P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
̉ A
Nguyễn Văn Thành
Phần 16:
Trong
phạm vi bài này, một số từ tiếng Anh đă xâm nhập vào ngôn ngữ Việt
của chúng
ta trong giai đoạn 3 được dẫn chứng trong câu chuyện kể lại sau đây:


D̉NG
ĐỜi .....
(Tiếp theo)
B́nh
minh Minnesota lúc vào Xuân thật mát mẻ, có những buổi sáng mặt trời cố
gắng le lói mọc sau màn sương ẩm ướt. Các đám cỏ xanh đă vội vă vươn ḿnh
trên mặt đất sau mùa đông băng giá. Trong cái không gian mát dịu, thơm
ngát mùi cỏ non ấy, những khi tư tưởng về chị Ngọc Anh chợt đến trong tâm
trí tôi, về những kỷ niệm cũ lúc c̣n ở quê nhà, và đặc biệt cuộc kỳ ngộ
tuần trước giữa tôi và chị sau 26 năm xa cách. Tôi đă không ngờ gặp chị
tại đây; “quả đất h́nh tṛn", quả thật chẳng sai chút nào cả chị Anh ạ.
Thế nhưng nước mắt của chị quấy rầy tôi măi trong suốt tuần qua,
nên hôm nay tôi điện thoại mời chị đi nhà hàng nói chuyện và t́m hiểu thêm về chị.
Có tiếng chị trả lời bên kia đầu dây, tôi chào chị:
-
Good morning, chị Ngọc Anh!. Chị dậy chưa "dị" ? Chị "phẻ hông" ?
Nghe giọng tôi, chị vui chào lại:
-
Hi (Hello) Thành, Good morning! Chị "phẻ". Ụa, mấy giờ "rời" (rồi) ?
Tôi lắng tai nghe tiếng chị nên chưa kịp trả lời, chị tiếp:
-
Từ hôm gặp Thành, bạn cùng quê nay gặp lại trong cùng một thành phố
ở Mỹ, chị
"dui" lắm.
Cảm thấy chị vui nên tôi cũng vui lây. Tôi chọc chị:
-
Dạ, hơn "hầu" (hồi) năy một giờ. Nói đùa với chị chơi, chứ đă hơn 8 giờ "rử
rầu" (rưởi rồi). Hôm nay tôi mời chị đi nhà hàng một lần nữa, mong chị
nhận lời.
Nghĩ chị thích ăn thức ăn Mỹ nên tôi nói một tăng
(temps) không ngớt:
-
Lần này ăn bíp-tết (beefsteak), ham-bơ-gơ (hamburger) ăn “dứ lệ” mù-tạc
(mustard), "phai" lang tây chiên "dứ" sốt (sauce) cà tô-mát (tomato
ketchup) hay hót-đót (hot dog), xúc-xích (sausage) dứ bánh ḿ sandwich),
xà-lách (salad)...
Chị suy nghĩ một hồi, lên tiếng:
-
Chị bị Cholesterol cao nên cử ăn thịt đỏ, nhưng lâu ngày chị nhớ phở, thèm
ăn “cuôm” lắm. Quán “cuôm” ở đâu “lựng” ?
Tôi đùa:
-
Tôi "dứ" chị già cả "rầu" (rồi) nhưng chị c̣n cử ăn, “dị” (vậy) chị c̣n
muốn giữ eo, phải hông ? Quán cuôm ở Phong Ấp gần nhà chị "hè".
Chị xen vào:
-
Thành nói như nói thiệt "dị". Chị Wish! Già như ḿnh chắc cũng gần loại già "háp" "rời"
(rồi) mà giữ eo giữ iếc làm ǵ nữa, gần xuống lỗ, sao "hổng" lo ?
Tôi khống chế:
-
Mới có bốn "mư" (mươi) mí, ḿnh c̣n trẻ măng mà chị Anh. Chưa có già "khú
đế” đâu. À, mà chị c̣n nhớ nhiều tiếng nói Ninh Ḥa ḿnh quá !
Chị giải thích:
-
Mặc dù ông xă chị là người Mỹ nhưng tiếng Việt, nhứt là giọng địa phương
Ninh Ḥa thật dễ thương là gia tài duy nhứt mà chị mang theo c̣n "quyên
dẹn" (nguyên vẹn), Thành hè. giọng Ninh Ḥa của ḿnh cũng là món quốc bảo của ông
bà cha mẹ để lại, chị không bao giờ quên được. Ngay cả hai đứa con của chị
có cha Mỹ, sanh tại Mỹ mà cũng nói được tiếng Việt “dứ” chị đó.
Tôi thán phục chị đă khéo dạy tiếng Việt cho hai đứa
con của chị. Tôi ngắt lời và nói chị sẵn sàng để tôi đến đón chị.
15 phút trôi qua, tôi có mặt ngay trước nhà của chị.
Tuần trước, tôi đă vụt miệng trầm trộ chiếc xe Lexus của chị, nhưng không thể nào
không công khai trước mặt chị khen ngôi nhà trắng
(White house) của chị hôm nay. Chiếc xe Lexus
của chị càng láng cón chừng nào, nhà của chị càng lộng lẫy chừng đó.
Trên
xe, chị cười nhiều nên tôi lân la hỏi chị về gia cảnh của chị và lư do nào
làm chị mủi ḷng rơi nước mắt như vậy. Tuy nhiên, chị vẫn không trả lời mà
chỉ sơ lược chuyện buồn vui lẫn lộn của cuộc đời chị trong đó có chuyện
đứa em trai của chị bỏ nhà ra đi sau năm 1971 và vừa gặp lại, một đứa em
gái của chị đậu Tú Tài IBM (International Business Machines) năm 1974, một
đứa em gái chết thảm và thương tâm hơn hết là ông xă của chị vừa mới qua
đời v́ bệnh cang-xe (cancer), ung thư phổi.
* *
*
Năm ba má chị mất,
chị đậu xong Tú Tài 1 nhưng đă phải nghỉ học, Thành ạ. V́ bốn đứa em của
chị c̣n non dại và đang trong tuổi cắp sách đến trường, và v́ chị có trách
nhiệm chăm sóc quán xuyến gia đ́nh sau khi ba má chị mất, chị đă không c̣n
một chọn lựa nào khác nên chị nhận việc làm ở căn cứ Long B́nh. Những tuần
lễ đầu, chị có phần hành giặt quần áo, giặt và trải ra (drap) giường và
quấn áo tờ-re-di (treillis) của quân đội Mỹ.
Một hôm, chị t́m thấy trong túi quần của một đóng đồ bỏ
giặt, một tờ 10 đô la (dollars) đỏ. Sau khi xét lại bảng tên thêu trên
ngực áo, chị xác định tờ gấy bạc bỏ quên đó của ông Melvin A. Vốn bản tính
thật thà và chất phác từ nhỏ nên chị cố giữ tờ giấy bạc này cho đến khi
trả lại chủ nhân của nó, tuy nhiên chị có nhắn với người trưởng toán là
chị muốn gặp ông ấy có chuyện cần.
Hai hôm sau, trong lúc chị đang giặt đồ, chị có nghe
tiếng giày bốt-đờ-sô (Botte de saut) lộp bộp nện đều đặn trên nền nhà rồi
biến hẳn. Giác quan của chị cho biết là có người đến t́m chị, quả thật
trước cửa pḥng giặt là một người lính Mỹ đứng đó nh́n chị. Chị chỉ kịp
nh́n phớt bảng tên ông ta, rồi như một người máy, chị trả lại tờ giấy 10
đô-la trong tay ông mà chẳng đủ can đảm nói một lời. Chị có cảm tưởng như
khó khăn lắm ông Meo (Melvin) mới hiểu được chị lượm được 10 đô-la và có ư
muốn trả lại. Thấy tŕnh độ Anh ngữ của chị không đủ để diễn đạt, ông đưa
ngón tay cái làm dấu (thumb up) và nói:
- Năm-bơ quanh (number one) !
Chị cũng nói trả lại một câu vừa tiếp thu của chị bạn:
- Nô-x́-quẹt (No sweat) !
Ông cười đờ-mi (demi),
đắm đuối nh́n chị như thầm cám ơn
chị và nói "bai" (bye) chị.
Từ đó, ông Meo
thường xuyên hỏi người trưởng toán (group leader) để
biết thêm gia cảnh của chị. Ông nhờ người lái xe GMC (General Motor
Company) hoặc xe Jeep mang đến tận nhà tiếp tế cho gia đ́nh chị thực phẩm
nào là cốc-tay (cocktail), phó mát (fromage, cheese), bơ (butter, beurre),
thịt ḅ hầm stew, ham, có khi vài bao ny-lông (nylon) quần áo
may-ô (maillot), sơ-mi (chemise), áo đầm (dame), quần sọt (short) ... Không
cần nói, hàng xóm của chị để ư thấy người ngoại quốc lui tới, họ dị nghị
v́ trong nhà có những bốn chị em gái độc thân
và một em trai mồ côi cha mẹ.
Ông vẫn lặng lẽ giúp đỡ gia đ́nh chị và không đ̣i hỏi
ǵ ở chị cả. Thời gian trôi qua, chị dần dần cảm kích tấm ḷng hảo tâm của
ông ấy, nên chị làm những thức ăn thuần túy Việt Nam cho những bữa ăn
trưa của ông....
Kể đến đây, chị sửng nh́n đồng hồ:
- Oh, my God, đă quá 11 giờ. Chị phải "d́a" nhà
(go home) lên tiệm Neo "Nail" có hẹn.
Chị dành trả tiền nhưng tôi đă khéo léo thanh toán từ khi vào trong tiệm.
Chị móc bóp lấy 3 đô-la bỏ trên bàn cho tiền típ (tip) và hẹn gặp tôi vào
tuần tới.
- Have a nice weekend to you ! Chị quen miệng chúc tôi
như tuần trước.
Tôi lái xe ra khỏi con đường vô nhà chị, rồi quay đầu lại nh́n.
Chị vẫn c̣n đứng đó, vẫy tay chào tôi:
- I will see you back here next week!
Thấy chị vui, tôi mỉm cười an tâm lái xe đi thẳng...
(C̣n tiếp)


Bên dưới đây,
thêm một số những từ phổ thông Việt Nam được
tác giả thiết lập, có ảnh hưởng tiếng Anh kể cả một số ít danh từ quân sự
và tiếng lóng, thường được xử dụng:

H
Hardware = Phần cứng
Hello, Hi = Hê-Lô, Hai, Chào
Honda = Hon-đa
Holland = Nước Hà Lan
Hotel = Hô-ten
I
Info = In-phô (viết tắc chữ Information) Thông
tin
Internet = Internet
J
Jacket : Áo rắc két – Áo veste
Jean = Quần Jean
Joy stick = Cây cần điều khiển
K
Karaoke = Ka-ra-ô-kê
Keyboard = Bàn phím
Kilogram = Ki-lô-gam
L
Laser Printer: Máy In Laser
Linen = Vải lai nen, lanh
Logic = Lô-gích
London = Luân Đôn
Lot sold = Lạc- son (Chữ Pháp: à la solde): Đồ
Lạc son
M
Maximum = Mát-xi-mum
Mad = Mát, điên
MC = Em Xi - Master of Ceremony
Meeting = Mít ting
Menu = Mơ-nu - Thực đơn
Microphone = Mi-crô (MIC)
MIDI: Music Instrument Digital Interface
Minimum = Mi ni mum
Mode = Mốt
Model = Mô-đen
Monitor: Màn h́nh
Mouse: Mao - Con chuột
Mouseline = Mút-sơ-lin
Motherboard = Mo-thơ-bo
Motor = Ô-tô, động cơ mô-tô
MP = Em-Pi- Quân cảnh Mỹ (Military Police)
MS-DOS: = Microsoft Disk Operating System
Mustard = Mù-tạt
Nylon = Ny-lon
N
Nail : Neo – Nghề làm móng tay
Napalm: Na-pan - Bom nhiên liệu
Navy Blue = Ne vi bờ lu – Màu xanh hải quân
Network = Mạng lưới
Nickname = Nickname
No sweat = Nâu sờ quẹt - Không sao cả, dễ, đơn
giản.
Number one = Năm bờ oan - Tốt
Number ten = Năm bờ ten - Xấu
Number ten thousand = Năm bờ ten thao-dàn –
Quá
xấu
L
Latin = Người La Tinh
O
Organ = Đàn Or-gan
Origin = Ô-ri-gin, nguồn, nguyên thủy
Opera = Ô-Pê-ra
Nguyễn Văn Thành
Giữa tháng 9/2004
(c̣n tiếp)