vào. Mấy chị em của chị đă may mắn thoát
chết nhưng rất thương tâm v́ rơi vào trong một hoàn cảnh vô cùng bi đát.
Với trách nhiệm nặng nề, người chị cả vừa được 18 tuổi đă
phải bỏ học, bắt đầu lăn lộn vào cuộc sống thay ba má để lo cho đàn em dại
tiếp tục việc học. Chị lúc đó có người yêu thuộc gia đ́nh lễ nghi nho giáo.
Anh ấy có kể cho chị nghe là gia đ́nh của ảnh di cư bằng tàu há mồm của Mỹ
vào Nam sinh sống và lập nghiệp. Ba má của ảnh không chấp thuận cho chị
tiến tới hôn nhân với anh ấy có lẽ họ ngại gia cảnh mồ côi mồ cút của chị.
Rồi thêm một lần tai nạn nữa xảy ra, cảnh bất hạnh lại đến cho 5 chị em
của chị, nhà cửa cháy hết không c̣n nơi nương tựa. Chị và các em đùm bọc
nhau sống trong trại tập trung, một thời gian cũng khá lâu. Cũng may "lá
lành đùm lá rách" nhờ có chị bạn làm sở Mỹ kêu gọi bạn bè cùng sở giúp đỡ,
xây lại được căn nhà cũ tươm tất hơn xưa. Chị bạn cũng vận động một số
người Mỹ tặng cho gia đ́nh chị một chiếc Ti Vi (TV-television), một chiếc
ra dô (radio), vài chiếc áo đi mưa Poncho, vài chiếc Jacket, vài cái quần
Jean đủ "sai" (size), một chiếc cassette và vài cuộn băng (band) nhạc
Rock’n’Roll, vài chiếc áo bờ-lu (blouse), vài bộ áo ngủ Pyjama, vài chục
lon (gallon) gạo, vài bao bọc plastic trong đó có thức ăn như xúp (soup),
thịt “ham”, có cả kẹo Chocolate, và Chewing gum nữa...
Gia đ́nh chị tạm yên ổn và chị bắt đầu bằng nghề may nhưng
với đồng lương thấp kém, 5 chị em mỗi bữa ăn chỉ có 4 trứng vịt luộc dầm
nước mắm tỏi ớt và bắp cải luộc và nước cải luộc làm canh. Cho đến một hôm,
có người bạn từ sở Mỹ ở Long B́nh, xuống thăm ḍ gia cảnh của chị và hỏi
chị có muốn làm việc giặt quần áo không ? Chị nhận lời làm việc tại căn cứ
Long B́nh và cũng chính nơi đây chị gặp ông xă của chị là một người Mỹ.
Chị kể đến đây, chị lại khóc. Tôi chưa nghe tiếp câu
chuyện nhưng cũng đoán phần nào tâm trạng buồn của chị. Tôi định hỏi chị
lư do có đúng như tôi tiên đoán nhưng chị lau nước mắt hẹn tôi lần sau chị
kể tiếp...
Tôi đưa chị số Phone của tôi và chị cũng vậy. Tôi tiễn chị ra xe và
dặn ḍ chị cố gắng "Take good care of yourself", cần Help, chị cứ điện
Phone cho tôi bất cứ lúc nào. Chị gật đầu quay đi. Tôi
nh́n theo chị đến khi chị "cua" xe khuất cái bing ding
(building) cao ngất nghểu...


Bên dưới đây,
thêm một số những từ phổ thông Việt Nam được
tác giả thiết lập, có ảnh hưởng tiếng Anh kể cả một số ít danh từ quân sự
và tiếng lóng, thường được xử dụng:

C
Cabin : Ca bin
Cable : Dây cáp
Calcium : Can xum
Cancel : Ken sồ - hủy bỏ
Cannon : Súng cà nông - Đại bác
Carbine : Súng bán tự động cạc bin
Carbon : Cac bon
Card : tấm cạc
Carrot : Cà rốt
Case : Ca (cas - tiếng Pháp) làm việc
Catalogue : Ca ta lô, danh mục, bảng liệt
kê
Catholic : Ca tô lích, đạo Thiên Chúa
CC: Carbon Copy - Thông báo
Cement : Xi măng
Centimeter : Cen ti mét
Charge : Chạc - tiền phải trả, tính tiền..
Anh "chạc" tôi
bao nhiêu tiền?
Chat : Chat - Chuyện phiếm, tán gẫu
Cherry : Xe ri – Trái xe-ri
Chewingum : kẹo Sinh-gum
Chinook: Loại trực thăng vận tải của Mỹ, CH-47
Chip: Tên gọi chung cho IC (integrated
Circuit)
Chocolate : Sô cô la
Christmas : Lễ Nô-En
CIA : C I A – Cơ quan T́nh Báo Trung Ương
(Central
Intelligence Agency)
Cigar : X́ gà
Cinéma : Xi-Nê
Classic : Nhạc classic
Club : Club - Hội, câu lạc bộ
Coffee : Cà Phê
Company : Côm ba ny – Công ty
Compass : Com pa - La bàn
Concertina : Rào kẻm gai quấn tṛn
Connex : Cô néc, thùng lờn bằng kim loại
có chiểu dài
mỗi cạnh khoảng gần 2 m được biến chế làm
nơi nhốt tù.
Contract : Công Tra
Copy : Cóp py
Cotton : Vải Cô-tông
Cowboy : Cao-Bồi
CPU : Bộ xử lư trung ương (Central Processing
Unit)
C-ration : Xi ra xông – Lương thực khô của Mỹ
Cream : Kem
Cup : Cúp
D
Data: Số liệu. dữ kiện
Decorate : đề co - Trang hoàng, trang
trí
Desktop Computer : Máy điện toán để bàn
Disk : Đít - Đĩa nhạc
Depart : Đề ba - Khởi hành
Doctor : Đốc Tơ - Bác sĩ, Tiến
sĩ
Dollar : Đô-La - Mỹ kim
DVD : Digital Video Disk – Đĩa h́nh
E
E-mail : i-meo - Thơ điện tử
Equip : ê kíp - trang bị
F
F-4: Máy bay phản lực dội bom (Phantom Jet fighter-
Bombers)
Fan : Fan hâm mộ
Fax : Phác - Fascimile - điện thơ
FBI : F- Bi-Ai – Văn pḥng điều tra Liên Bang
(Federal Bureau Investigation
Fiancée: Phi-ăn=xê - Vợ chưa cưới
Film : Phim
Flash : đèn Flash, đèn chụp h́nh
Free: tự do, miễn phí
Frequency : Tần số
FULRO: Mặt trận liên kết tranh đấu cho sự đàn áp của
các sắc tộc sống trên
những vùng cao nguyên
(United Front for the
Struggle of Opressed Races)
G
GI: Goverment Issue. Dịch vụ cho quân nhân Mỹ sau khi
giải
ngũ
Gabardin : Văi ga ba đin
Gallon : Ga lông - Từ "Lon" mà người Ninh-Ḥa
hay xử
dụng (lon gạo)
Game : Chơi Game, tṛ chơi
Garage : Ga-ra, nhà để xe
Gas : Gas, hơi khí
GIF : Graphics Interchange Format
Goal : Gôn - Khuôn thành môn đá banh
Golf: Môn thể thao Gôn
Guarantee : ga -răn -ti - Bảo đảm
Guide : Gai tour - Hướng dẫn
Guitar : đàn ghi ta
Guy : Gai - Anh chàng này, gă này.
Nguyễn Văn Thành
Đầu tháng 9/2004
(c̣n tiếp)