P
H
Ư
Ơ
N G
N
G Ữ N
I N H
H
Ò A
Nguyễn Văn Thành

Phần 3:
(8) Câu chuyện thứ tám:
Văn, Xuyên và Khoa kéo đẩu ngồi sát vào nhau có lẽ để nhìn mặt nhau rõ hơn,
ấm cúng hơn vì cả ba đang ám ảnh chuyện “ma le” nên hơi lạnh chân. Họ mời
bia cho nhau, cụng ly kêu cụp cụp, cùng nhau phà khói thuốc và cười nói
lớn tiếng như cố tình phá tan bầu không khí im lặng . Họ nhìn nhau dò xét,
muốn tiếp tục kể nhiều câu chuyện khác thấu sáng dưới ánh sáng tỏa ra yếu
ớt của ngọn đèn hột vịt cháy leo lét.
Từ cửa ăn thông với nhà dưới, chị Khoa đi lên nhà trên, hai tay chị bưng
một cái trã lớn đầy bột hạ quậy chung với đàng (đường). Thấy bóng người đi
rề rề trong bóng tối trong lúc mãi nghĩ đến chuyện ma kể dang dở, Văn run,
lên tiếng hỏi:
- Chị Pha (Khoa) đó hửng ?
Thay vì trả lời câu hỏi của Văn nhưng chị đùa:
- Anh Pha ơi! em có phấy (khuấy) bột hạ để mí (mấy) anh ăn dô giã rụ hạ
quả hé.
Văn phấn khởi vì đang thèm thức ăn nóng ấm bụng:
- Dị là số dách ! Ðang lạnh và run bi giờ gặp nóng làm tụi tui bớt sợ.
Văn tiếp:
- Pha có bà xả hết sẩy đúng là: “giàu dì (vì) bạn, sang dì dợ”, ông bà xưa
noái trúng phóc hè!
Chị Khoa cười lấy lệ, bỏ đi xuống lại nhà bếp.
Một đẩu sau, chị trở lại với sỉ và chén trong tay. Chị nói:
- Mời anh Pha, anh Dăn, dà (và) anh Xiên.
Xuyên cám ơn chị rồi nói:
- Nghe chị quậy bột hạ làm tui nhớ đến năm kia tui làm rẫy ở dứ chưn hòn
Hèo. Rẫy của tui trồng lúa tư (tươi) tốt phì nhiêu, lúa trẻ trái. Mẫu (mỗi)
mùa gặt có ăn nên có đồng dô đồng ra cho mí (mấy) xấp nhỏ đi hược (học).
Dù (dầu) đất bỏ quang (hoang) hông có ngừ canh tác, ty dậy (tuy vậy) đất
hông bị cần cẫu (cằn cỗi), rẫy tui cũng có dài mẫu đầy dẫy cây phai (khoai)
hạ, lá bự sư xanh lè, mấy đứa con của tui phái (khoái) ăn phai hạ luộc.
Nhưng có một thứ mọc thấu trên núi, đó là một đặc sản Ninh Quà mà tui phái
ăn nhất, tui không nghĩ moại ngừ (mọi người) biết đâu ?
Ngỡ anh Xuyên bắt đầu pha tục, chị Pha cười lắc đầu trong ánh sáng lúc tỏ
lúc mờ.
Sẵn trớn, Xuyên khai mào câu chuyện của mình:
- Vì đám phai hạ của tui gần coan suối nhỏ có nước mát trong dắt trên đỉnh
hòn Hèo chảy xuống nên giống cây nghể hiếm có rất hạp mâu (môi) trường ở
đây. Mấy đứa con tui phái ăn củ nghể luộc còn bà dợ tui và tui thì thích
ăn bông nghể luộc nhưng hái bông nghể cực lắm chị hè. Có một bữa, tui dói
(vói) tay hái bông nghể lỡ bị hụt chưn, té lộn mèo, gai quào đâm đâu tổ
nậu (đau tổ nội), da thịt sướt hết sưng thù lù, chảy mấu tùm lum tà la.
Cũng may nhờ Tời (Trời) đỡ nên coàn ngầu đây uống rụ. Dợ tui lẹ chưn lẹ
cẳng đưa tui qua thấu nhà thương gặp thầy Hà, ổng tha (thoa) thuốc Alcool
de Menthe rát thí mẹ. Dài bữa, phẻ lại tui muốn đi xuống chỗ đó nữa, nhưng
nghe ngừ ta đồn có ông Bị ba chưn đoán đàng (đón đường), ổng thường ra
coan suối uống nước ngắm trăng, nên đố ông nậu tui, tui cũng hổng dám leo
thấu trển nữa.
Văn phàn nàn:
- Xiên, mầy chưa khen chỉ quậy bột hạ mà mầy chỉ nói tràn đồng.
Văn đưa cái sỉ bột nóng lên miệng thổi nguội rồi nếm, khen đáo để:
- Tời quơi! Bột hạ chị làm ngoan (ngon) quá nóng hẩu hè, ngọt lủng trã, đó
chị!
Thấy Văn khen vợ mình, Khoa lên tiếng cho vợ:
- Dị hửng !
Văn kể lể:
- Nói dề hòn Hèo và đặc sản liên quan, tui nhớ món mắm sút Hà Liên, món
của Ninh Quà mình ngon hông chỗ nào chê được. Nhứt (nhất) là mắm sút mà ăn
dứ (với) lệ bông nghể luộc thì ngon hết sẩy mầy. Hầu (hồi) tui còn nhỏ,
tui chờ nước thỷ (thủy) triều giựt rồi tui mới đi mò ốc chó miết thấu sẩm
đến nẩu (nổi) mệt nhừ tử quài biển. Làm khổ lắm nhưng théc rầu cũng quen.
Khi ốc đầy cái đụt, tui đem dìa nhà ngâm nước đến thấu mai, rầu tui khư ốc
ra cho má tui trộn làm mắm đem ra chợ Dinh bán đẩu tiền chợ.
Nói đến Hà Liên làm Khoa nhớ đến những đêm câu giăng tại bãi biển Tân Tế
nên cũng muốn kể chút ít cho Văn và Xuyên nghe:
- Nước xà hai ở Tiên Du nơi tiếp giáp giữa biển và sông, giữa mặn dà ngọt
nên các loại cá nước lợ như cá rô phi, cá đấu (đối), cá lá, cá trèn, cá
chốt...phủ phê và ngon tiệt (tuyệt) ! Phía trên thượng lu (lưu) một chút
có cá đỏ mang xuống từ núi Ðá Bàn, tui làm mầu (mồi) bắt cá này công phu
lắm. Mầy biết hông, tui pha chút ít củ nghệ dàng chạch được tán nhiễn (nhuyễn)
với cuôm (cơm) móc dô lữ câu giựt một đẫu cá đầy đụt đó mậy.
Ngốn hết bột hạ một hơi, bỏ tô và sỉ xuống bàn, Khoa kể tiếp:
- Nhưng có một con cá hồng mà tui theo miết để bắt nó. Có một điêm (đêm),
tui xuôi giòng nước từ Lỗ Lở xuống Tiên Du, rời (rồi) cũng dì (vì) con cá
này mà chút nữa tui bị một cái lòng chảo cuốn tui dà (và) nhận tui xuống
gặp ma da, hà bá rước.
Ngưng kể chuyện ma trong vài giờ qua, giờ nghe Khoa nhắc lại làm Văn và
Xuyên không mấy ổn. Nghĩ đường về nhà trong đêm tối như mực như thế này
cũng ớn lạnh, nên Xuyên vụt miệng:
- Pha ơi, lạy mầy đừng nhắc đến chiện ma nữa, tụi tao còn phải đi dìa nữa.
Riêng tui sáng mai phải dậy lúc gà vừa gáy sáng là phải ngóc dậy.
Khoa hỏi:
- Sao hông ngủ cho phẻ, đã thức phia mà còn dậy sớm nữa, bịnh đó mầy.
Rồi Khoa thắc mắc:
- Quạ, mầy làm gì mà dậy sớm bửng dị !
Chưa kịp kể thiêm chiện tào lao dề coan cá hồng dà ma da, dợ Khoa lại bưng
thiêm lên bình nước trà nóng hẩu dà mấy cái bánh thững (thuẫn). Dăn (Văn)
dà Xiên đã không còn có cơ hội nghĩ đến chiện dìa nhà nữa, ăn bánh thững
uống trà “Thái Ðức” thức thấu phia, noái lia lịa miết tới gà gáy rầu đi
dìa nhà đi công chiện. Tậu nghiệp cho dợ chồng Pha (Khoa) ngầu tiếp hai
bạn nấu khố thấu sáng.
Noái théc moải miệng, ngầu đẩu quài ê đít trong điêm tấu phia phắt, cả ba
ngừ hông coàn chiện gì để noái quặc coàn thiêm chiện nữa để noái. Cả ba
ngó nhâu gợi chiện, dòm ra bên quài Tời dẫn một mầu đen thùi lùi....


Qua tám câu chuyện dẫn nhập, ta thấy rằng tiếng nói phổ thông Việt Nam
khắp từ ải Nam Quan vô tận mũi Cà Mâu, đâu đâu cũng đều có những tiếng địa
phương, giọng đọc địa phương mà người vùng này không hiểu phương ngữ của
vùng khác.
Địa lý (phong thổ) và lịch sử (tập quán) đã kết hợp với nhau để tạo nên
đất Ninh Hòa một môi trường nảy sinh ra nhiều thổ âm và thổ ngữ đặc biệt
riêng cho Ninh Hòa. Thường thổ âm được nói ở các vùng quê xa, hay các vùng
biển Hà Liên, Hòn Khói. Xóm Rượu, ngoài tiểu công nghệ nổi tiếng cả huyện,
và việc sản xuất các loại bánh tráng đi khắp thế giới, xóm Rượu có thể nói
là một Trung Tâm Văn Hóa chính, rất quan trọng của Ninh Hòa với giọng nói
có khác hơn những vùng xa nơi thành phố.


Ninh Hòa có nhiều phương ngữ mới lạ cho đến nay hầu hết cũng vẫn còn tồn
tại khá phổ biến, một số trong thí dụ được tôi liệt kê sau đây:
bao tiếng sùm:
còn gọi là
Oẳn (Uýnh – Quýnh) Tù Tì hay Quýnh (Uýnh) Sình Sầm, mày ra cái
gì? tao ra cái này". Luật chỉ áp dụng cho 2 người chơi dùng các biểu tượng:
cái kéo, cái búa và tờ giấy (bao).
bi giờ: bây giờ - 4 giờ sáng còn sớm bửng hè mầy, bi giờ tao dìa, niếu
hông ổng quýnh tao.
biểu: bảo - Bả biểu mầy đừng đi cầu Sắt tắm sông nữa, ma da kéo chưn
mầy bi giờ.
bót: bàn chải đánh răng, bàn chải giặt đồ
bông thụ: bông vạn thọ
bợn dừa: Cơm dừa (phần
màu trắng, nằm bên trong của trái dừa)
bùng binh: bồn binh - giống như cái ghè đựng nước uống và có nắp đậy -
bùng binh ngã năm, ngã sáu
cá nước lợ: cá sống tại cửa biển nơi nuớc ngọt sông Dinh hòa lẫn với
nước mặn trước khi chảy ra biển
cá trầu: loại cá lóc (Nam), cá quả (Bắc)
chác: lớn hơn ghè thưòng dùng để đựng nước hoặc ngâm gạo làm bánh tráng,
có miệng rộng, hình chữ V
chạy u: chạy một mạch, chạy lẹ không dừng
chố (phang): chọi, ném, liệng, đôi (Huế)
chu: ở đầu câu diễn tả một hành động làm người nghe
thán phục, ngạc nhiên, thắc mắc
- Chu! Mày mà ưng con nhỏ đó hửng ?
con đàng: con đường
cồ: đực, trống - gà cồ, dịt cồ có tiếng kiêu khác biệt, lông có mầu sắc
rất ngộ.
cuôm (côm, cum): cơm
dan: hong vật gì dưới sức nóng - dan bánh tráng
dị hửng: vậy à
dìa: về - Đi dìa , Mầy đi dìa nhà hửng ?
dúng: giống - Tính mầy dúng ảnh rập khuôn.
dứ: dưới, với - Ổng xuống thấu dứ Hòn Khoái dứ (với) bả thăm lầu ông
Quàng (Hoàng) rầu ổng bả dìa.
dứ lệ: với lại. - Mày đi dứ lệ ai ?
dữ dị: dữ vậy - Chiện có chút mà bả làm dữ dị ?
đái dất (dấc): đái bậy ngoài đường
đẩu: ghế - Cái đẩu để ngời(ngầu) có bốn chưn
đẫu, đỡi: một đỗi, một chập, một lúc - Ổng chạy u ra quài Lạc An thăm
bả một đẫu xong ổng dìa nhà.
để khó: Để tang
đụt: cái giỏ nhỏ đan bằng tre thường hình trái bầu được dùng để rọng (rộng)
cá, lươn, ốc. Đụt mưa.
ghè: nhỏ hơn cái chác,có nắp dùng để đựng nước uống
Gần sủn (xủn):
Gần
xịt, kế bên đít.
hé: Anh A, đi đâu rồi hé?” (trích trong bài “Giọng Quê” của Nguyễn Hiền)
hẻ: Khi nghe không rõ câu nói của người khác, những người quê quán Ninh
Hòa thường hỏi lại bằng cái giọng cộc lốc “Hẻ?”. (trích trong bài “Giọng
Quê” của Nguyễn Hiền)
hè: Anh ấy làm gì hè?, Ði đâu hè?
hè: Trò
làm rối loạn cuộc chơi do một số người ngoài tung vào có chủ mưu dành giựt
hoặc cướp đoạt của cải hay đồ vật do người chơi đặt
ra hay chung nhau.
hiền bảy: Luật áp dụng cho số người chơi hơn 2 người trở lên dùng
biểu tượng lòng bàn tay - ngửa (trắng) và mu bàn tay - úp (đen) để loại
bớt số người thắng. Luật “bao tiếng sùm” cũng được xử dụng xen kẻ cho đến
khi người thắng và người thua được minh định.
hược: học - Mầy đi hược dìa rầu hè (Mày đi học về rồi hả)
hử: ngửi
hửng: Anh ấy làm vậy (dị) hửng ?, Dị...hửng !
hút gió: huýt gió
hút hồn: hốt hồn, hớp hồn - Cô em ngộ quá đã hút hồn mầy hửng!
Hời: Chiêm Thành
ĩm nhĩm:
im lặng, nhẹ nhàng, ít hoạt động
làm ông Quành (Hoành): chỉ những người nào ngang tàng, muốn làm ông
Trời con. Ông Hoành xưa kia là tay chân bộ hạ của Lê Văn Khôi đã sách
nhiễu và hăm dọa dân chúng
làm tàn: làm với thái độ hung dữ, ngang tàn
làm ùn: làm thí, làm đại
lọ nghẹ: lọ nồi, lọ bồ hóng
lơn ngơn:
ngang bướng, cà chớn....Mày lơn ngơn với tao coi chừng ăn đòn
lúa trẻ trái: lúa tốt
lý le: lấy le (khoe, phô trương) – Mầy chải tóc tém, đeo dây chiền dàng
lý le dứ em hé !
mậy, mầy: mày - Mầy làm gì đó, mậy ?
miết: không dứt, mài miệt - Ổng mưa miết không sửng mậy?
ngang: tánh ngang, tánh khó - Em bé ngang quá,
khó dỗ.
nghiễng: nghĩ ra, bày vẻ, đặt ra câu chuyện
ngộ: đẹp – Làng Dĩnh Phú có nhiều cô ngộ quá !
ngổ: rau ngổ (ngò ôm) dùng để nấu canh chua
ngọt lủng trả: ngọt lịm
nói dóc de kiêu (kêu): nói láo hết cỡ
nói dóc tổ nậu (tổ nội): nói láo quá mức
nói lấy được lấy xuôi: nói lấy có
nói sang đàng: nói không chú tâm vào mục đích, không đâu vào đâu cả
nói sảng sảng: nói théc lồi ra hết
nói sỉnh sỉnh (xỉnh xỉnh): nói vô tình khi trúng khi trật, nói không
mục đích, nói chơi
nói thiên trời: Nói ba xạo
nói tràn đồng: Nói không thứ tự, không lớp lang
nước giựt: nước rút, mực nước hạ
nước xà hai: nơi tiếp giáp giữa hai vùng nước ngọt và mặn tại cửa biển
trước khi nước sông Dinh chảy ra biển.
ông Bị, ông Dột: cọp, hổ
ông Kẹ: ông đen thui mặt mày dính lọ nghẹ
ống so (tro) thổi lửa: ống tre dùng để thổi lửa
ổn chảng: ồn ào, nói năng to
tiếng...
phất: dán giấy bóng làm lồng đèn (phất giấy bóng lồng đèn),
làm ăn phất lên.
phẻ: khỏe - Mầy phẻ như ông Bị !
phia: khuya
– Phia phắt (Khuya Khoắt )- Tời phia rầu (rời)= Trời khuya
rồi
quạ: ở đầu câu diễn tả sự ngạc nhiên, sửng sốt - Quạ, bả đi đâu hè ?
quỷ sứ Hồng Bào: phá như quỷ sứ Hồng Bào
rọng (rộng): rọng cá trong cái đụt ngâm trong nước để giữ cá tươi
sỉ: muổng, thìa - Sỉ dùng để múc canh ăn dứ cuôm.
sóng chén: rổ đựng chén
sớm bửng (lửng): còn quá sớm
sửng (sửng mưa): tạnh, dứt (mưa)
té hen: Khen quá té hen !
thắc cừ: mắc cười - Chiện như dị không đáng mà làm chỉ thắc cừ, thiệt
tình !
thẳng thẳng: thủng thẳng, từ từ - Thẳng thẳng rầu (rồi) tao làm!
thấu: suốt, tận mãi, cho tới - Mầy đi thấu trên đó hửng? Làm gì mà mầy
thức thấu phia dữ dị?
thẩu: cái lọ, keo
théc: nói théc, làm théc...(làm hay nói liên tục) – Nói théc rầu (rồi)
tao hổng noái nữa, kệ bà mầy.
thùng lùng: Tung hoặc ném một
cách tự do những món quà hoặc đồ vật cho số đông người lượm....
Tời quơi : Trời ơi! - Tời quơi! Ẩu quơi là ẩu (Trời ơi! Ổi ơi là ổi)
trẻ: khoe khoang - Mầy ỷ có sợi dây chiền (chuyền) mới đem trẻ tao hẻ
mậy ?
Trời gầm: Trời làm giông có sấm sét
Trời sẩm: Trời bắt đầu tối, hoàng hôn
ụa: ở đầu câu diễn tả một hành động làm người nghe ngạc nhiên, thắc mắc
- Ụa! Mầy đi đâu dị ?
ủm tỏi:
Kình
lộn ồn ào, cãi nhau loạn xà ngầu.
ùn: làm ùn, đi ùn, nói ùn...làm đại, đi
đại, nói đại..làm thí, nói thí.


Sau đây là những phương ngữ đặc biệt mà người Ninh Hòa thường dùng, đáng
được chúng ta lưu ý:
(1) Cái gương được dùng cho cả mọi trường hợp thuộc về cái kính (kiếng).
Cái gương đeo mắt
Cái gương soi mặt
(2) Nước xà hai là nước tiếp giáp giữa nước ngọt và nước mặn tại cửa biển,
còn được gọi là nước lợ nhưng cách dùng lại khác:
Nói về nước thì “Nước xà hai“ nhưng nếu nói về cá thì “Cá nước lợ” chứ ít
ai nói cá nước xà hai.
(3) Hầu hết dân Xóm Rượu gọi con
“đàng” thay vì con “đường” vì “Đường” là
tên của một ông tổ (?) nên dân chúng kiêng cử gọi tên.
Thí dụ: Ðàng luồn cây (cái) thị, con đàng cái đã bỏ quang (hoang), đàng
trong, đàng quài.
(4) “biểu” thay vì “bảo”
Thí dụ: Ổng biểu bả khi nào mưa sửng dà trời hết gầm rầu, bả chạy u ra
quài đồng bắt con cá trầu đem dìa.
(5) “chưn” thay vì “chân”
Thí dụ: Ba chưn bốn cẳng ổng chạy u lên thấu trển thăm bả.
(6) Trong những lần ru em ngủ, ông Dột (cọp), ông Bị (cọp), ông Kẹ, hay ma
le (ma le lưỡi) thường được dân gian Ninh Hòa dùng để nhát em bé khóc
không chịu ngủ.
Thí dụ: Ú ờ...câu dán (ván) đóng đinh, câu tre lắc lẻo gập ghình (ghềnh)
khó đi. Ông Dột kìa, em ngủ đi!
(7) “ngó, dòm” thay vì “nhìn, xem
(8) “hút gió” thay vì “huýt gió’
(9) “tui” thay vì “tôi”