trang nhà www.ninh-hoa.com   |  thơ & truyện Nguyễn văn Thành


Nguyễn Văn Thành

cựu học sinh trung học Trần B́nh Trọng, niên khóa 1960-1964. Hiện cư ngụ tại Minnesota.
 


Truyện / Biên  Khảo


Ấy
Ngơ
Ninh Ḥa, Mùa Mưa
Giây Phút Mất Mẹ
Về Ninh Ḥa Ăn Tết
Hé, Hẻ, Hè, Hửng

Xóm Rượu - Quê Tôi

 Phần (1)   Phần (2)


Mức Thu Nhập Của
    Một Người Mỹ Gốc
    Việt Tại Hoa Kỳ
  

 

Phương Ngữ
     Ninh Ḥa


 Phần (1)     Phần (2)

 Phần (3)     Phần (4)

 Phần (5)     Phần (6)

 Phần (7)
    Phần (8)

 Phần (9)     Phần (10)

 Phần (11)   Phần (12)

 Phần (13)   Phần (14)

 Phần (15)   Phần (16)


 Phần (17)   Phần (18)

 Phần (19)   Phần (20)

 Phần (21) 
 Phần (22)

 Phần (23)   Phần (24)

 Phần (25)   Phần (26)
                   Kết Luận
                          
                          
Nguồn Gốc Văn Tự
        Việt Nam
  
                       
T́m Hiểu Các
    Ḍng Họ Chính
    Của Việt Nam

 Phần (1)   Phần (2)

 Phần (3)   Phần (4)

 Phần (5)   Phần (6)

 Phần (7)   Phần (8)

 Phần (9) 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ

Bẽ Bàng
Bỡ ngỡ
Đêm
Tôi Giă Biệt Ninh Ḥa
Nhớ Em
Ninh Ḥa
Xóm Rượu Có Nhớ Chăng?
Tuổi 16
Tạm Biệt Xóm Rượu


 

  

    P H Ư Ơ N G   N G Ữ   N I N H   H ̉ A

Nguyễn Văn Thành

Phần 19:
 

Chữ Hán được phổ biến tại nước ta như thế nào?

Đầu tiên, sau khi Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc (tên nước Việt Nam lúc đó), rồi sáp nhập với một phần đất Quảng Đông và Quảng Tây lập nên nước Nam Việt, hoàn toàn không phụ thuộc vào Trung Hoa. (Hiện nay ở Quảng Đông có di tích của các vua họ Triệu v́ rằng Phiên Ngung là kinh đô của nước Nam Việt thuộc tỉnh Quảng Đông). Nhiều người Việt Nam khi đi du lịch Trung Hoa đă đến thăm đền thờ của các vua Triệu (vua nước Nam Việt ta) tại Quảng Châu Loan tỉnh Quảng Đông, đă thấy tận mắt các xác ướp của các vua nhà Triệu với kỹ thuật rất cao khác hẵn với kỹ thuật hiện tại. Điều này chứng tỏ nền văn minh của khoa ướp xác của nước Nam Việt ta thời đó.

V́ Triệu Đà là một vị tướng của nhà Tần và lúc đó nước ta chưa có chữ viết chánh thức nào cả cho nên Triệu Đà đă dùng chữ Hán trong việc cai trị và tiếp tục cho đến lúc nước ta độc lập dưới thời Ngô Quyền, nhà vua vẫn dùng chữ Hán.

Kể từ đó, chữ Hán càng ngày càng được phổ biến trong những người cộng tác với nhà Triệu như các quan triều đ́nh hoặc các quan địa phương. Điểm quan trọng là tuy học và viết chữ Hán nhưng các nhà trí thức của ta đă mượn chữ Hán làm giàu tiếng Việt, không chịu nói tiếng Tàu, họ đọc theo lối Việt hầu tránh cho việc bị đồng hóa với người Tàu.

Ngoài việc dùng chữ Hán để chuyển mệnh lệnh của vua đến các quan địa phương, các vị trí thức này, ta gọi là nhà Nho, đọc lịch sử và thơ văn của Trung Hoa và cũng theo cách đó làm văn thơ bằng chữ Hán, một nền tảng cho chữ Nôm sau này.

Ngoài các vị quan trong triều, các vị tăng sĩ v́ nhu cầu t́m hiểu Phật Giáo cho nên đă cố công đọc các Kinh Phật được mang từ Trung Hoa vào Việt Nam.

C̣n một ít các văn sĩ Việt Nam có thể dùng chữ Hán để viết văn hoặc ghi gia phả, cụ thể là khi nhà Trần chiếm được ngôi của nhà Lư, đă lập mưu giật sập chết rất nhiều các thân thích của vua triều Lư, do đó có một nhóm tướng sĩ thuộc nhà Lư không chịu dưới quyền nhà Trần v́ sợ bị tiêu diệt cho nên đă dùng tàu vượt biển sang tỵ nạn tại Cao Ly (Hàn Quốc) năm 1226. Vị tướng lănh cầm đầu đạo quân này chính là Hoàng tử Lư Long Tường con của vua Lư Anh Tông. Cũng nên nhắc lại, vị tướng này của ta đă giúp nước Cao Ly tổ chức đánh thắng quân Mông Cổ năm 1253. Về sau, một ḍng dơi của nhà Lư là nguyên Tổng Thống Lư Thừa Văn đă từng sang Việt Nam để nghiên cứu nguồn gốc tổ tiên của ḿnh.

Để tuyển lựa những người làm quan, các vua đời Lư, đời Trần, đời Lê v.v.. đă mở các khoa thi chọn nhân tài bổ nhiệm vào các chức quan của triều đ́nh và địa phương. Việc tuyển lựa các đề tài cho đề thi nhắm vào mục tiêu phục vụ cho chế độ vương quyền, nên những đề tài thường ra được trích trong lịch sử, mới đầu ở Trung Hoa rồi đến Việt Nam, cốt sao làm sáng tỏ chính nghĩa của nhà vua và đề cao những người trung thành với nước với vua và thường trích trong Tứ ThưNgũ Kinh cho các kỳ thi Hương, Hội, Đ́nh trong các triều vua Việt Nam. Những sách này cốt dạy văn chương, thi phú và cách đối xử trong xă hội thế nào cho phải đạo gồm những căn bản: yêu tổ quốc, trung thành với vua, đối xử thuận ḥa trong đạo vợ chồng, anh em và có hiếu với cha mẹ.


Tứ Thư
: gồm 4 quyển sách lớn: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử.

Ngũ Kinh: gồm có: Thi, Thư, Dịch, Lễ Kư, Xuân Thu. Liệt kê lịch sử các đời vua của Tàu, trong đó có chính sách cai trị và kinh nghiệm cai trị của dân và vua.
 

Nhưng trước khi học Tứ Thư và Ngũ Kinh, một số vốn căn bản tối thiểu  Hán Văn cần phải có. Số vốn này được cung cấp bởi Tam Tự Kinh, đó là quyển sách dạy chữ Hán đầu tiên có khoảng 3000 chữ và mỗi câu có 3 chữ.

Ta có thể trích 10 câu nhập môn của Tam Tự Kinh để t́m hiểu và giải thích vài câu điển h́nh có ư nghĩa như sau:

Nhân chi sơ :
Người mới sinh ra đời

Tánh bổn thiện:
Tánh vốn lành

Tánh tương cận:
Tập gần nhau - Tánh sống chung ḥa b́nh với người khác, với cộng đồng....

Tập tương viễn:
Tập xa nhau.

Ấu bất học:
Lăo hà vi :
Trẻ không học già làm ǵ.

Chờ già mới đi học th́ đă trễ, cho dù là học nghề, mới mong trở thành người hữu dụng. Già đi học chỉ thỏa măn trí óc và t́m ṭi của ḿnh mà thôi chứ không hành được nữa, về hưu th́ đâu c̣n góp phần ǵ cho xă hội được nữa.

Ngọc bất trác:
Bất thành khí:
Ḥn ngọc gốc từ đá mà ra, nếu không đẽo gọt, th́ không thành vật quư giá.

Nhân bất bọc:
Bất tri lư:
Không học ắt không hiểu lư lẽ và lẽ phải đối xử ở đời, với gia đ́nh, và xă hội.

C̣n vô số câu không nằm trong Tam Tự Kinh, chẳng hạn:

Tiên học lễ:
Hậu học văn:
Phải học cách đối xử với mọi người trước hết cho hợp với đạo đức, thí dụ đối xử kính trọng người già, ba má, thầy cô giáo và người xung quanh. Đó là cách xă giao quan trọng tối cần trước khi đề cập đến văn chương và chữ nghĩa.

Nếu chỉ biết việc học thôi mà không biết đối xử với mọi người, khinh rẽ cha ông hoặc người xung quanh th́ chỉ có tài mà vô hạnh, kém đạo đức.

Ta cũng cần kể một áng văn bằng chữ Hán của một vị Đại Tướng Việt Nam, Lư Thường Kiệt như sau đây:
 


 

Lư Thường Kiệt:

Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

Bốn câu thơ trên mượn chữ Hán nhưng khi chuyển âm hoàn toàn bằng tiếng Việt làm cho người Tàu nghe không hiểu. Bài thơ này được xem như là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc xuất hiện năm 1077 giữa lúc Lư Thường Kiệt phá quân Tống.

Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư:
Nước Việt Nam th́ vua Việt Nam ở

Tiệt Nhiên Định Phận Tại Thiên thư :
Điều này đă được sách của Thượng Đế định sẵn

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
Tại sao lại chống mệnh Trời xâm lăng nước tôi.

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
Nếu chống mệnh Trời chỉ bị bại mà thôi.


 

Nguyễn Văn Thành
Đầu tháng 10/2004
(c̣n tiếp)