P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
Ò A
Nguyễn Văn Thành
Phần 4:
Nguồn gốc của một số từ và nhóm (cụm) từ qua các hiện tượng tạo từ để
thành phương ngữ đặc thù của Ninh Hòa đến nay vẫn chưa ai khám phá hoàn
toàn. Một số phương ngữ liệt kê ở trên, chẳng hạn từ "dất (dấc)" trong đái
dất (dấc), từ “so, tro” trong ống so (tro) thổi lửa, “trẻ” cùng nghĩa với
khoe khoang, “chố” trong “chố đá trúng lỗ đầu”...... lưu truyền trong dân
gian Ninh Hòa mà không có một sách vở nào hoặc một ai giải thích.
Một số phương ngữ khác đòi
hỏi người khác vùng phải sống ở Ninh Hòa lâu năm và tạo cơ hội xuống tận
miền biển và vùng quê thì mới có thể hiểu hết người Ninh Hòa muốn nói gì.
"Làm ùn, dô (vô) ùn, bỏ ùn, đi ùn đi...” như một thí dụ điển hình trong
câu chuyện thứ chín dưới đây sẽ giải thích.
(9) Câu chuyện thứ chín:
Một đêm tối, Khoa muốn tự tay
mình nấu chè đậu ván phụ vợ. Khoa lui cui dưới bếp một mình nhúm lửa, loay
hoay hỏi vợ:
- Em có biết ống so thổi lửa ở đâu hông dị ? Tời tấu quá, anh hổng thấy nó
đâu hết.
Chị tiếp:
- Chắc là nó nằm gần cái kiềng ba chưn đó. Sao anh hổng đốt hột quẹt lên,
có cái đèn hột dịt em chong trên đầu cái “gạc măng rê".
Tìm không thấy, Khoa gắt
giọng:
- Anh kiếm miết mà hổng thấy đâu cả!
Ðang khó nhọc dỗ đứa con trên
võng vừa im tiếng khóc, chị nói khích:
- Anh noái thắc cừ quá, bộ em dấu nó sao!
Vợ chồng Khoa nói qua nói lại
vô tình đánh thức đứa con, thằng nhỏ khóc thét. Chị quan tâm đến thằng bé
nên chị đưa chân đạp đất đẩy cái võng đu đưa, rồi chị tiếp tục bài hát ru
con:
Ồ ơi! Ới hời!....
"Chiều chiều quạ nói dứ diều
Kiếm nơi đống trấu cho
nhiều gà con
Gà thời bư rác bư rơm
Con anh chèo chẹo đòi cuôm tấu ngày !"
Chiếc võng đưa qua đưa lại,
kêu kẽo kẹt trong đêm tối, đứa con vẫn khóc. Chị kiên nhẫn ôm chặt thằng
bé, hát tiếp:
"Dí dầu tình bậu muốn
thâu (thôi)
Bậu gieo tiếng dữ cho rầu (rồi) bậu ra
Bậu ra cho khỏi ông ra
Cái gươm bậu dữ...ờ.. ơi...."
Chị la con thật lớn cũng cốt
ý cho chồng nghe:
- Con ngang quá, hông chịu ngủ!
Thằng bé vẫn khóc dai như đĩa
đói, chị bèn nhát bé:
- Ông Dột tới kìa .
Thằng con bỗng im thin thít.
Chợt Khoa hỏi vợ:
- Nầu (nồi) chè cần bao nhiêu đàng (đường) dị em ?
Chị sợ dài dòng văn tự đánh
thức thằng bé lần nữa, chị nói đại:
- Thì anh cứ bỏ ùn đi rồi niếm (nếm) lại sau.
Thấm thoát nồi chè đã sẵn
sàng, hai vợ chồng Khoa và đứa con gái lớn xếp bằng tròn dưới đất ngồi
quanh quần ăn chè. Đưa cái sỉ đặc chè đậu ván, cô con gái đã quá khen:
- Ngọt lủng nồi, ba hè !
Khoa cười tươi, rồi chợt nhớ
chuyện gì đó, quay lại hỏi con gái mình:
- À hôm qua, ba thấy có thằng bạn của con, mấy lần trước ba thấy nó cứ lái
xe đạp chạy ngang nhà mình quài, coi mầu (mồi) nó chịu con đó. Nó đi đâu
cho đã rồi tự nhiên nó đi "dô ùn" nhà mình, gặp ba thình lình, nó sợ lắm.
Khoa tiếp:
- Nó lỡ bộ rầu (rồi) nên lúng túng nhưng cũng chào ba lễ phép. Nó có kể
chuyện dan bánh tráng yểu trong nhà vì nắng ui ui miết cả ngày. Ba thấy nó
siêng năng, dị mà nó còn có thì giờ ương hột giống trồng lấy rau cải lên
chợ Dinh đổi tiền phụ ba má tiền chợ mẫu (mỗi) ngày.
Câu chuyện đang kể lưng chừng,
thằng con thức dậy khóc đòi mẹ. Chị Khoa mắng con:
- Thằng con lại ngang nữa rầu.
Lần này chị đổi cách nhát
thằng bé:
- Ông Bị núp sau cái ghè uống nước kìa.
Thằng bé vẫn ngang, khóc thét.
- Ông Kẹ đen thui thùi lùi, ổng tới kìa.
Chị hát tiếp:
"Dí dầu cầu dán (vàn) đóng
đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình (ghềnh) khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con thi trường học, mẹ thi trường đời”
Chị không ngớt miệng ru con
ngủ:
“ Gió đưa bụi trúc sau hè
Gió đưa chị bảy dìa nhà and ba
Anh ba đi cứ (cưới) chị ba
Mâm trầu hủ rụ (rượu) hết ba mư (mươi) đồng
Còn tiền mua chả mua nem
Mua một cặp đèn đi cứ (cưới) chị ba !”
Chiếc võng kẽo kẹt đu đưa qua
lại yếu dần theo cái bóng in trên nền đất. Chén chè đậu ván dang dở chị
chưa ăn hết, chị cũng chưa kịp khen chồng “ngọt lủng nồi” nhưng chị đã
cùng thằng con ngủ ngon lành trên chiếc võng trong căn nhà dưới có bóng
đèn hột vịt leo lét cháy....


Qua câu chuyện thứ chín ở
trên, có một vài từ thường được người Ninh Hòa dùng:
(10) "dan bánh" thay vì "phơi
bánh:
Thí dụ: Tiến trình dan bánh ướt ngoài nắng ở giai đoạn đầu thành bánh yểu
trước khi lột bánh ra khỏi vỉ dan tiếp chuẩn bị nướng.
(11) "làm ùn, đi ùn, nói ùn..." thay vì "làm đại, đi đại, nói đại...”
Thí dụ: Tao biểu mày dô ùn đi dù họ không mời mầy. Theo tiêu chửn (chuẩn)
chi cho mệt, làm ùn đi, độ là nghề của mày mà !
(12) "ngang" thay vì "khó", ý
chỉ con nít khóc, dỗ không nín.
Thí dụ: Thắng bé này ngang tổ nậu, khóc théc lòi (lồi) rún.
(13) "hột gà, hột vịt" thay
vì "trứng gà, trứng vịt"
(14) "hột" thay vì "hạt".
Thí dụ: hột giống chứ không
hạt giống.
Ngoài phương ngữ hoặc cách
nói cổ, sự biến đổi ngữ âm của người Ninh Hòa đã tạo ra nhiều từ và nhóm (cụm)
từ khác lạ khá hấp dẫn trong tiếng Ninh Hòa nói riêng và ngôn ngữ phổ
thôngViệt Nam nói chung.
Biến âm:
ổng = ông ấy
bả = bà ấy
ảnh = anh ấy
chỉ = chị ấy
trỏng = trong – (xóm trỏng = xóm trong ấy)
trển = ở trên
chưn = chân
quải, quài
= ngoài
đó


Một số từ khi biến âm đã
không theo một qui luật nào cả nhưng còn làm lẫm lẫn trong ý nghĩa. thí dụ:
(a) Chữ đầu “kh” phát âm
thành "p"
pha = khoa - (pha phẫu
thực = khoa phẫu thuật)
phá = khóa - (chìa phá = chìa khóa)
phái = khoái
phẻ = khỏe – (Phẻ hông mậy ? - Khỏe không mày ?)
nhưng không thể phát âm từ "khỏi"
thành "phỏi"
(b) Một số từ có chữ giữa "oa"
phát âm thành "a"
tháng = thoáng (một
tháng suy tư = một thoáng suy tư). Thật ra hai câu chỉ là một nhưng
vì sự biến âm tạo nghĩa khác một trời một vực (một tháng = 30 ngày, một
thoáng = một tíc tắc).
tán = toán - bài tán
dỡ ẹt (ợt) = bài toán dễ ẹt - Ðể ý sự khác biệt to tác về nghĩa của
cả hai từ "dễ" và "dỡ" dù rằng hai câu này cùng nghĩa nhưng lại khác nghĩa
một trời một vực.
tả = tỏa – (muồi qua
quệ tả khấp dùng = mùi hoa huệ tỏa khắp vùng)
xài = xoài (trái xài = trái
xoài)
nhưng từ “đoán” biến âm thành
"đón" không thể phát âm thành "đán” được.
(c) Chữ đầu “h” phát âm thành
"q":
qua quệ = hoa huệ
quài dọng = hoài vọng
quàn tàn = hoàn toàn
quề dốn = huề vốn
quyễn quặc = huyễn hoặc
(d) Những từ có chữ tận cùng
bằng "ươi" hoặc "ươu" phát âm thành "ư"
đừ ư
= đười ươi
mừ = mười - (mừ mu = mười mươi)
ngừ = người – (ngừ say rụ = người say rượu)
tư = tươi – (tư cừ = tươi cười)
nhưng: tứ nước =
tưới nước
(e) Những từ có chữ tận cùng
với "ươu" hoặc "ưu" phát âm thành "u"
rụ = rượu – (xóm Rụ =
xóm Rượu)
tụ = tựu - (tụ trường = tựu trường)
mu = mưu – (mu kế = mưu kế)
(g) Những từ có chữ ở giữa "uâ"
phát âm thành "ư"
dõ thực = võ thuật
ảo thực = ảo thuật
tưn lịnh = tuân lệnh
(h) Những từ có chữ "uy" phát âm thành "i, y"
thừn tý = thuần túy
tiết rơi = tuyết rơi
phi áo = khuy áo
dây chiền = dây
chuyền
(i) Một số từ có chữ giữa "ô"
phát âm thành "â, ơ"
thơi rời, thâu rầu =
thôi rồi
đầu gới, đầu gấu = đầu gối
một đỡi, một đẫu = một đỗi (chờ một lúc)
xơi, xâu = xôi
tổ nợi, tổ nậu = tổ nội
trái ẩu (ởi) = trái ổi
cái chẩu (chởi) = cái
chổi
(k) Một số từ có chữ giữa "ê,
ô" phát âm thành "ơ"
đi rờ rờ = đi rề rề
ghơ ngừ = ghê người
tấu (tới) rời (rầu) = tối rồi
khi dỡ = khi dễ - Mầy dám khi dỡ tao hửng ?
(l) Những từ bắt đầu bằng chữ
“v” cải âm thành "d"
dui dẻ = vui vẻ
dụt chạy = vụt chạy
dữ dị =
dữ vậy
(m) Một số người Ninh Hòa
cải âm "a" thành "e"
cục đé = cục đá
ông Be =
ông Ba
|