Tiếng Hán đă ảnh hưởng sâu đậm vào
ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta, có thể nói trên 60 % từ gốc Hán
hay c̣n gọi là
từ Hán Việt. Một số ít tiếng Hán cũng ảnh hưởng phương ngữ Ninh
Ḥa trong phạm vi tên gọi, các thức ăn, hoặc các dịch vụ buôn bán hàng
ngày của người Hoa sống quanh chợ Dinh với khách hàng của họ.
Ta thử t́m hiểu sơ lược lịch sử xâm nhập
của tiếng Hán trong tiếng Việt của chúng ta.


Nước ta bị lệ thuộc vào Trung Hoa
khoảng 1000 năm sau khi nhà Triệu bị Trung Hoa xâm chiếm. Sau đời vua cuối
cùng của nhà Triệu là Triệu Việt Vương, nước Nam Việt gồm có Việt Nam,
vùng Quảng Đông, và Quảng Tây bên Tàu, tuy nhiên nước Nam Việt vẫn độc lập
với nước Tàu.
Triệu Đà được kể là vua Việt Nam mặc dầu ông là một tướng lănh của nhà Tần.
Tiếng Hán đă xâm nhập vào Việt Nam từ đời vua Triệu Đà và tiếp theo đó cả
một ngh́n năm lệ thuộc vào Trung Hoa kể từ khi Triệu Đà bị thất trận và
cho tới khi Ngô Quyền lên ngôi vua năm 939.
Từ lúc lập quốc đời Hùng Vương (18 đời vua)
đến nhà Triệu gồm có 3 họ vua: họ Hồng Bàng, họ Thục và họ Triệu, nước ta
độc lập gần 2800 năm. Đến đời vua Triệu Việt Vương, nước ta bị Trung Hoa
chiếm năm 111 trước Tây Lịch và độc lập hoàn toàn đời vua Ngô Quyền năm
939. Trong 1000 năm bị Trung Hoa lệ thuộc, nước ta cũng có thời gian độc
lập ngắn hạn như đời bà Trưng 3 năm, bà Triệu 6 tháng và nhà Tiền Lư gần
100 năm; như vậy trong khoảng 1000 năm lệ thuộc th́ có khoảng
gần 100 năm
độc lập.
Kể từ đời vua Ngô Quyền, nước ta độc lập
nhưng chữ Hán vẫn được dùng trong các chiếu chỉ của vua và tờ tŕnh của
các quan. Mặc dầu vậy, dân ta vẫn không nói tiếng Trung Hoa, các chữ của
Tàu được ta đọc theo âm Việt Nam và người Tàu không hiểu. Tuy mượn văn tự
của Tàu nhưng không mượn ngôn ngữ của họ, cho nên nước ta không bị đồng
hóa với Tàu. Công lao to tát đó là do các nhà Nho Việt Nam hoàn toàn sáng
chế ra cách đọc khác hẳn tiếng Tàu.
Văn tự hành chánh và học chánh dùng toàn
chữ Hán (Chữ Nho chính là Chữ Hán được dùng để truyền bá đạo Nho của Khổng
Tử) và tiếp tục được dùng cho đến năm 1917 và bị băi bỏ trong các kỳ thi
v́ lúc đó thực dân Pháp cai trị dân ta dùng hoàn toàn chữ Pháp và chữ Quốc
Ngữ trong các công văn, báo chí, ngay cả tiểu thuyết... Các giao dịch với
thực dân Pháp th́ dùng tiếng Pháp, c̣n chữ Quốc Ngữ dùng cho các văn sĩ,
báo chí và của các quan tri phủ cho dân chúng.
Chữ Hán được dùng trong ngôn ngữ Việt Nam,
tuy nhiên, tiếng Hán được hoàn toàn Việt hóa thí dụ quan chức trong triều
từ Nhất Phẩm đến Cửu Phẩm. các Bộ Trưởng trong triều gọi là Thượng Thư,
Thủ Tướng th́ gọi là Tể Tướng. Người đứng đầu quốc gia là Tổng Thống.
Hiện nay, người đứng đầu một cơ quan
gọi là Thủ Trưởng, người làm việc văn nghệ như ca sĩ, các nghệ nhân múa
th́ đuợc gọi văn công, người đứng đầu của đảng được gọi là bí thư. Đứng
đầu tỉnh bí thư tỉnh, đứng đầu đảng của huyện gọi là bí thư huyện, đứng
đầu đảng của xă là bí thư xă...
Chữ Nôm:
Việt
Nam bị Trung Hoa cai trị khoảng chừng gần 1000 năm kể từ năm 111 trước
Thiên Chúa Giáng Sinh (BC) tới năm 938 sau Tây Lịch. V́ vậy chữ Hán thường
được dùng trong các mệnh lệnh của các thái thú và các quan lại thời đó.
Chữ Nôm mượn từ chữ Hán biến thể để tiện dùng cho người Việt, là chữ của
người phía Nam để phân biệt chữ Hán ở phía Bắc. Chữ Nôm là văn tự b́nh dân,
là Quốc Âm được dùng trong khoảng 10 thế kỷ ghi lại lịch sử văn hóa của
dân tộc Việt Nam.
Không ai biết chính xác lúc nào chữ
Nôm được phát minh nhưng khoảng thế kỷ thứ 8, chữ Nôm đă được dùng v́ có
ghi tên: Bố Cái Đại Vương trong lịch sử nước ta. Vào khoảng thế kỷ
thứ 10 sau Thiên Chúa, ta đă dùng chữ Nôm, điển h́nh:
Bảng chữ Nôm ở trong chùa Bảo An huyện
Yên Lăng tỉnh Vĩnh Phú đề năm 1209 thời nhà Lư nước ta.
Sau đó đến đời nhà Trần thế kỷ thứ
13, chữ Nôm được dùng có hệ thống trong Văn Chương Việt Nam, chẳng hạn:
Các bài thơ của Nguyễn Thuyên thế kỷ thứ
14, Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trăi thế kỷ thứ 15 và Hồ Quư Ly thế kỷ thứ
14. Họ Hồ có công dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm và trong các chiếu chỉ
đều dùng chữ Nôm. Ngoài ra, Hồ Quư Ly c̣n ra lệnh dùng chữ Nôm trong các
kỳ thi. Đến đời nhà Tây Sơn, Vua Quang Trung cũng cho dùng chữ Nôm trong
suốt 14 năm 1788 đến 1802 trong các văn bản chính thức, các chiếu chỉ, đặc
biệt dùng chữ Nôm trong tất cả các đề thi.
Ta cũng
nên kể những câu ca dao tục ngữ, câu đố, chuyện kể...., những áng văn của
nước ta đều bằng chữ Nôm như truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) của
Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung Oán Ngâm Khúc, truyện
Nôm như Lục Vân TIên, Nhị Độ Mai....và các bài văn của bà Huyện Thanh Quan,
Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương....
Về văn chương chữ Nôm, vài bài thơ của Trần Tế Xương (nghề dạy học cũa ông bấp bênh trong
thời kỳ suy tàn xuống dốc của Nho Học, tác phẩm của ông để lại gồm nhiều
thể loại - thơ, câu đối, ...; phần lớn bằng chữ Nôm)
là những thí dụ điển h́nh:
Cái Học Nhà Nho:
Cái học nhà Nho đă hỏng rồi,
Mười người đi học, chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhỏm ngồi.
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi.
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ ?
Tŕnh có quan tiên thứ chỉ tôi.
Cái chữ Nho
Nào có ra ǵ cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co.
Sao bằng đi học làm thầy Phán ?
Tối rượu sâm banh, sáng sữa ḅ.