P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
̉ A
Nguyễn Văn Thành
Phần 21:
Ảnh hưởng tiếng nói của các sắc dân thiểu số:
Nh́n lại lịch sử, ta thấy giống
dân Việt Nam chúng ta bị lai giống nhiều v́ những yếu tố sau:
(1) Quân Tàu xâm lược Việt Nam đă để lại binh sĩ và các
quan lính của họ. Một số những người này đă lập gia đ́nh với phụ nữ địa
phương trong quá tŕnh 1000 năm đô hộ.
(2) Sau cuộc Nam Tiến do chúa Nguyễn lănh đạo, dân tộc
Việt Nam đă tiếp xúc và lai giống với người Chiêm Thành (Chàm, Chăm, Hời),
người Mă Lai, người Nam Dương (Indonesia), người Khmer (Cambodia). Ngoài
ra, người Việt Nam cũng c̣n lai giống với các đồng bào thiểu số khác.
(3) Ngoài sự ảnh hưởng bởi tiếng nói của nhiều sắc dân
thiểu số, ta c̣n bị ảnh hưởng bởi tiếng Pháp trong suốt hơn 80 năm nước ta
bị nuớc này đô hộ.
(4) Ngày nay tiếng Anh, càng ngày càng xâm nhập mạnh mẽ
vào tiếng Việt như đă được tŕnh bày trong những loạt bài Phương Ngữ Ninh
Ḥa trước.
Tại
Việt Nam, có khoảng 54 sắc tộc khác nhau gồm: Mường (Mol), Thái trắng,
Thái đen, Mèo (Hmong), Nùng, Dao, Tày, Rhadé (Êđê, Đê), Gia
Rai (Djarai), Chiêm Thành (Chàm, Hời), Lô Lô, Khmer (Cam Bốt), v.v.... Các
giống dân này sống với nhau trong cùng một dải đất và v́ đa số người sống
ở vùng đồng bằng, thường gọi là người Kinh (v́ sống gần Kinh Đô) khi tiếp
xúc với nhau hàng ngày, đương nhiên ngôn ngữ Việt Nam cũng pha trộn ít
nhiều ngôn ngữ của các thổ dân khác sống trên cùng dải đất ấy.
Vậy ta có thể nói rằng người Việt Nam không
hoàn toàn đồng chủng, nhưng tất cả mọi giống dân khác hoặc là nguyên chủng
hoặc là lai chủng, đều đă bị người Việt Nam đồng hóa và họ có cùng những phong
tục tập quán y hệt như người Việt Nam.
Trước
kia có nhiều giống dân ở hải đảo như Mă Lai (từ "áo bà ba" phát xuất từ
người BaBa trên đảo Pinang thuộc Mă Lai) lên sinh sống tại miền Trung cho
đến khi chúa Nguyễn chiếm xong nước Chiêm Thành th́ một số người lại quay
về cố hương của họ, nhưng số ở lại đều bị đồng hóa với dân tộc Việt Nam.
V́ vậy ở miền Trung, trong số những sắc dân hiện diện, một số là giống Mă
Lai, một phần giống Chàm, một phần là Việt Nam và một thiểu số khác ở vùng
cao mà ta thường gọi là đồng bào Thượng, người Ninh Ḥa gọi là người Đê
sinh sống trong những buôn quanh Dục Mỹ và Khánh Dương.
Người Việt chúng ta vốn xưa kia
lập nghiệp tại những miền đồng bằng dọc theo sông Hồng miền Bắc rồi từ từ
tiến vào miền Trung và miền Nam. Tiếng nói (dialect) của miền Bắc là chuẩn,
c̣n ở miền Trung chính là tiếng nói miền Bắc được pha trộn với các giống
dân khác cho nên đă thay đổi, thậm chí c̣n dùng những danh từ mà người
miền Bắc không hiểu. Thí dụ:
Nhiều
chữ Huế đă phát xuất từ chữ Chàm như: Tê (The), Rứa (Roh), Ni (Ni), Ấy
(Ay) ...
Phương ngữ miền Trung phát ra thanh âm mà những người ở những vùng khác
khó nhận ra và hiểu thấu.
Người
Ninh Ḥa gọi người Chàm là người Hời. Chữ Hời biến âm từ chữ Hroi, đó là
tên của một bộ lạc sơn cước sống trên những vùng rừng núi phía Tây B́nh
Định (phía Bắc Ninh Ḥa). Người Hời có nhiều mồ mả rải rác ở Ninh Ḥa
trước kia mà người Ninh Ḥa quen gọi là mả Hời.
Vào đến miền Nam v́ có sắc dân
Khmer và Minh Hương (người Tàu), dân ta đă cố gắng nói tiếng Việt nhưng
cũng không đúng như là giọng thật sự của đồng bào Việt Nam tại sông Hồng.
Thí dụ:
đi về (giọng Bắc)
đi d́a (giọng Ninh
Ḥa)
đi dề (giọng Nam)
mặc dầu văn tự cả nuớc đều viết là “đi về”.
Nói
chung, nhiều đồng bào Việt Nam khắp 3 miền nói tiếng Việt không đúng.
Tuy là chuẩn nhưng miền Bắc phát
âm hay sai khúc đầu (?), chẳng hạn:
Ông Trời th́ gọi là ông Giời, ông Chời
Màu trắng th́ phát âm như màu chắng
Con trâu đọc thành con châu
Thể rắn (hóa học) th́ phát âm thành thể dắn,
v.v...
Trong khi người miền Trung thường sai khúc giữa (?),
như những thí dụ cụ thể:
Thêm
Thiêm
Chính
Chánh
Trọn
Troạn
Nói dối
Noái dấu, v.v...
Trong sự giao tiếp hàng ngày:
Người Bắc: Mời ăn cơm, mời dùng cơm
Người Nam: Mời cầm đũa (lịch sự),
mời đớp (bạn bè thân mật)
Người Bắc gọi "Tiệc rượu" trong khi người Nam gọi là "Nhậu",
v.v...
Và
v́ vậy giọng miền Trung nói chung, phương ngữ Ninh Ḥa nói riêng không
hoàn toàn giống như tiếng miền Bắc v́ đă lai với các sắc dân kể trên. Nói
một cách khác, tiếng Việt đều có pha trộn một vài tiếng thổ âm của các sắc
dân thiểu số.
Trong các sắc dân, người Mường (Mol) có cùng tổ tiên
với người Việt nghĩa là những ai c̣n ở trên vùng cao được gọi là người
Mường, người nào đến đồng bằng là người Kinh. Và v́ vậy ngôn ngữ của người
Mường rất gần ngôn ngữ của người Kinh.
Tuy nhiên, tất cả những đồng bào
thiểu số đều có ngôn ngữ riêng nhưng họ không có văn tự cho nên bây giờ chữ
quốc ngữ coi như là chữ chung của toàn thể các sắc dân sinh sống tại Việt
Nam.
Nguyễn Văn Thành
Giữa tháng 11/2004
(c̣n tiếp)