|
|
P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
Ò A
Nguyễn Văn Thành
Phần 17:
Trong
phạm vi bài này, một số từ tiếng Anh lẫn Pháp đã xâm nhập vào ngôn ngữ Việt
của chúng
ta được dẫn chứng trong câu chuyện kể lại sau đây:


DÒNG
ĐỜi .....
(Tiếp theo)
C ó
tiếng chuông điện thoại reo lên...reo vang giục giã, tôi chẳng bắt máy vì
cho là những người gọi quảng cáo. Tiếng chuông vẫn reo, tôi bực mình lẩm
bẩm:
- "Mới có 9 giờ sáng chủ nhật mà ai đã réo máy ? ".
Chợt nghĩ đến chị Ngọc Anh: “Chắc chị ấy gọi ? “, tôi
nhấc máy:
- Quạ, chị Anh. Good morning! Chị "phẻ" hông? Chắc có "chiện" chuyện quan
trọng lắm?
Giọng của chị nghe bộ hớn hở, văng vẳng bên kia đầu dây:
- Trời còn sớm bửng nên Thành còn ngủ phải hông? Cho chị xin lỗi, "sorry"
nha ! Sở dĩ chị gọi Thành sớm là vì chị hổng muốn Thành ăn sáng để mời
Thành qua nhà chị thưởng thức món đặc sản quê hương chị làm.
Tôi chưa kịp trả lời, chị tiếp:
- Sáng nay, Thành có rảnh hông dị ? Chạy u qua nhà chị đi.
- Nghe chị "dui" tôi cũng "dui" theo. Có gì lạ hông chị ?
- Hông, lại chơi thơi (thôi), sẵn chị đổ bánh ướt ăn.
Tôi mau miệng ừ nhanh:
- Gì chớ ăn bánh ướt quê mình là số "dách",
là "number one".
Quýnh (đánh) răng chưa kỹ, tôi đã quăng cái bót (brosse)
đánh răng vào trong cái ca (quart) đựng nước, xỏ lẹ cái áo sơ mi (chemise)
quần Jean, xong chạy ra ga-ra (garage) đề máy xe (démarrer), một đẩu (đổi)
sau tôi có mặt tại nhà chị Ngọc Anh. Có lẽ chị đã nhìn qua cửa sổ, sẵn
sàng chờ tôi nên chị đã bước nhanh ra cửa cái, đi ra ngoài đón tôi.
Thấy tay tôi khệ nệ rinh một két Coca-Cola lon
(gallon), chị trách:
- Xách làm chi mà "dữ dằn" dị, qua thăm chị là quý rời (rồi) !
Tôi đùa vui với chị:
- Tôi có cái tật đi đâu cũng xách cái cặp-táp (cartable) hết, lúc thì két
(caisse) bia (bière – beer), lúc thì két
"7 Up", hổng muốn đi đến nhà ai "dứ" hai bàn tay không.
C hị
mời tôi ngồi trên bộ sô-pha (sofa), trong khi chị đi pha cà phê (café -
coffee). Ðảo mắt nhìn quanh phòng khách, tôi thầm khen chị chưng dọn đẹp
mắt quá. Một bình bông lay-ơn (glaïeul) trong tủ búp-phê (buffet), một cái
máy vi tính (computer) loại để bàn (desktop), một màn ảnh 18 inh (18 inch
monitor), một con chuột (mouse) và gồm nhiều CD (compact disk) khác loại
chất chồng hai bên máy. Bên cạnh lại còn có cái vi tính loại để đùi
(Laptop) nữa. Chính giữa phòng khách là trung tâm giải trí (entertainment
center) gồm một Ti-Vi (TV) lớn, một DVD, một
đầu VCR, một vài cuộn băng video
tape và cassette, VCD, VHS, một giàn âm-ly (amplifier) có hai cái loa JBL, một mít-xơ
(mixer), hai mai-cờ-rô (micro – microphone - mike) và có cả máy Karaoke
nữa.
Chị trở lại ghế salon, nơi tôi ngồi với quyển An-Bum
(Album - tập hình) dày cui và một tách (tasse) cà phê nóng hổi. Tôi đứng
dậy đỡ cuốn Album nặng trịch trong tay của chị và nói:
- Lần cuối tại Nha Trang tôi gặp chị năm 1967, thời
gian qua lẹ và có nhiều đổi thay quá, nhất là chị đó !
Tưởng rằng tôi lỡ nhắc chuyện quá khứ của chị nhưng chị đã
dở quyển Album và lật từng trang chỉ tôi:
- Ðây là hình ông xã của chị đội nón bê-rê (Beret) xanh
đứng bên cạnh cái ba-rắc (barrack) lúc ông ấy còn làm việc tại cơ quan Mác-Vi
(MACV – Military Assistance Command Vietnam) trước khi ông đổi về căn cứ
Long Bình.
Chị chỉ tiếp:
- Còn đây là một sê-ri (series) hình đám cưới của chị. Chỉ tiếc ba má
của chị đã không có phước phần với con cái.
Chị ứa nước mắt chỉ từng người em của chị trong tập
Album.
Tôi giả lã:
- Hình đẹp quá chị hè !
Và đánh trống lãng:
- À mà chị Anh, chị có liên lạc dứ các em của chị hông dị?
Mắt chị đỏ hoe ướm lệ, chị nói trong nước mắt:
- Ðứa em gái út của chị chết, một đứa em trai duy nhất
bỏ nhà đi sau năm 1971, còn hai đứa em gái, một đứa đang học ESL (English
as a Second Language) để chuẩn bị thi TOEFL ( Test
of English as a Foreign Language) và FCE (First Certificate in English).
Mấy đứa nó có i-meo (e-mail - điện thơ) cho chị thường lắm. Tuần nào mấy đứa con của chị
cũng lên máy Chát (Chat) với dì của chúng nó.
Nhìn hình trong cuốn Album, tôi thắc mắc:
- Ụa, ông nào mặc áo màu xanh Hải quân Ne-Vi Bờ-lu (Navy blue)
đội mũ ca-lô (calot) dị chị, đứng
trước Headquarter (Bộ Chỉ Huy, Tổng Hành Dinh) chụp trong hình.
- Ông xã chị đó, chắc khi chụp thiếu đèn "Flash" hay
tại phim (Film) dở "quặc" máy ca-me-ra (camera - máy hình) dổm nên
hình bị tối nhìn không ra.
Chị đưa tay chỉ một tấm hình khác:
- Ðây là tấm hình hai vợ chồng chị hưởng tuần trăng mật (honey moon) tại
một Rì-Sọt (Resort) ở Vũng Tàu trong thời gian nhằm ngày lễ Tình Yêu
(Valentine) nên rất dễ nhớ.
Tôi hỏi chị:
- Bộ ông xã chị, chắc giỏi
tiếng Việt
lắm ?
Chị giải thích:
- Hồi mới cưới, ổng chỉ biết vài ba câu học lóm, ví dụ
như: “dinky dau” (điên cái đầu), “dee dee mile” (đi đi mau), nói ngọng
ngọng nghe “thắc cừ ” lắm. Mãi sau này, chị chỉ
ổng tiếng Việt nhiều.
Nhắc đến chuyện quá khứ nên chị không dằn lòng được nỗi
xúc động, tuy nhiên chị cố gắng kể tiếp tôi nghe câu chuyện dang dở tuần
trước.
* *
*
H oàn
cảnh đưa đẩy tạo cho chị mang nặng trong người mặc cảm mồ côi, gia đình
nghèo túng, em đông, làm sở Mỹ, và từng bị tình phụ bạc nên hơn 3 năm làm
sở Mỹ chị không dám mơ tưởng là có anh chàng Việt Nam nào khác yêu mình.
Cho dù có ai đó thương yêu chị đi chăng nữa nhưng chị không thể nào che
dấu sự thật nên khó có thể sống hạnh phúc một khi gia đình của họ biết dĩ
vãng của đời chị. Những tháng ngày trôi qua, chị cầu Trời khẩn Phật, đêm
đến đợi mấy đứa em của chị ngon giấc, chị lặng lẽ đến bên bàn thờ ba má
của chị, đốt nhang van vái linh hồn ba má rồi
chi khóc hết nước mắt. Ngày
nghỉ làm, nhà vắng vẻ sau khi mấy đứa em đi học, chị đi ra tận nghĩa địa,
trước mộ bia của ba má chị, và chị khóc gào thảm thiết, cũng mong linh hồn
người chết linh thiêng phò hộ cho chị...
Chị chỉ ao ước có người nào đó giúp chị bảo bọc mấy đứa
em đang đi học và chị có cuộc sống thoải mái hơn mà không phải xả thân con
gái đi làm, nhất là làm ở sở Mỹ mà hầu hết mọi người thời ấy nhìn vào chị
đều đánh giá xấu. Vì trách nhiệm thay ba má lo cho đàn em nhỏ dại, thậm
chí những chuyện không đẹp mà chị không dám nghĩ tới để các em không phải
nhịn đói.
M ột
ngày đẹp trời, ông Meo tới nhà chị mang theo một món quà nhỏ bọc trong bao
plastic và một bọc giấy trong đó có một bánh kem sinh nhật "Happy
Birthday" cho Ngọc Anh mà chính chị cũng không ngờ.
Ông nhắc chị mở quà trong khi ông cổ động mấy đứa em
của chị cùng
ông hát bài và vỗ tay kêu bốp bốp (pop):
Happy birthday to Anh,
Happy birthday to you,
Happy birthday to Anh !...
Chị thật cảm động nhìn sửng mấy đứa em và ổng.
Ðồng lúc, ông tặng chị một sợi giây chuyền dài xuống
ngực, đeo hợp với áo dài trông rất đẹp. Kể từ buổi ấy, tình cảm hai bên
đến lúc đậm đà nhưng ông Meo vẫn chưa đề cập đến chuyện cưới chị, có lẽ do
bản tính trầm lặng của ổng.
Vài tháng sau, một món quà khác nữa là chiếc đồng hồ
Seiko mà ông đã mua trong PX (Post Exchange) tặng chị trong dịp Christmas.
Chị và ổng cả hai thương thầm nhớ trộm cho đến một ngày đầu năm 1971, chị
rất vui mừng khi ông ta tỏ ý thương chị và xin cưới chị.
Chị có hỏi ổng có bạn gái (girl friend) hay phi-ăng-xê
(fiancée - vợ chưa cưới) ở bên Mỹ chưa ?
Ông ta nói với chị rằng ông cũng đã có "girl friend"
nhưng vì phải đi công tác ở Việt Nam nên cô ta đã bỏ ông. Và chị cũng
thành thật kể ông nghe đời tư của chị rằng chị cũng từng có chồng nhưng
không chính thức vì bị chê là con mồ côi nghèo túng. Ông vui vẻ chấp nhận
và cho chị thời gian một tháng suy nghĩ kỹ để trả lời.
M ột
tháng trôi qua, chị đã đổi ca (cas – case) làm đêm để có thời giờ gặp gỡ
ông nhiều hơn. Ông tìm đến chị để nhờ chị giải đáp:
- Chỉ "Yes" hay "No", ngắn gọn không "May be"! Ông nói
với chị như vậy.
Chị gật đầu bằng lòng, và mở miệng nói: Yes, vì đó là
chuyện chị mong chờ hơn năm qua ở nơi ông, hơn nữa ông chỉ còn một tháng
phục vụ tại Việt Nam, và ông phải trở về Mỹ sau đó. Chị thấy ông nở nụ
cười tươi trên mặt rồi ông đi gia hạn thêm 6 tháng phục vụ để lo thủ tục
giấy tờ và làm đám cưới.
Thế là đám cưới được diễn ra và mơ ước từ lâu của chị
là được mặc chiếc áo cưới với lễ rước dâu và tiệc tùng
nay trở thành sự thật. Tiệc cưới đãi tại
nhà hàng (restaurant) Caravelle tại Sài Gòn, một MC (master of ceremony) người Mỹ đại
diện ông Meo (Melvin) và một MC Việt Nam là người bạn thân
nhất của chị cũng người Ninh Hòa, đại diện Ngọc Anh, và lễ rước dâu sẽ được
thực hiện bằng xe "limousine" từ nhà chị tới nhà hàng, theo như sự đòi hỏi
của chị. Có ban nhạc sống "live show" và ca sĩ "đi show" từ Phi Luật Tân
hát và nhảy Twist theo tiếng đờn Organ, Guitar, Piano, kèn Clarinet...
Chị kể đến đây, chị nghẹn lời. Tôi nhìn thấy sự xúc
động mãnh liệt của chị vì sự mất mác quá lớn lao trong đời chị: ba má, đứa
em gái, và gần đây ông xã của chị nhưng bù lại chị đoàn tụ với người em trai của
chị theo chân đoàn người di tản nay đã tốt nghiệp Ðại Học tại Mỹ sau nhiều
năm bôn ba bụi đời trước những căn cứ Mỹ xin thuốc lá
(OK ! Salem) bán kiếm tiền nuôi thân.... Chị đã không
ngờ !
Tôi an ủi chị:
- Những gì đã qua, chị có thể sắp xếp cho chúng một chỗ
nào đó trong trí nhớ của chị và từ từ kể lại. Về những ngày xưa đó, với ít
nhiều kỷ niệm vui buồn đã đến rồi đi, đã qua trong đời chị, hoàn cảnh đất
nước, thăng trầm thế sự, dưới bờ vực thẳm. Những gì đã qua, chị có thể dễ
dàng đặt bút viết một hơi trong hồi tưởng tuôn trào của ký ức. Tôi biết
chị còn nhiều chuyện và cần nhiều thời gian để kể hết cho tôi nghe về "Dòng
Ðời....".
Mong chị vui để sống!


Bên dưới đây,
thêm một số những từ phổ thông Việt Nam được
tác giả thiết lập, có ảnh hưởng tiếng Anh kể cả một số ít danh từ quân sự
và tiếng lóng, thường được xử dụng:

P
Party = Bạt-ty
Piano = Pi-a-nô
Pilot = Bi Lót – Phi công
Ping Pong = Ping Pong
Photo = Phô-tô
Photocopy = Pho-tô-cóp-py
Poncho = Bông sô – Áo choàng hoặc áo mưa có khoét
lỗ
để chui đầu ra.
Pop = Bốp - Tiếng kêu tiếng nổ
Popeye = Bó Bai – Phim hí họa về chàng thủy thủ
Port = Bọt - Cửa khẩu
P.X. = Post Exchange - trạm bán hàng cho quân đội
Mỹ
Q
Quart = Ca (uống nước)
R
Radio = Ra-đi-ô
Resort = Rì-Sọt
Round : Rao – Vòng quanh tới phiên, tua theo vòng
tròn,
hiệp
S
Salad = Xà lách
Salon = Bộ ghế Sa long
Sandal = Giầy Săn-đan
Sandwich = Bánh mì săn wích
Satan = Quỷ Xa tăng
Satin = Quần xa tanh
Sauce = Nước sốt
Scandal = Xì-căn-đan
Second-hand = Sê-cân-hen
Series = Sê-ri - một chuổi, một loạt, một lô
Service = Sẹc-vít
Sex = Sex
Show = Sô trình diễn, đi "show"
Signal = Xít-nô
Soda = Nước xô-đa
Sofa = Ghế xô pha
Software = Phần mềm
Solo = Sô lô một mình
Sound card = Thẻ âm thanh
Soup = Xúp
Sport = Xì bo
Stop = Stop
Sure = Sua, chắc chắn
SVGA = Super-VGA
T
Tank = Xe tăng
Taxi = Tắc xi
Telephone = Tê-lê-phôn
Television = Ti-vi
Tennis = Ten-nít
Ticket = Tích-kê
TOEFL =
Test of English as a Foreign Language
Toilet = Toa-lét
Tomato = Cà-tô-mát
Tom and Jerry = Tôm & De-ry - Phim hí họa mèo và
chuột
Top ten = Tốp ten - Mười người cao điểm nhất
Tube = Ống Tube
Tulip = Hoa Tu-Líp
Twist = Nhảy Tuýt
V
Valentine = Va-Lăn-Tai - Lễ Tình Yêu
Vaseline = Va-sơ-lin
Vest = Áo Vét
VGA = Video Graphic Adaptor
Video = Video - Ảnh
Virus = Vi-rút – Siêu vi khuẩn
Volume = Vô-liêm
W
Web = Trang Web
Weekend = Cuối tuần
Window = Cửa sổ màn hình
Word Processor software = Nhu liệu xử lý văn bản
X
X-ray = Tia quang tuyến X
Z
Zippo = Díp bô - Quẹt máy hiệu Zippo
Nguyễn Văn Thành
Trung tuần tháng 9/2004
(còn tiếp)
|