trang nhà www.ninh-hoa.com   |  thơ & truyện Nguyễn văn Thành


Nguyễn Văn Thành

cựu học sinh trung học Trần B́nh Trọng, niên khóa 1960-1964. Hiện cư ngụ tại Minnesota.
 


Truyện / Biên  Khảo


Ấy
Ngơ
Ninh Ḥa, Mùa Mưa
Giây Phút Mất Mẹ
Về Ninh Ḥa Ăn Tết
Hé, Hẻ, Hè, Hửng

Xóm Rượu - Quê Tôi

 Phần (1)   Phần (2)


Mức Thu Nhập Của
    Một Người Mỹ Gốc
    Việt Tại Hoa Kỳ
  

 

Phương Ngữ
     Ninh Ḥa


 Phần (1)     Phần (2)

 Phần (3)     Phần (4)

 Phần (5)     Phần (6)

 Phần (7)
    Phần (8)

 Phần (9)     Phần (10)

 Phần (11)   Phần (12)

 Phần (13)   Phần (14)

 Phần (15)   Phần (16)


 Phần (17)   Phần (18)

 Phần (19)   Phần (20)

 Phần (21) 
 Phần (22)

 Phần (23)   Phần (24)

 Phần (25)   Phần (26)
                   Kết Luận
                          
                          
Nguồn Gốc Văn Tự
        Việt Nam
  
                       
T́m Hiểu Các
    Ḍng Họ Chính
    Của Việt Nam

 Phần (1)   Phần (2)

 Phần (3)   Phần (4)

 Phần (5)   Phần (6)

 Phần (7)   Phần (8)

 Phần (9) 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ

Bẽ Bàng
Bỡ ngỡ
Đêm
Tôi Giă Biệt Ninh Ḥa
Nhớ Em
Ninh Ḥa
Xóm Rượu Có Nhớ Chăng?
Tuổi 16
Tạm Biệt Xóm Rượu


 

  

    P H Ư Ơ N G   N G Ữ   N I N H   H ̉ A

Nguyễn Văn Thành

Phần 16:
 

Trong phạm vi bài này, một số từ tiếng Anh đă xâm nhập vào ngôn ngữ Việt của chúng ta trong giai đoạn 3 được dẫn chứng trong câu chuyện kể lại sau đây:
 

                                
                                 


                           D̉NG  ĐỜi .....

(Tiếp theo)
 

B́nh minh Minnesota lúc vào Xuân thật mát mẻ, có những buổi sáng mặt trời cố gắng le lói mọc sau màn sương ẩm ướt. Các đám cỏ xanh đă vội vă vươn ḿnh trên mặt đất sau mùa đông băng giá. Trong cái không gian mát dịu, thơm ngát mùi cỏ non ấy, những khi tư tưởng về chị Ngọc Anh chợt đến trong tâm trí tôi, về những kỷ niệm cũ lúc c̣n ở quê nhà, và đặc biệt cuộc kỳ ngộ tuần trước giữa tôi và chị sau 26 năm xa cách. Tôi đă không ngờ gặp chị tại đây; “quả đất h́nh tṛn", quả thật chẳng sai chút nào cả chị Anh ạ.

Thế nhưng nước mắt của chị quấy rầy tôi măi trong suốt tuần qua, nên hôm nay tôi điện thoại mời chị đi nhà hàng nói chuyện và t́m hiểu thêm về chị.

Có tiếng chị trả lời bên kia đầu dây, tôi chào chị:
- Good morning, chị Ngọc Anh!. Chị dậy chưa "dị" ? Chị "phẻ hông" ?

Nghe giọng tôi, chị vui chào lại:
- Hi (Hello) Thành, Good morning! Chị "phẻ". Ụa, mấy giờ "rời" (rồi) ?

Tôi lắng tai nghe tiếng chị nên chưa kịp trả lời, chị tiếp:
- Từ hôm gặp Thành, bạn cùng quê nay gặp lại trong cùng một thành phố ở Mỹ, chị "dui" lắm.

Cảm thấy chị vui nên tôi cũng vui lây. Tôi chọc chị:
- Dạ, hơn "hầu" (hồi) năy một giờ. Nói đùa với chị chơi, chứ đă hơn 8 giờ "rử rầu" (rưởi rồi). Hôm nay tôi mời chị đi nhà hàng một lần nữa, mong chị nhận lời.

Nghĩ chị thích ăn thức ăn Mỹ nên tôi nói một tăng (temps) không ngớt:
- Lần này ăn bíp-tết (beefsteak), ham-bơ-gơ (hamburger) ăn “dứ lệ” mù-tạc (mustard), "phai" lang tây chiên "dứ" sốt (sauce) cà tô-mát (tomato ketchup) hay hót-đót (hot dog), xúc-xích (sausage) dứ bánh ḿ sandwich), xà-lách (salad)...

Chị suy nghĩ một hồi, lên tiếng:
- Chị bị Cholesterol cao nên cử ăn thịt đỏ, nhưng lâu ngày chị nhớ phở, thèm ăn “cuôm” lắm. Quán “cuôm” ở đâu “lựng” ?

Tôi đùa:
- Tôi "dứ" chị già cả "rầu" (rồi) nhưng chị c̣n cử ăn, “dị” (vậy) chị c̣n muốn giữ eo, phải hông ? Quán cuôm ở Phong Ấp gần nhà chị "hè".

Chị xen vào:
- Thành nói như nói thiệt "dị". Chị Wish! Già như ḿnh chắc cũng gần loại già "háp" "rời" (rồi) mà giữ eo giữ iếc làm ǵ nữa, gần xuống lỗ, sao "hổng" lo ?

Tôi khống chế:
- Mới có bốn "mư" (mươi) mí, ḿnh c̣n trẻ măng mà chị Anh. Chưa có già "khú đế” đâu. À, mà chị c̣n nhớ nhiều tiếng nói Ninh Ḥa ḿnh quá !

Chị giải thích:
- Mặc dù ông xă chị là người Mỹ nhưng tiếng Việt, nhứt là giọng địa phương Ninh Ḥa thật dễ thương là gia tài duy nhứt mà chị mang theo c̣n "quyên dẹn" (nguyên vẹn), Thành hè. giọng Ninh Ḥa của ḿnh cũng là món quốc bảo của ông bà cha mẹ để lại, chị không bao giờ quên được. Ngay cả hai đứa con của chị có cha Mỹ, sanh tại Mỹ mà cũng nói được tiếng Việt “dứ” chị đó.

Tôi thán phục chị đă khéo dạy tiếng Việt cho hai đứa con của chị. Tôi ngắt lời và nói chị sẵn sàng để tôi đến đón chị.

15 phút trôi qua, tôi có mặt ngay trước nhà của chị. Tuần trước, tôi đă vụt miệng trầm trộ chiếc xe Lexus của chị, nhưng không thể nào không công khai trước mặt chị khen ngôi nhà trắng (White house) của chị hôm nay. Chiếc xe Lexus của chị càng láng cón chừng nào, nhà của chị càng lộng lẫy chừng đó.

Trên xe, chị cười nhiều nên tôi lân la hỏi chị về gia cảnh của chị và lư do nào làm chị mủi ḷng rơi nước mắt như vậy. Tuy nhiên, chị vẫn không trả lời mà chỉ sơ lược chuyện buồn vui lẫn lộn của cuộc đời chị trong đó có chuyện đứa em trai của chị bỏ nhà ra đi sau năm 1971 và vừa gặp lại, một đứa em gái của chị đậu Tú Tài IBM (International Business Machines) năm 1974, một đứa em gái chết thảm và thương tâm hơn hết là ông xă của chị vừa mới qua đời v́ bệnh cang-xe (cancer), ung thư phổi.

 

* *
*

Năm ba má chị mất, chị đậu xong Tú Tài 1 nhưng đă phải nghỉ học, Thành ạ. V́ bốn đứa em của chị c̣n non dại và đang trong tuổi cắp sách đến trường, và v́ chị có trách nhiệm chăm sóc quán xuyến gia đ́nh sau khi ba má chị mất, chị đă không c̣n một chọn lựa nào khác nên chị nhận việc làm ở căn cứ Long B́nh. Những tuần lễ đầu, chị có phần hành giặt quần áo, giặt và trải ra (drap) giường và quấn áo tờ-re-di (treillis) của quân đội Mỹ.

Một hôm, chị t́m thấy trong túi quần của một đóng đồ bỏ giặt, một tờ 10 đô la (dollars) đỏ. Sau khi xét lại bảng tên thêu trên ngực áo, chị xác định tờ gấy bạc bỏ quên đó của ông Melvin A. Vốn bản tính thật thà và chất phác từ nhỏ nên chị cố giữ tờ giấy bạc này cho đến khi trả lại chủ nhân của nó, tuy nhiên chị có nhắn với người trưởng toán là chị muốn gặp ông ấy có chuyện cần.

Hai hôm sau, trong lúc chị đang giặt đồ, chị có nghe tiếng giày bốt-đờ-sô (Botte de saut) lộp bộp nện đều đặn trên nền nhà rồi biến hẳn. Giác quan của chị cho biết là có người đến t́m chị, quả thật trước cửa pḥng giặt là một người lính Mỹ đứng đó nh́n chị. Chị chỉ kịp nh́n phớt bảng tên ông ta, rồi như một người máy, chị trả lại tờ giấy 10 đô-la trong tay ông mà chẳng đủ can đảm nói một lời. Chị có cảm tưởng như khó khăn lắm ông Meo (Melvin) mới hiểu được chị lượm được 10 đô-la và có ư muốn trả lại. Thấy tŕnh độ Anh ngữ của chị không đủ để diễn đạt, ông đưa ngón tay cái làm dấu (thumb up) và nói:

- Năm-bơ quanh (number one) !

Chị cũng nói trả lại một câu vừa tiếp thu của chị bạn:

- Nô-x́-quẹt (No sweat) !

Ông cười đờ-mi (demi), đắm đuối nh́n chị như thầm cám ơn chị và nói "bai" (bye) chị.

Từ đó, ông Meo thường xuyên hỏi người trưởng toán (group leader) để biết thêm gia cảnh của chị. Ông nhờ người lái xe GMC (General Motor Company) hoặc xe Jeep mang đến tận nhà tiếp tế cho gia đ́nh chị thực phẩm nào là cốc-tay (cocktail), phó mát (fromage, cheese), bơ (butter, beurre), thịt ḅ hầm stew, ham, có khi vài bao ny-lông (nylon) quần áo may-ô (maillot), sơ-mi (chemise), áo đầm (dame), quần sọt (short) ... Không cần nói, hàng xóm của chị để ư thấy người ngoại quốc lui tới, họ dị nghị v́ trong nhà có những bốn chị em gái độc thân và một em trai mồ côi cha mẹ.

Ông vẫn lặng lẽ giúp đỡ gia đ́nh chị và không đ̣i hỏi ǵ ở chị cả. Thời gian trôi qua, chị dần dần cảm kích tấm ḷng hảo tâm của ông ấy, nên chị làm những thức ăn thuần túy Việt Nam cho những bữa ăn trưa của ông....

Kể đến đây, chị sửng nh́n đồng hồ:
- Oh, my God, đă quá 11 giờ. Chị phải "d́a" nhà (go home) lên tiệm Neo "Nail" có hẹn.

Chị dành trả tiền nhưng tôi đă khéo léo thanh toán từ khi vào trong tiệm. Chị móc bóp lấy 3 đô-la bỏ trên bàn cho tiền típ (tip) và hẹn gặp tôi vào tuần tới.

- Have a nice weekend to you ! Chị quen miệng chúc tôi như tuần trước.

Tôi lái xe ra khỏi con đường vô nhà chị, rồi quay đầu lại nh́n.  Chị vẫn c̣n đứng đó, vẫy tay chào tôi:
- I will see you back here next week!

Thấy chị vui, tôi mỉm cười an tâm lái xe đi thẳng...

(C̣n tiếp)

                                        
                                       

Bên dưới đây, thêm một số những từ phổ thông Việt Nam được tác giả thiết lập, có ảnh hưởng tiếng Anh kể cả một số ít danh từ quân sự và tiếng lóng, thường được xử dụng:

 

 

H

Hardware = Phần cứng

Hello, Hi = Hê-Lô, Hai, Chào

Honda = Hon-đa

Holland = Nước Hà Lan

Hotel = Hô-ten
 

I

Info = In-phô (viết tắc chữ Information) Thông tin

Internet = Internet

 

J

Jacket : Áo rắc két – Áo veste

Jean = Quần Jean

Joy stick = Cây cần điều khiển

 

K

Karaoke = Ka-ra-ô-kê

Keyboard = Bàn phím

Kilogram = Ki-lô-gam

 

L

Laser Printer
: Máy In Laser

Linen = Vải lai nen, lanh

Logic = Lô-gích

London = Luân Đôn

Lot sold = Lạc- son (Chữ Pháp: à la solde): Đồ Lạc son

 

M

Maximum = Mát-xi-mum

Mad = Mát, điên

MC = Em Xi - Master of Ceremony

Meeting = Mít ting

Menu = Mơ-nu - Thực đơn

Microphone = Mi-crô (MIC)

MIDI: Music Instrument Digital Interface

Minimum = Mi ni mum

Mode = Mốt

Model = Mô-đen

Monitor: Màn h́nh

Mouse: Mao - Con chuột

Mouseline = Mút-sơ-lin

Motherboard = Mo-thơ-bo

Motor = Ô-tô, động cơ mô-tô

MP = Em-Pi- Quân cảnh Mỹ (Military Police)

MS-DOS: = Microsoft Disk Operating System

Mustard = Mù-tạt

Nylon = Ny-lon

 

N

Nail : Neo – Nghề làm móng tay

Napalm: Na-pan - Bom nhiên liệu

Navy Blue = Ne vi bờ lu – Màu xanh hải quân

Network = Mạng lưới

Nickname = Nickname

No sweat = Nâu sờ quẹt - Không sao cả, dễ, đơn giản.

Number one = Năm bờ oan - Tốt

Number ten = Năm bờ ten - Xấu

Number ten thousand = Năm bờ ten thao-dàn –
                                   Quá xấu
 

L

Latin = Người La Tinh

 

O

Organ = Đàn Or-gan

Origin = Ô-ri-gin, nguồn, nguyên thủy

Opera = Ô-Pê-ra

 

 

Nguyễn Văn Thành
Giữa tháng 9/2004
(c̣n tiếp)