trang nhà www.ninh-hoa.com   |  thơ & truyện Nguyễn văn Thành



Nguyễn Văn Thành

cựu học sinh trung học Trần Bình Trọng, niên khóa 1960-1964. Hiện cư ngụ tại Minnesota.
 


Truyện / Biên  Khảo


Ấy
Ngõ
Ninh Hòa, Mùa Mưa
Giây Phút Mất Mẹ
Về Ninh Hòa Ăn Tết
Hé, Hẻ, Hè, Hửng

Xóm Rượu - Quê Tôi

 Phần (1)   Phần (2)


Mức Thu Nhập Của
    Một Người Mỹ Gốc
    Việt Tại Hoa Kỳ
  

 

Phương Ngữ
     Ninh Hòa


 Phần (1)     Phần (2)

 Phần (3)     Phần (4)

 Phần (5)     Phần (6)

 Phần (7)
    Phần (8)

 Phần (9)     Phần (10)

 Phần (11)   Phần (12)

 Phần (13)   Phần (14)

 Phần (15)   Phần (16)


 Phần (17)   Phần (18)

 Phần (19)   Phần (20)

 Phần (21) 
 Phần (22)

 Phần (23)   Phần (24)

 Phần (25)   Phần (26)
                   Kết Luận
                          
                          
Nguồn Gốc Văn Tự
        Việt Nam
  
                       
Tìm Hiểu Các
    Dòng Họ Chính
    Của Việt Nam

 Phần (1)   Phần (2)

 Phần (3)   Phần (4)

 Phần (5)   Phần (6)

 Phần (7)   Phần (8)

 Phần (9) 

 


 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

Thơ

Bẽ Bàng
Bỡ ngỡ
Đêm
Tôi Giã Biệt Ninh Hòa
Nhớ Em
Ninh Hòa
Xóm Rượu Có Nhớ Chăng?
Tuổi 16
Tạm Biệt Xóm Rượu


 

  

    P H Ư Ơ N G   N G Ữ   N I N H   H Ò A

                            Nguyễn Văn Thành



Phần 3:


(8) Câu chuyện thứ tám:

Văn, Xuyên và Khoa kéo đẩu ngồi sát vào nhau có lẽ để nhìn mặt nhau rõ hơn, ấm cúng hơn vì cả ba đang ám ảnh chuyện “ma le” nên hơi lạnh chân. Họ mời bia cho nhau, cụng ly kêu cụp cụp, cùng nhau phà khói thuốc và cười nói lớn tiếng như cố tình phá tan bầu không khí im lặng . Họ nhìn nhau dò xét, muốn tiếp tục kể nhiều câu chuyện khác thấu sáng dưới ánh sáng tỏa ra yếu ớt của ngọn đèn hột vịt cháy leo lét.

Từ cửa ăn thông với nhà dưới, chị Khoa đi lên nhà trên, hai tay chị bưng một cái trã lớn đầy bột hạ quậy chung với đàng (đường). Thấy bóng người đi rề rề trong bóng tối trong lúc mãi nghĩ đến chuyện ma kể dang dở, Văn run, lên tiếng hỏi:

- Chị Pha (Khoa) đó hửng ?

Thay vì trả lời câu hỏi của Văn nhưng chị đùa:
- Anh Pha ơi! em có phấy (khuấy) bột hạ để mí (mấy) anh ăn dô giã rụ hạ quả hé.
Văn phấn khởi vì đang thèm thức ăn nóng ấm bụng:
- Dị là số dách ! Ðang lạnh và run bi giờ gặp nóng làm tụi tui bớt sợ.
Văn tiếp:
- Pha có bà xả hết sẩy đúng là: “giàu dì (vì) bạn, sang dì dợ”, ông bà xưa noái trúng phóc hè!
Chị Khoa cười lấy lệ, bỏ đi xuống lại nhà bếp.

Một đẩu sau, chị trở lại với sỉ và chén trong tay. Chị nói:
- Mời anh Pha, anh Dăn, dà (và) anh Xiên.
Xuyên cám ơn chị rồi nói:
- Nghe chị quậy bột hạ làm tui nhớ đến năm kia tui làm rẫy ở dứ chưn hòn Hèo. Rẫy của tui trồng lúa tư (tươi) tốt phì nhiêu, lúa trẻ trái. Mẫu (mỗi) mùa gặt có ăn nên có đồng dô đồng ra cho mí (mấy) xấp nhỏ đi hược (học). Dù (dầu) đất bỏ quang (hoang) hông có ngừ canh tác, ty dậy (tuy vậy) đất hông bị cần cẫu (cằn cỗi), rẫy tui cũng có dài mẫu đầy dẫy cây phai (khoai) hạ, lá bự sư xanh lè, mấy đứa con của tui phái (khoái) ăn phai hạ luộc. Nhưng có một thứ mọc thấu trên núi, đó là một đặc sản Ninh Quà mà tui phái ăn nhất, tui không nghĩ moại ngừ (mọi người) biết đâu ?

Ngỡ anh Xuyên bắt đầu pha tục, chị Pha cười lắc đầu trong ánh sáng lúc tỏ lúc mờ.

Sẵn trớn, Xuyên khai mào câu chuyện của mình:
- Vì đám phai hạ của tui gần coan suối nhỏ có nước mát trong dắt trên đỉnh hòn Hèo chảy xuống nên giống cây nghể hiếm có rất hạp mâu (môi) trường ở đây. Mấy đứa con tui phái ăn củ nghể luộc còn bà dợ tui và tui thì thích ăn bông nghể luộc nhưng hái bông nghể cực lắm chị hè. Có một bữa, tui dói (vói) tay hái bông nghể lỡ bị hụt chưn, té lộn mèo, gai quào đâm đâu tổ nậu (đau tổ nội), da thịt sướt hết sưng thù lù, chảy mấu tùm lum tà la. Cũng may nhờ Tời (Trời) đỡ nên coàn ngầu đây uống rụ. Dợ tui lẹ chưn lẹ cẳng đưa tui qua thấu nhà thương gặp thầy Hà, ổng tha (thoa) thuốc Alcool de Menthe rát thí mẹ. Dài bữa, phẻ lại tui muốn đi xuống chỗ đó nữa, nhưng nghe ngừ ta đồn có ông Bị ba chưn đoán đàng (đón đường), ổng thường ra coan suối uống nước ngắm trăng, nên đố ông nậu tui, tui cũng hổng dám leo thấu trển nữa.

Văn phàn nàn:
- Xiên, mầy chưa khen chỉ quậy bột hạ mà mầy chỉ nói tràn đồng.
Văn đưa cái sỉ bột nóng lên miệng thổi nguội rồi nếm, khen đáo để:
- Tời quơi! Bột hạ chị làm ngoan (ngon) quá nóng hẩu hè, ngọt lủng trã, đó chị!
Thấy Văn khen vợ mình, Khoa lên tiếng cho vợ:
- Dị hửng !
Văn kể lể:
- Nói dề hòn Hèo và đặc sản liên quan, tui nhớ món mắm sút Hà Liên, món của Ninh Quà mình ngon hông chỗ nào chê được. Nhứt (nhất) là mắm sút mà ăn dứ (với) lệ bông nghể luộc thì ngon hết sẩy mầy. Hầu (hồi) tui còn nhỏ, tui chờ nước thỷ (thủy) triều giựt rồi tui mới đi mò ốc chó miết thấu sẩm đến nẩu (nổi) mệt nhừ tử quài biển. Làm khổ lắm nhưng théc rầu cũng quen. Khi ốc đầy cái đụt, tui đem dìa nhà ngâm nước đến thấu mai, rầu tui khư ốc ra cho má tui trộn làm mắm đem ra chợ Dinh bán đẩu tiền chợ.

Nói đến Hà Liên làm Khoa nhớ đến những đêm câu giăng tại bãi biển Tân Tế nên cũng muốn kể chút ít cho Văn và Xuyên nghe:
- Nước xà hai ở Tiên Du nơi tiếp giáp giữa biển và sông, giữa mặn dà ngọt nên các loại cá nước lợ như cá rô phi, cá đấu (đối), cá lá, cá trèn, cá chốt...phủ phê và ngon tiệt (tuyệt) ! Phía trên thượng lu (lưu) một chút có cá đỏ mang xuống từ núi Ðá Bàn, tui làm mầu (mồi) bắt cá này công phu lắm. Mầy biết hông, tui pha chút ít củ nghệ dàng chạch được tán nhiễn (nhuyễn) với cuôm (cơm) móc dô lữ câu giựt một đẫu cá đầy đụt đó mậy.

Ngốn hết bột hạ một hơi, bỏ tô và sỉ xuống bàn, Khoa kể tiếp:
- Nhưng có một con cá hồng mà tui theo miết để bắt nó. Có một điêm (đêm), tui xuôi giòng nước từ Lỗ Lở xuống Tiên Du, rời (rồi) cũng dì (vì) con cá này mà chút nữa tui bị một cái lòng chảo cuốn tui dà (và) nhận tui xuống gặp ma da, hà bá rước.

Ngưng kể chuyện ma trong vài giờ qua, giờ nghe Khoa nhắc lại làm Văn và Xuyên không mấy ổn. Nghĩ đường về nhà trong đêm tối như mực như thế này cũng ớn lạnh, nên Xuyên vụt miệng:
- Pha ơi, lạy mầy đừng nhắc đến chiện ma nữa, tụi tao còn phải đi dìa nữa. Riêng tui sáng mai phải dậy lúc gà vừa gáy sáng là phải ngóc dậy.
Khoa hỏi:
- Sao hông ngủ cho phẻ, đã thức phia mà còn dậy sớm nữa, bịnh đó mầy.
Rồi Khoa thắc mắc:
- Quạ, mầy làm gì mà dậy sớm bửng dị !

Chưa kịp kể thiêm chiện tào lao dề coan cá hồng dà ma da, dợ Khoa lại bưng thiêm lên bình nước trà nóng hẩu dà mấy cái bánh thững (thuẫn). Dăn (Văn) dà Xiên đã không còn có cơ hội nghĩ đến chiện dìa nhà nữa, ăn bánh thững uống trà “Thái Ðức” thức thấu phia, noái lia lịa miết tới gà gáy rầu đi dìa nhà đi công chiện. Tậu nghiệp cho dợ chồng Pha (Khoa) ngầu tiếp hai bạn nấu khố thấu sáng.

Noái théc moải miệng, ngầu đẩu quài ê đít trong điêm tấu phia phắt, cả ba ngừ hông coàn chiện gì để noái quặc coàn thiêm chiện nữa để noái. Cả ba ngó nhâu gợi chiện, dòm ra bên quài Tời dẫn một mầu đen thùi lùi....

  



Qua tám câu chuyện dẫn nhập, ta thấy rằng tiếng nói phổ thông Việt Nam khắp từ ải Nam Quan vô tận mũi Cà Mâu, đâu đâu cũng đều có những tiếng địa phương, giọng đọc địa phương mà người vùng này không hiểu phương ngữ của vùng khác.

Địa lý (phong thổ) và lịch sử (tập quán) đã kết hợp với nhau để tạo nên đất Ninh Hòa một môi trường nảy sinh ra nhiều thổ âm và thổ ngữ đặc biệt riêng cho Ninh Hòa. Thường thổ âm được nói ở các vùng quê xa, hay các vùng biển Hà Liên, Hòn Khói. Xóm Rượu, ngoài tiểu công nghệ nổi tiếng cả huyện, và việc sản xuất các loại bánh tráng đi khắp thế giới, xóm Rượu có thể nói là một Trung Tâm Văn Hóa chính, rất quan trọng của Ninh Hòa với giọng nói có khác hơn những vùng xa nơi thành phố.

  



Ninh Hòa có nhiều phương ngữ mới lạ cho đến nay hầu hết cũng vẫn còn tồn tại khá phổ biến, một số trong thí dụ được tôi liệt kê sau đây:


bao tiếng sùm
:
còn gọi là Oẳn (Uýnh – Quýnh) Tù Tì   hay Quýnh (Uýnh) Sình Sầm, mày ra cái gì? tao ra cái này". Luật chỉ áp dụng cho 2 người chơi dùng các biểu tượng: cái kéo, cái búa và tờ giấy (bao).

bi giờ: bây giờ - 4 giờ sáng còn sớm bửng hè mầy, bi giờ tao dìa, niếu hông ổng quýnh tao.

biểu: bảo - Bả biểu mầy đừng đi cầu Sắt tắm sông nữa, ma da kéo chưn mầy bi giờ.

bót: bàn chải đánh răng, bàn chải giặt đồ

bông thụ: bông vạn thọ

bợn dừa:
Cơm dừa (phần màu trắng, nằm bên trong của trái dừa)

bùng binh: bồn binh - giống như cái ghè đựng nước uống và có nắp đậy - bùng binh ngã năm, ngã sáu

cá nước lợ: cá sống tại cửa biển nơi nuớc ngọt sông Dinh hòa lẫn với nước mặn trước khi chảy ra biển

cá trầu: loại cá lóc (Nam), cá quả (Bắc)

chác: lớn hơn ghè thưòng dùng để đựng nước hoặc ngâm gạo làm bánh tráng, có miệng rộng, hình chữ V

chạy u: chạy một mạch, chạy lẹ không dừng

chố (phang): chọi, ném, liệng, đôi (Huế)

chu: ở đầu câu diễn tả một hành động làm người nghe thán phục, ngạc nhiên, thắc mắc - Chu! Mày mà ưng con nhỏ đó hửng  ?

con đàng: con đường

cồ: đực, trống - gà cồ, dịt cồ có tiếng kiêu khác biệt, lông có mầu sắc rất ngộ.

cuôm (côm, cum): cơm

dan: hong vật gì dưới sức nóng - dan bánh tráng

dị hửng: vậy à

dìa: về - Đi dìa , Mầy đi dìa nhà hửng ?

dúng: giống - Tính mầy dúng ảnh rập khuôn.

dứ: dưới, với - Ổng xuống thấu dứ Hòn Khoái dứ (với) bả thăm lầu ông Quàng (Hoàng) rầu ổng bả dìa.

dứ lệ: với lại. - Mày đi dứ lệ ai ?

dữ dị: dữ vậy - Chiện có chút mà bả làm dữ dị ?

đái dất (dấc): đái bậy ngoài đường

đẩu: ghế - Cái đẩu để ngời(ngầu) có bốn chưn

đẫu, đỡi: một đỗi, một chập, một lúc - Ổng chạy u ra quài Lạc An thăm bả một đẫu xong ổng dìa nhà.

để khó: Để tang

đụt: cái giỏ nhỏ đan bằng tre thường hình trái bầu được dùng để rọng (rộng) cá, lươn, ốc.  Đụt mưa.


ghè: nhỏ hơn cái chác,có nắp dùng để đựng nước uống

Gần sủn (xủn):
 Gần xịt, kế bên đít.

hé: Anh A, đi đâu rồi hé?” (trích trong bài “Giọng Quê” của Nguyễn Hiền)

hẻ: Khi nghe không rõ câu nói của người khác, những người quê quán Ninh Hòa thường hỏi lại bằng cái giọng cộc lốc “Hẻ?”. (trích trong bài “Giọng Quê” của Nguyễn Hiền)

hè: Anh ấy làm gì hè?, Ði đâu hè?

hè: Trò làm rối loạn cuộc chơi do một số người ngoài tung vào có chủ mưu dành giựt hoặc cướp đoạt của cải hay đồ vật do người chơi đặt ra hay chung nhau.

hiền bảy:  Luật áp dụng cho số người chơi hơn 2 người trở lên dùng biểu tượng lòng bàn tay - ngửa (trắng) và mu bàn tay - úp (đen) để loại bớt số người thắng. Luật “bao tiếng sùm” cũng được xử dụng xen kẻ cho đến khi người thắng và người thua được minh định.

hược: học - Mầy đi hược dìa rầu hè (Mày đi học về rồi hả)

hử: ngửi

hửng: Anh ấy làm vậy (dị) hửng ?, Dị...hửng !

hút gió: huýt gió

hút hồn: hốt hồn, hớp hồn - Cô em ngộ quá đã hút hồn mầy hửng!

Hời: Chiêm Thành

ĩm nhĩm:  im lặng, nhẹ nhàng, ít hoạt động

làm ông Quành (Hoành): chỉ những người nào ngang tàng, muốn làm ông Trời con. Ông Hoành xưa kia là tay chân bộ hạ của Lê Văn Khôi đã sách nhiễu và hăm dọa dân chúng

làm tàn: làm với thái độ hung dữ, ngang tàn

làm ùn: làm thí, làm đại

lọ nghẹ: lọ nồi, lọ bồ hóng

lơn ngơn: ngang bướng, cà chớn....Mày lơn ngơn với tao coi chừng ăn đòn

lúa trẻ trái: lúa tốt

lý le: lấy le (khoe, phô trương) – Mầy chải tóc tém, đeo dây chiền dàng lý le dứ em hé !

mậy, mầy: mày - Mầy làm gì đó, mậy ?

miết: không dứt, mài miệt - Ổng mưa miết không sửng mậy?

ngang: tánh ngang, tánh khó - Em bé ngang quá, khó dỗ.

nghiễng:
nghĩ ra, bày vẻ, đặt ra câu chuyện

ngộ: đẹp – Làng Dĩnh Phú có nhiều cô ngộ quá !

ngổ: rau ngổ (ngò ôm) dùng để nấu canh chua

ngọt lủng trả: ngọt lịm

nói dóc de kiêu (kêu): nói láo hết cỡ

nói dóc tổ nậu (tổ nội): nói láo quá mức

nói lấy được lấy xuôi: nói lấy có

nói sang đàng: nói không chú tâm vào mục đích, không đâu vào đâu cả

nói sảng sảng: nói théc lồi ra hết

nói sỉnh sỉnh (xỉnh xỉnh): nói vô tình khi trúng khi trật, nói không mục đích, nói chơi

nói thiên trời: Nói ba xạo

nói tràn đồng: Nói không thứ tự, không lớp lang

nước giựt: nước rút, mực nước hạ

nước xà hai: nơi tiếp giáp giữa hai vùng nước ngọt và mặn tại cửa biển trước khi nước sông Dinh chảy ra biển.

ông Bị, ông Dột: cọp, hổ

ông Kẹ: ông đen thui mặt mày dính lọ nghẹ

ống so (tro) thổi lửa: ống tre dùng để thổi lửa

ổn chảng:  ồn ào, nói năng to tiếng...

phất: dán giấy bóng làm lồng đèn (phất giấy bóng lồng đèn), làm ăn phất lên.

phẻ: khỏe - Mầy phẻ như ông Bị !

phia: khuya – Phia phắt (Khuya Khoắt )- Tời phia rầu (rời)= Trời khuya rồi

quạ: ở đầu câu diễn tả sự ngạc nhiên, sửng sốt - Quạ, bả đi đâu hè ?

quỷ sứ Hồng Bào:  phá như quỷ sứ Hồng Bào

rọng (rộng): rọng cá trong cái đụt ngâm trong nước để giữ cá tươi

sỉ: muổng, thìa - Sỉ dùng để múc canh ăn dứ cuôm.

sóng chén: rổ đựng chén

sớm bửng (lửng): còn quá sớm

sửng (sửng mưa): tạnh, dứt (mưa)

té hen
: Khen quá té hen !

thắc cừ: mắc cười - Chiện như dị không đáng mà làm chỉ thắc cừ, thiệt tình !

thẳng thẳng: thủng thẳng, từ từ - Thẳng thẳng rầu (rồi) tao làm!

thấu: suốt, tận mãi, cho tới - Mầy đi thấu trên đó hửng? Làm gì mà mầy thức thấu phia dữ dị?

thẩu: cái lọ, keo

théc: nói théc, làm théc...(làm hay nói liên tục) – Nói théc rầu (rồi) tao hổng noái nữa, kệ bà mầy.

thùng lùng:  Tung hoặc ném một cách tự do những món quà hoặc đồ vật cho số đông người lượm....

Tời quơi : Trời ơi! - Tời quơi! Ẩu quơi là ẩu (Trời ơi! Ổi ơi là ổi)

trẻ: khoe khoang - Mầy ỷ có sợi dây chiền (chuyền) mới đem trẻ tao hẻ mậy ?

Trời gầm: Trời làm giông có sấm sét

Trời sẩm: Trời bắt đầu tối, hoàng hôn

ụa: ở đầu câu diễn tả một hành động làm người nghe ngạc nhiên, thắc mắc - Ụa! Mầy đi đâu dị ?

ủm tỏi:
 Kình lộn ồn ào, cãi nhau loạn xà ngầu.

ùn: làm ùn, đi ùn, nói ùn...làm đại, đi đại, nói đại..làm thí, nói thí.

  

 

Sau đây là những phương ngữ đặc biệt mà người Ninh Hòa thường dùng, đáng được chúng ta lưu ý:

(1) Cái gương được dùng cho cả mọi trường hợp thuộc về cái kính (kiếng).

Cái gương đeo mắt
Cái gương soi mặt

(2) Nước xà hai là nước tiếp giáp giữa nước ngọt và nước mặn tại cửa biển, còn được gọi là nước lợ nhưng cách dùng lại khác:

Nói về nước thì “Nước xà hai“ nhưng nếu nói về cá thì “Cá nước lợ” chứ ít ai nói cá nước xà hai.

(3) Hầu hết dân Xóm Rượu gọi con “đàng” thay vì con “đường” vì “Đường” là tên của một ông tổ (?) nên dân chúng kiêng cử gọi tên.

Thí dụ: Ðàng luồn cây (cái) thị, con đàng cái đã bỏ quang (hoang), đàng trong, đàng quài.

(4) “biểu” thay vì “bảo”
Thí dụ: Ổng biểu bả khi nào mưa sửng dà trời hết gầm rầu, bả chạy u ra quài đồng bắt con cá trầu đem dìa.

(5) “chưn” thay vì “chân”
Thí dụ: Ba chưn bốn cẳng ổng chạy u lên thấu trển thăm bả.

(6) Trong những lần ru em ngủ, ông Dột (cọp), ông Bị (cọp), ông Kẹ, hay ma le (ma le lưỡi) thường được dân gian Ninh Hòa dùng để nhát em bé khóc không chịu ngủ.
Thí dụ: Ú ờ...câu dán (ván) đóng đinh, câu tre lắc lẻo gập ghình (ghềnh) khó đi. Ông Dột kìa, em ngủ đi!

(7) “ngó, dòm” thay vì “nhìn, xem
(8) “hút gió” thay vì “huýt gió’
(9) “tui” thay vì “tôi”

 


Nguyễn Văn Thành
        6/2004
      (còn tiếp)