Chữ Hán được phổ biến tại nước ta như thế nào?
Đầu tiên, sau khi
Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc (tên nước Việt Nam lúc đó), rồi sáp nhập
với một phần đất Quảng Đông và Quảng Tây lập nên nước Nam Việt, hoàn toàn
không phụ thuộc vào Trung Hoa. (Hiện nay ở Quảng Đông có di
tích của các vua họ Triệu v́ rằng Phiên Ngung là kinh đô của nước Nam Việt
thuộc tỉnh Quảng Đông). Nhiều người Việt Nam khi đi du lịch Trung Hoa đă
đến thăm đền thờ của các vua Triệu (vua nước Nam Việt ta) tại Quảng Châu
Loan tỉnh Quảng Đông, đă thấy tận mắt các xác ướp của các vua nhà Triệu
với kỹ thuật rất cao khác hẵn với kỹ thuật hiện tại. Điều này chứng tỏ nền
văn minh của khoa ướp xác của nước Nam Việt ta thời đó.
V́ Triệu Đà là một vị tướng của nhà Tần và
lúc đó nước ta chưa có chữ viết chánh thức nào cả cho nên Triệu Đà đă dùng
chữ Hán trong việc cai trị và tiếp tục cho đến lúc nước ta độc lập dưới
thời Ngô Quyền, nhà vua vẫn dùng chữ Hán.
Kể từ đó, chữ Hán càng ngày càng được phổ
biến trong những người cộng tác với nhà Triệu như các quan triều đ́nh hoặc
các quan địa phương. Điểm quan trọng là tuy học và viết chữ Hán nhưng các
nhà trí thức của ta đă mượn chữ Hán làm giàu tiếng Việt, không chịu nói
tiếng Tàu, họ đọc theo lối Việt hầu tránh cho việc bị đồng hóa với người
Tàu.
Ngoài việc dùng chữ Hán để chuyển mệnh lệnh của vua đến các quan địa
phương, các vị trí thức này, ta gọi là nhà Nho, đọc lịch sử và thơ văn của
Trung Hoa và cũng theo cách đó làm văn thơ bằng chữ Hán, một nền tảng cho
chữ Nôm sau này.
Ngoài các vị quan trong triều, các vị tăng sĩ v́ nhu cầu
t́m hiểu Phật Giáo cho nên đă cố công đọc các Kinh Phật được mang từ Trung
Hoa vào Việt Nam.
C̣n một ít các văn sĩ Việt Nam có thể dùng chữ Hán để
viết văn hoặc ghi gia phả, cụ thể là khi nhà Trần chiếm được ngôi của nhà
Lư, đă lập mưu giật sập chết rất nhiều các thân thích của vua triều Lư,
do đó có một nhóm tướng sĩ thuộc nhà Lư không chịu dưới quyền nhà Trần v́
sợ bị tiêu diệt cho nên đă dùng tàu vượt biển sang tỵ nạn tại Cao Ly (Hàn
Quốc) năm 1226. Vị tướng lănh cầm đầu đạo quân này chính là Hoàng tử Lư
Long Tường con của vua Lư Anh Tông. Cũng nên nhắc lại, vị tướng này của ta
đă giúp nước Cao Ly tổ chức đánh thắng quân Mông Cổ năm 1253. Về sau, một
ḍng dơi của nhà Lư là nguyên Tổng Thống Lư Thừa Văn đă từng sang Việt Nam
để nghiên cứu nguồn gốc tổ tiên của ḿnh.
Để tuyển lựa những người làm quan, các vua
đời Lư, đời Trần, đời Lê v.v.. đă mở các khoa thi chọn nhân tài bổ nhiệm
vào các chức quan của triều đ́nh và địa phương. Việc tuyển lựa các đề tài cho
đề thi nhắm vào mục tiêu phục vụ cho chế độ vương quyền,
nên những đề tài thường ra được trích trong lịch sử, mới đầu ở Trung Hoa
rồi đến Việt Nam, cốt sao làm sáng tỏ chính nghĩa của nhà vua và đề cao
những người trung thành với nước với vua và thường trích trong Tứ Thư
và Ngũ Kinh cho các kỳ thi Hương, Hội, Đ́nh trong các triều vua
Việt Nam. Những sách này cốt dạy văn chương, thi phú và cách đối xử trong
xă hội thế nào cho phải đạo gồm những căn bản: yêu tổ quốc, trung thành
với vua, đối xử thuận ḥa trong đạo vợ chồng, anh em và có hiếu với cha mẹ.
Tứ Thư: gồm 4 quyển sách lớn: Đại học, Trung
dung, Luận ngữ, Mạnh Tử.
Ngũ Kinh: gồm
có: Thi, Thư, Dịch, Lễ Kư, Xuân Thu. Liệt kê lịch sử các đời vua của Tàu,
trong đó có chính sách cai trị và kinh nghiệm cai trị của dân và vua.
Nhưng trước khi học Tứ Thư và Ngũ Kinh, một
số vốn căn bản tối thiểu Hán Văn cần phải có. Số vốn này
được cung cấp bởi
Tam Tự Kinh, đó là quyển sách dạy chữ Hán
đầu tiên có khoảng 3000
chữ và mỗi câu có 3 chữ.
Ta có thể trích 10 câu nhập môn của Tam
Tự Kinh để t́m hiểu và giải thích vài câu điển h́nh có ư nghĩa như sau:
Nhân chi sơ :
Người mới sinh ra đời
Tánh bổn thiện:
Tánh vốn lành
Tánh tương cận:
Tập gần nhau - Tánh sống chung ḥa b́nh với người khác, với cộng đồng....
Tập tương viễn:
Tập xa nhau.
Ấu bất học:
Lăo hà vi :
Trẻ không học già làm ǵ.
Chờ già mới đi học th́ đă trễ, cho dù là
học nghề, mới mong trở thành người hữu dụng. Già đi học chỉ thỏa măn trí óc
và t́m ṭi của ḿnh mà thôi chứ không hành được nữa, về hưu th́
đâu c̣n góp phần ǵ cho xă hội được nữa.
Ngọc bất trác:
Bất thành khí:
Ḥn ngọc gốc từ đá mà ra, nếu không đẽo
gọt, th́ không thành vật quư giá.
Nhân bất bọc:
Bất tri lư:
Không học ắt không hiểu lư lẽ và lẽ phải đối xử
ở đời, với gia đ́nh, và xă hội.
C̣n vô số câu không nằm trong Tam Tự Kinh,
chẳng hạn:
Tiên học lễ:
Hậu học văn:
Phải học cách đối xử với mọi người
trước hết cho hợp
với
đạo đức, thí dụ đối xử kính trọng người già, ba má, thầy
cô giáo và người
xung quanh. Đó là cách xă giao quan trọng tối cần trước khi đề cập đến văn
chương và chữ nghĩa.
Nếu chỉ biết việc học thôi mà không biết
đối xử với mọi người, khinh rẽ cha ông hoặc người xung quanh th́ chỉ có
tài mà vô hạnh, kém đạo đức.
Ta cũng cần kể một áng văn bằng chữ Hán của
một vị Đại Tướng Việt Nam, Lư Thường Kiệt như sau đây:

Lư Thường Kiệt:
Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
Bốn câu thơ trên mượn chữ Hán nhưng
khi chuyển âm hoàn toàn bằng tiếng Việt làm cho người Tàu nghe không hiểu.
Bài thơ này được xem như là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử
dân tộc xuất hiện năm 1077 giữa lúc Lư Thường
Kiệt phá quân Tống.
Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư:
Nước Việt Nam th́ vua Việt Nam ở
Tiệt Nhiên Định Phận Tại Thiên thư :
Điều này đă được sách của Thượng Đế định
sẵn
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
Tại sao lại chống mệnh Trời xâm lăng nước
tôi.
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
Nếu chống mệnh Trời chỉ bị bại mà thôi.
Nguyễn Văn Thành
Đầu tháng 10/2004
(c̣n tiếp)