P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
̉ A
Nguyễn Văn Thành
Phần 23:
Bảo Tồn Sự trong sáng
của Tiếng Việt:
Mông Cổ
**
lập nên nhà Nguyên cai trị Trung Nguyên tức là Trung Quốc ngày nay nhưng
rồi lại bị dân người gốc Hán đồng hóa trở lại.
Dân Măn
Châu chiếm Trung Quốc lập nên nhà Thanh nhưng nay cũng bị đồng hóa và sáp
nhập vào Trung Quốc.
Năm 1950,
Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng khiến đức Đạt Lai Đạt Ma phải lưu vong tới
Ấn Độ và sau đó tiếng Tây Tạng cũng dần dần bị thay thế bằng tiếng Quan
Thoại tức là tiếng Phổ Thông.
Ngày nay, toàn thể nhân dân Trung Quốc nói tiếng này kể cả Đài Loan (chỉ
trừ Quảng Đông và Hồng Kông, cả hai nói tiếng Quảng), tuy nhiên chữ viết
hoàn toàn giống nhau.
Ấn Độ,
Phi Luật Tân và Pakistan v́ quá trọng dụng tiếng Anh cho nên các thổ ngữ
của họ cũng bị mai một.
Tiếng Anh đă độc chiếm trong các địa hạt hành chánh, kỹ thuật, thương mại
và giáo dục của tất cả các nước đó; kết quả làm cho các tiếng của người
bản xứ không phát triển được và như vậy ngôn ngữ riêng của họ dần dần bị
tiêu diệt hoàn toàn.
Vậy
ta hăy nh́n gương các nước kể trên mà cố gắng bảo tồn sự trong sáng của
tiếng Việt. Hăy dùng tiếng Việt thay thế các tiếng nước ngoài (Hán tự, Anh
ngữ, Pháp ngữ v.v.) trong bất cứ trường hợp nào để cho toàn thể đồng bào
chúng ta dù chưa bao giờ học tiếng ngoại quốc cũng có thể hiểu được. Chúng
ta nhớ rằng tiếng Việt là tiếng nói chung cho toàn cả nước chứ không dành
cho những kẻ nhiều tiền lắm bạc có cơ hội học được tiếng ngoại quốc mới có
thể hiểu được. Ấy là chưa kể đến sự dùng tiếng nuớc ngoài một cách bừa băi
chẳng những làm cho đại đa số nhân dân lao động và dân quê không hiểu được
mà c̣n làm cho tiếng Việt càng ngày càng trở nên lai căng.
Dùng
những tiếng nước ngoài xen lẫn tiếng Việt làm cho người khác khó chịu về
sự cố t́nh khoe chữ của người nói cũng như các cụ đồ Nho của ta ngày xưa
viết văn thư, thường dùng nhiều điển cố Trung Quốc làm cho các học sinh,
khi học những bài văn của chính người Việt viết ra cũng không hiểu nên
phải cần sự diễn giảng của người khác như các thầy cô có học về điển cố
giải thích cho học sinh biết.
Thí dụ:
Một bản văn chữ Nôm được
phiên âm ra chữ
Quốc Ngữ, phong phú và hay bậc nhất của nước ta như Truyện Kiều của cụ
Nguyễn Du mà đến thời chúng ta đây rất là khó hiểu (v́ cụ dùng quá nhiều
tiếng Hán và các điển cố trong văn chương Trung Quốc) cho nên con cháu về
sau không thể hiểu được một cách trực tiếp v́ rằng chúng ta không đọc được
tiếng Tàu, cũng không học văn chương Tàu để b́ết các điển cố mà cụ đă dùng
trong văn chương của cụ.
Như một vài thí dụ kể sau đây, khi đọc
lên ta nghe rất hay nhưng đại đa số quần chúng không hiểu được.
Thí dụ:
Trong truyện Kiều có câu:
Lạ ǵ bỉ sắc tư phong -
(bỉ sắc: có sắc đẹp, tư phong: chết non), nghĩa là có tài mà lại chết non.
hay là:
Cảo thơm
lần giở trước đèn -
(cảo thơm: pho sách thơm lấy điển tích từ Liêu Trai Chí Dị).
hoặc là :
Phong t́nh cổ lục c̣n truyền sử xanh -
(sử xanh: dịch từ chữ "thanh sử" tiếng Hán v́ ngày xưa người Tàu chép sử
của họ vào mảnh tre xanh).
Đặc biệt trong:
Làn thu thủy nét xuân sơn -
(trích trong truyện Tàu Tây Sương:
Tha vọng xuyên liễu doanh doanh
thu thủy
Túc tổn liễu dạm dạm xuân sơn)
và:
Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê -
(kê: cái trâm cài đầu, cập: đạt đến), do tiếng Hán, ư chỉ con gái đến tuổi
cài trâm tức là tuổi lấy chồng.
Nói tóm lại:
(1) Tiếng Việt đă mượn rất nhiều tiếng Trung Hoa v́ ta dùng Hán tự nhưng
nhờ các tổ tiên ta phát âm theo tiếng Việt nhất định không theo tiếng Tàu
cho nên ngôn ngữ của ta c̣n tồn tại cho đến ngày nay.
(2) Tiếng Pháp th́ ta dịch thành tiếng
Việt.
(3) Tiếng Anh ngày nay nhiều khi lại
dùng nguyên chữ không c̣n dịch ra tiếng Việt. (Xem Phần 22 – Phương Ngữ
Ninh Ḥa).
Cũng như nhiều nước trên thế giới
dùng chung chữ trong phạm vi Khoa Học và Kỹ Thuật như computer, e-mail,
monitor,... th́ ta có thể chấp nhận nhưng ta chớ nên dùng một cách bừa băi
và không cần thiết như một thí dụ điển h́nh:
Báo chí ở Việt Nam đă ghi trong
báo một dự án của chính phủ thiết lập "Rail cao tốc". Một câu thật ngắn
ngủi nhưng tiếng Anh "Rail" lẫn cả tiếng
Hán "cao tốc" đều
được dùng, thay v́ "Xe
lửa chạy nhanh", mà mọi người b́nh dân
ai ai cũng đều có thể hiểu.
Vậy lúc nào, ta có thể dùng được
tiếng Việt thuần túy th́ ta nên cố gắng dùng và tránh dùng tiếng nước
ngoài. V́ tiếng nói của dân tộc ta cốt sao cho tất cả các người dân từ
những người có học thức cao ở trong thành phố cho đến những bác nông dân
không có điều kiện theo học cũng có thể am tường và hiểu thấu.
Những
thí dụ khác nhằm một số từ ngữ dùng "nguyên chữ" đang có khuynh hướng trở
thành thông dụng trên diễn đàn, thông tin, báo chí, quảng cáo hay mạng
lưới điện toán. Phần lớn các từ tiếng Mỹ này phát xuất từ các giao lưu của
người Việt nhất là lớp trẻ, trong lúc trao đổi thăm hỏi, sinh hoạt trên
mạng.
Festival (Festival Huế)
Lễ
hội (lễ hội Huế)
Ti Vi (Télévision)
Máy thu h́nh
Miss Áo dài
Hoa hậu áo dài
Đi show
Đi
tŕnh diễn
Resort
Điểm du lịch
Game
Tṛ chơi
Mail
Thư
Forum
Diễn Đàn
E-mail
Thư điện tử
Đăng kư
Ghi tên
Hộ khẩu
Sổ
gia đ́nh
Visa
Chiếu khán
Game
Tṛ
chơi
Virus
Bọ
(vi khuẩn) điện toán
Online
Trên
mạng
Top ten
10
hạng đầu tiên
Monitor
Màn
h́nh
Cell phone
Điện
thoại cầm tay
Connection
Nối
mạng. đường
truyền
Chat room
Pḥng tán gẫu, nói chuyện phiếm,
tṛ chuyện.
v.v......................................................................
Tránh
dùng "đăng kư” (tiếng Hán) mà dùng là "ghi tên", tiền "bo" (Pourboire -
tiếng Pháp) nên đổi là "tiền thưởng". Ta nhớ lại ngày xưa trong thời kinh
tế khó khăn ta thường ăn bo bo chứ không ai nghĩ rằng chữ “bo” này có gốc
từ chữ "Boire" của Pháp (Pourboire: Tiền thưởng).
Thí dụ:
Một công nhân cắt tóc cho ta đẹp th́ ta
thưởng công cho họ, tương tự tiền công nhân phục vụ mang thức ăn cho ta
một cách chu đáo th́ ta cũng thưởng công cho họ chút đỉnh tiền để hoan
nghênh hành động và khuyến khích họ trong cung cách phục vụ khách hàng.
Tuy nhiên, nhiều nơi lại c̣n gọi là tiền "bồi dưỡng" nhưng ư này chứng tỏ
họ (người nhận) nghèo đói đến nổi tiền thưởng được dùng vào việc ăn cho đỡ
đói, chứ nếu ta gọi là "tiền thưởng" th́ người nhận muốn dùng tiền này tùy
thích không nhất thiết là phải ăn uống v́ xă hội ta đă xa thời kỳ ăn độn
với bắp (ngô), khoai, và sắn với cơm xảy ra suốt trong thời kỳ chưa đổi
mới.
Mọi người dân Việt Nam phải cùng
nhau bảo tồn sự trong sáng của tiếng Việt và cố gắng dùng tiếng gốc Việt
Nam càng nhiều càng tốt tránh dùng những chữ có gốc ngoại lai. Mất đi một
phuơng ngữ nào như Ninh Ḥa chẳng hạn là mất đi nguồn tài liệu đắt giá cho
ngôn ngữ Việt Nam ta vậy. Nếu tất cả mọi người chúng ta trong sự giao dịch
với nhau đều có thể dùng tiếng mẹ đẻ mà hiểu được hết ư của nhau, chứng tỏ
ngôn ngữ của chúng ta rất phong phú không kém ǵ ngôn ngữ của nước ngoài
và con cháu Việt Nam hănh diện về điểu này.
Sau
cùng,
chớ nên tưởng nhầm rằng vừa nói tiếng Việt vừa xen tiếng nước ngoài là chứng tỏ
ta đây giỏi ngoại ngữ.

Ghi chú:
** Mông Cổ chia làm hai phần: Nội Mông và Ngoại Mông.
Nội Mông thuộc Trung Hoa hoàn toàn bị nước này đồng hóa, trong khi Ngoại
Mông trước kia thuộc quyền cai trị của Nga Sô nhưng sau khi đảng Cộng Sản
tan ră, Ngoại Mông thành nước độc lập.
Nguyễn Văn Thành
Đầu tháng 12/2004
(c̣n tiếp)