P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
̉ A
Nguyễn Văn Thành


Phần 26 - KẾT LUẬN
Người
Ninh Ḥa trong số những người Việt trên bước đường Nam Tiến do chúa Nguyễn
lănh đạo, đă tiếp xúc và lai giống với người Hời, người Mă Lai…, và các
dân tộc thiểu số khác như người Thượng (Đê)… và nhất là ảnh hưởng bởi
tiếng Pháp trong suốt hơn 80 năm nước Việt Nam ta bị nước này đô hộ. Người
dân Ninh Ḥa đă vay mượn và tự sáng tạo cho ḿnh những chữ ngắn gọn, giản
dị và dễ hiểu rất cần thiết để dùng trong khi giao tiếp với các giống dân
trên trong cuộc sống hàng ngày.
Điệu
kiện địa lư (phong thổ), lịch sử (tập quán) của Ninh Ḥa và hoàn cảnh xă
hội đă tạo dựng h́nh thể của sông Dinh, nẩy sinh ra nếp sống và thổ âm hay
thổ ngữ đặc biệt Ninh Ḥa hay phương ngữ Ninh Ḥa.
Thật
vậy, tính chân chất, thật thà của người Ninh Ḥa được thể hiện qua những
thổ ngữ đặc thù, tác giả xin ghi lại một số từ sau đây đă được đề
cập và giải thích rơ ràng ở những phần đầu tiên của loạt bài viết "Phương
Ngữ Ninh Ḥa" trên trang mạng:
www.ninh-hoa.com:
Từ đơn:
U : chạy u ….
Ùn : làm ùn, dô ùn, đi ùn…
Théc : nói théc, làm théc, học théc ……
Thấu : d́a thấu trển, đi thấu dứ, ở thấu trển ....
Trẻ : trẻ vật ǵ, khoe vật ǵ..
Ngộ : vẻ đẹp của một thiếu nữ...
Hung : lâu hung, ổng hung, bả hung …
Lựng : lắm lựng, bao nhiêu tiền lựng ?
Bạc : nước bạc…
Miết : làm miết, đi miết, học miết …
Chố : đá chố lỗ đầu,…
Đén : cây đén,,,
Hé : Ai hé ? (lên giọng)
Hè : Ai hè ? (xuống giọng)
Hửng : Đau chưn hửng ?
Chu : Chu ! (ngạc nhiên, trầm trồ đầu câu)
.......
Từ ghép:
Dị hửng : Chẳng dị hửng !
Dữ dị: : Quưnh đau dữ dị !
Dữ dằn : Nhiều dữ dằn !
Dứ lệ : Ổng đi dứ lệ ai ?
Hổ ngư : Nói hổng sợ hổ ngư ? (Ngươi)
Thẳng thẳng : thủng thẳng - Để thắng thẳng, bậu d́a !
Thùng lùng: Bánh kẹo hay đồ vật thùng lùng,..
Bao tiếng sùm, hiến bảy,..........
Biến âm:
D́a : d́a, d́a nhà (về)
Phia : d́a phia, phia rời, phia rầu (khuya rồi)
Hử : ngửi
Cuôm (cum) : cơm
Thữn : thuẫn (bánh thữn)
Nghiễng : nghĩ - nghiễng chiện (chuyện), đặt chuyện
Dứ : với
Giúng : giống (Nó giúng ai ?)
Quà : ḥa
Hun : hôn
Biểu : bảo (Tao biểu mày đi d́a phia rầu)
Dâu : vôi (Mả dâu c̣n gọi là mả Hời), dâu (vôi) ăn trầu
Phá : ch́a phá (ch́a khóa)
Bi : bi giờ (bây giờ)
Cừ : cười
Mé : má (một số người, nhất là vùng biển)
Chẩu : chổi
Hẻ : Chẳng dị hẻ con (hả)
.........
Người Ninh Ḥa nói:
thắc cừ
mắc cười
đái dất
đái bậy ngoài đường
Để khó
Để tang
Biểu
bảo
Gương
kính, kiếng (gương đeo mắt, tủ gương)
Chưn
chân
Đâm mắm
giă mắm
Phất
phất lồng đèn, làm ăn phất lên
Cọp
đi xe lửa cọp
..........
Cũng
như Phương Ngữ Ninh Ḥa, những địa phương khác trải dài từ Bắc đến Nam đều
có riêng tiếng địa phương, giọng đọc địa phương của từng vùng đó. Những
thí dụ dưới đây, tác giả cố gắng tŕnh bày nguyên văn mà không có lời phê
b́nh, và không ngoài mục đích giúp nhớ lại phong tục và giọng nói của quê
hương chứ không nhằm chỉ trích tiếng nói của bất cứ địa phương nào.
Bắc:
Con châu chắng buộc bụi chúc, ăn no bụng béo cḥn như
cái chống cheo
(Con trâu trắng buộc bụi trúc, ăn
no bụng béo tṛn như cái trống treo).
Quảng Trị:
Hai cấy dôn đứng giữa cươi lấy cái cái đ̣n triêng không
đánh cái trốt mà đánh cái vai.
(Hai vợ chồng đứng giữa sân lấy
đ̣n gánh không đánh cái đầu mà đánh cái vai).
Huế:
- Con chó có răng mô !
(ư nói con chó không cắn đâu)
- Lấy cái chổi, suốt cái cươi
(Lấy cái chổi, quét cái sân)
Quảng Nam:
Choa mi, toát cho boạt tưa
(Cha mi, tát cho bạt tai)
B́nh Định:
En hông en, tét đèn đi ngủ
(Ăn không ăn, tắt đèn đi ngủ)
Sài G̣n:
Anh đi mần cố quên đi những kỷ niệm ngài nào dẫn inh đậm trong nhao
(Anh đi làm cố quên đi những Kỷ niệm ngày nào vẫn in đậm
trong nhau)
Rạch Giá:
Bắt con cá gô bỏ trong gổ, nhảy gột gột
(Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nhảy
rột rột)
Và sau cùng:
Ninh Ḥa:
Chu! Lâu hung rầu (rời) tui hông d́a lại xóm Rụ. Đi d́a
phia, trời tấu (tới) dữ dằn, mưa miết hổng sửng, tui đi ùn dứ mưa nhưng có
ngừ chố trúng chưn tui. Tưởng ma le, tui chạy u d́a nhà đụng cái đẩu đâu
đầu gấu (gới) tổ nậu (nợi).
(Chu! Lâu hung rồi tôi không về lại xóm Rượu. Đi về
khuya, trời tối dữ dằn, mưa miết không sửng, tôi đi ùn dưới mưa nhưng có
người chố trúng chân tôi. Tưởng ma le, tui chạy u về nhà đụng cái đẩu (ghế)
đau đầu gối tổ nội).
Phương
ngữ từng vùng nói chung, phương ngữ Ninh Ḥa nói riêng, đáng được quan tâm
nghiên cứu, đáng được bảo tồn, với quyết tâm và trang trọng là bởi tiếng
Ninh Ḥa chứa đựng nhiều yếu tố đặc thù ảnh hưởng bởi sự đúc kết của địa
lư (sông Dinh, ḥn Hèo, biển Ḥn Khói, Hà Liên...), lịch sử đặc biệt. Ngôn
từ của người dân Ninh Ḥa nhẹ nhàng, êm tai, dễ thương, nghe có t́nh cảm
và dạt dào. Tiếng Ninh Ḥa dân gian th́ thật đặc biệt. Người Ninh Ḥa dùng
nhiều phương ngữ không đâu có. Phải ở Ninh Ḥa lâu năm, phải làm bạn với
người Ninh Ḥa mới mong theo được từ của người Ninh Ḥa dùng, mới hiểu
được ư của người Ninh Ḥa muốn nói ǵ.
Như một thí dụ điển h́nh trong số tác giả của Ninh Ḥa trên trang mạng
www.ninh-hoa.com:
- Hai câu thơ đường luật của Điềm Ca:
Ngọt lủng trả canh bầu tép
giă
Khen vùi nồi cháo hến tiêu kho
- Và Vinh Hồ trong bài thơ "Trăng Tháng 5":
Sáng trăng sáng cả đêm rằm
Lúa trẻ màu chia với tháng năm


Trong
lịch sử nước ta, ngôn ngữ Việt của chúng ta đă hai lần đối đầu với nguy cơ
bị đồng hóa. Như đă tŕnh bày trong những bài trước, thời Bắc thuộc một
ngàn năm đô hộ nhưng tiếng Việt (Nôm) dùng chữ Nôm thời ấy là biến thể của
chữ Hán đă cùng dân tộc Việt Nam tồn tại cho tới thời Pháp thuộc hơn 80
năm thực dân thống trị, tiếng Việt (quốc ngữ) của chúng ta vẫn không bị
mai một và trường tồn vĩnh cửu cho đến ngày nay.
Tiếng ta c̣n, nước ta c̣n
Chữ quốc ngữ, chữ nước ta
Nhưng chúng ta nhớ
rằng tiếng nói của một nước cốt để toàn thể các sắc dân trong nước đó có
thể thông cảm và hiểu biết lẫn nhau chứ không dành cho một thiểu số của kẻ
thống trị (Tàu, Tây...) hoặc là một số người giỏi ngoại ngữ (các quan lại
thời phong kiến có bằng cấp do thi cử bằng chữ Hán, các viên chức làm cho
Pháp trong thời Pháp thuộc biết thông thạo tiếng Pháp). Thời nay v́ nhu
cầu kinh tế, nên mọi người chuyên viên như kỹ sư, kinh tế gia thông thạo
Anh Ngữ để có thể buôn bán và phát triển kỹ nghệ nhất là ngành kỹ thuật
cao cùng với vốn tài chánh và tri thức từ bên ngoài.
Nhưng
ta chỉ dùng tiếng Anh trong phạm vi khoa học, kỹ thuật cần dùng chớ nên
dùng bừa băi trong những phạm vi không cần thiết làm tiếng Việt mất phần
trong sáng và không có cơ hội phát triển phù hợp với sự tiến triển chung
của đất nước, nhất là làm cho đại đa số nhân dân lao động không có cơ hội
học ngoại ngữ để có thể hiểu được. Sự dùng tiếng Anh một các bừa băi và
không cần thiết có tính lai căng thí dụ như xe lửa chạy nhanh gọi là "rail
cao tốc", hoa hậu áo dài lại kêu là Miss Áo dài, …..
Ta nên học tập các tiếng của cổ nhân đă dạy rằng"
Chửi cha không bằng pha tiếng
Những ư kiến trên
như đă tŕnh bày trong tất cả 26 phần của loạt bài viết về "Phương
Ngữ Ninh Ḥa" chỉ là những ư kiến thô thiển của chúng tôi, chỉ
có mục đích duy nhất mong muốn cho thế hệ sau hiểu rơ giọng Ninh Ḥa nói
riêng và tiếng Việt của chúng ta nói chung được trong sáng tránh t́nh
trạng lai căng để cho toàn dân của chúng ta không kể tŕnh độ học vấn cao
hay thấp đều có thể thông cảm được.
Mong
rằng các bậc cao minh cho thêm nhiều cao kiến để bổ túc cho 26 phần “Phương
Ngữ Ninh Ḥa" này được thêm phần hoàn bị. Riêng tác giả
sẽ bổ túc từng phần một khi thu thập thêm những từ mới.


Tác giả thành thật đa tạ những ân nhân sau đây đă góp
ít nhiều trong việc hoàn thành loạt bài này:
Dương Tấn Long
Hà Thị Thu Thủy
Phương Lệ
Nguyễn Thục
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Nguyễn Thị Ngọc Đến
Nguyễn Xuân Hoàng (Đức)
Và một số ít các ân nhân khác.
Nguyễn Văn Thành
Giáng Sinh 2004