|
|
P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
Ò A
Nguyễn Văn Thành


Phần 5:
P hương ngữ Ninh Hòa thì rất đặc biệt và người Ninh Hòa lại
dùng nhiều phương ngữ không đâu bằng. Ngay cả trong những trò chơi dân
gian của lớp tuổi ấu thơ ở Ninh Hòa cũng chứa đựng những từ đặc thù Ninh
Hòa, chẳng hạn như "hiền bảy, bao tiếng sùm, thùng lùng, hè, ủm tỏi,
gần sủn (xủn), bợn dừa,....". Câu chuyện thứ mười sẽ làm rõ nghĩa
những nhóm từ này.


(10) Câu chuyện thứ mười:
Mãi
đến
hôm nay, Khoa mới có thời giờ rảnh để kể trò chơi "Búng Hột Me" mà Khoa đã
hứa kể cho ba đứa con nghe vào tuần trước. Sau bữa cơm trưa, dưới bóng mát
của cây dừa lửa, bốn cha con quây quần quanh đống hột me màu đen, nâu sậm
nằm ngổn ngang trên mặt đất. Chị Khoa bưng trên tay một cái ly cối, còn
tay kia xách trái dừa bung to và nặng, khoan thai bước đến chỗ tụ họp gia
đình. Ðứa
con gái thấy vậy, bèn đỡ trái dừa cho mẹ nhẹ tay. Con trai lớn mời ba uống
dừa nhưng chợt thấy thiếu con dao nên chạy u vào bếp để tìm dao và lấy
thêm vài cái tách.
Loay hoay kiếm con dao chưa thấy,
ngoài này Khoa đã nói móc thằng con:
- Từ đây xuống biếp (bếp) gần
sủn (xủn) mà thằng con đi thấu Mù U dị hè!
Rồi nhìn thấy thằng con đi trở lại với
con dao phay và vài cái tách trên tay, Khoa trách:
- Tời quơi! Con dao lụt (cùn) như cái đấm làm sao ba dạ t
(vạt) được dỏ (vỏ) dừa !
M ột đỗi
(đẫu) sau, bốn cha con với bốn cái tách đầy nước dừa
bung mát rượi trong buổi trưa sắp ngã bóng mặt trời. Hớp miếng nước dừa
thấm giọng, Khoa ngã lưng vào gốc dừa một cách thoải mái. Ngọn gió hiu hiu
xuyên qua mấy cây chuối hột, thổi qua, Khoa nhẹ người hẳn lên, niềm nở với
các con:
- Nước dừa uống phẻ lắm mấy con
quơi! Còn bợn (cuôm) dừa ăn cũng số dách nữa. Lại còn có gió mát, đã quá !
Khoa nghĩ ngợi:
- Ty (tuy) nước dừa bung hơi chua dà (và) lạt niếu (nếu) so dứ (với) dừa
Xiêm nhưng "bợn" dừa già, má con thường phơi khô để làm mức dừa trữ trong
thẩu ăn miết tới rằm tháng Giêng cũng chưa hết.
Ðứa con gái cưng cằn nhằn:
- Làm mức dừa tốn công nhiều quá tậu (tội) nghiệp má lắm vì má còn phải
xắt lát, phơi khô rầu ngầu (rồi ngồi) cong lưng bên trã lửa nóng hẩu (hổi)
ngào đàng (đường).
Khựng một chút, nàng nói thêm:
- Riêng đ ấu
dứ (đối với) con thâu (thôi), con phái (khoái) ăn mứt me hơn, còn hột me,
con để dành chơi “Búng Me” dứ (với) mấy đứa bạn.
C ó lẽ đứa con gái nhắc khéo ba mình, Khoa trầm ngâm giây
lát nhớ lại lời hứa rồi bắt đầu kể:
- Búng Me cũng có mùa từn (tuần) tự thay phiên cho những trò chơi khác như
bắn nắp keng, bắn bạc cắc, quýnh (đánh) bịch thuốc lá, quýnh trỏng... tất
cả điều (đều) có từng giai đạn (đoạn) thời gian ở Ninh Hòa thời xưa. Trò
chơi Búng Me dành cho cả nam lẫn nữ, cũng rất hấp dẫn dà (và) khá đơn giản,
mới coi qua một dài (vài) lần là bất cứ đứa trẻ nào cũng biết cách chơi.
Chỉ cần hai ngừ (người) là ta có thể tổ chức cuộc chơi nhưng nhiều ngừ
chơi thì hào hứng hơn nhưng nhiều miệng nhiều tay cũng rất dễ kình lộn rầu
(rồi) đưa đến chỗ quýnh nhâu (đánh nhau) u đầu chảy máu. Ba sẽ kể các con
nghe tại sao quýnh nhau như dị!
Khoa khựng một chút rồi tiếp tục câu
chuyện:
- Bước dào (vào) cuộc chơi, mẫu (mỗi) bên chửn (chuẩn) bị một số hột me
thường sở hữu của mẫu ngừ (mỗi người) tấu (tối) thiểu là 5 hột. Không có
quan cờ hay ông dua (vua) tướng gì cả mà chỉ cần dẻo ngón tay trỏ, biết
cách nhắm dà (và) búng trúng đích là đủ. Ngón tay trỏ càng nhỏ chừng nào
thì càng tốt chừng đó vì dễ lòn ngón tay này vào giữa hai hột me để gạt
ngang rời (rồi) búng. Trò chơi đ ược
tiếp tục cho đến khi không còn một hột me nào trong dán (ván) cờ, dà (và)
cuộc chơi coi như kết thúc.
K hoa ngưng một đỗi, sai con đi lấy cái sỉ để cạo bợn dừa
đưa lên miệng, vừa ăn vừa tiếp tục câu chuyện:
- Hầu (hồi) ba còn hược (học) ở
trường Ðức Trí, những bạn gái cùng lớp dứ (với) ba mê chơi trò chơi này
lắm. Ðám con gái chơi im (êm) thắm hơn bọn con trai, chửi quýnh (chửi đánh)
ủm tỏi dào (vào) những trưa hè.
Thấy chồng thao thao bất tuyệt, chị
Khoa xen vào:
- Anh lúc nào cũng thích dài dòng dă n
(văn) tự, anh nên
tóm tắt lại kể cho con nghe hử. Mấy xấp nhỏ ngóng cổ ngầu (ngồi) thừ lừ
nghe anh bắt mệt.
Chị lại thêm:
- Em đã mệt dứ anh, giờ con lại
mệt dứ ba nó...
Con gái lớn xen vào hỏi Khoa:
- Hầu (hồi) nãy giờ, con chờ ba chỉ cách chơi đó.
Khoa rề rề hẹn:
- Thì để thẳng thẳng ba kể.
Khoa tiếp:
-Trò chơi này đoài hoải (đòi hỏi) từ 2 ngừ (người) trở lên. Số ngừ (người)
chơi ngồi dứ (dưới ) đất đấu (đối)
diện nhau, mẫu ngừ (mỗi người) có một nhúm hột me (thường hột me già đã
được ăn sạch cuôm (cơm) me dà (và) khô ráo). Tỳ (tùy) theo sự giao hẹn lúc
đầu, mẫu ngừ (mỗi người) bỏ dào (vào) chung nhau cùng số lượng hột me,
thường là 5 hột.
Ðứa con trai chận ngang ba:
- Dị làm sao chơi hẻ ba ? Ai đ i
trước, ai đi sau dị ?
Khoa trả lời:
- Nếu chỉ có hai người chơi, thì hai người "Bao Tiếng Sùm". Ba thực (thật)
nễ ngừ (người) nào đ ó
đặt ra cái lực (luật) này.
Khoa giải thích cho các con hiểu:
- Lực (Luật) "Bao Tiếng Sùm" thì rất đơn
giản: Cái búa đập được cái kéo, cái kéo cắt được tờ giấy, ty (tuy) nhiên
tờ giấy lại bao được cái búa, dị mới hay!. Nói như thế có nghĩa rằng cái
búa thắng cái kéo, cái kéo thắng tờ giấy, dà sau cùng tờ giấy thắng cái
búa. Lực (Luật) đoài hoải (đòi
hỏi) cả 2 người trong cuộc chơi cùng hô một lượt 3 chữ "Bao Tiếng Sùm"
trong khi bàn tay của họ làm dấu chửn (chuẩn) bị giơ ra, một trong 3 biểu
tượng trên (cái búa, cái kéo, tờ giấy) ngay khi vừa đọc xong.
Thằng con chưa hiểu, nóng lòng hỏi Khoa:
- Ðâu ba làm cho con coi đi!
Khoa bắt các con mình thực tập đống me trước mặt, xong rồi nói:
- Như dị giữa 2 ngừ (người) niếu (nếu) ai thắng thì đi
trước căn cứ theo Lực (Luật) “Bao Tiếng Sùm"
.
Khoa tiếp tục sư phạm các con:
- Còn trường hợp có hơn 2 ngừ (ngưởi) thì Lực (Luật) "Hiền Bảy" được dùng.
Lực (Luật) này áp dụng cho tất cả số ngừ (người) chơi cùng hô to "Hiền Bảy"
một lượt dùng tay trắng (bàn tay ngửa) hay tay đen (bàn tay úp) để loại bỏ
từ từ số ngừ (người) thắng.
Tỷ dụ trong số 5 ngừ (người) chơi, có 2 ngừ điều (người đều) giơ bàn tay
đen dà (và) 3 ngừ (người) còn lại dứ (với) bàn tay trắng, thì 2 ngừ (người)
giơ tay đen đương nhiên thắng nhưng họ phải "Bao Tiếng Sùm" để biết ngừ (người)
nào thắng hạng nhất để được u (ưu) tiên búng hột me đầu tiên,
ngừ (người) thắng hạng hai sẽ là ngừ (người) búng thứ nhì.
Khoa hớp miếng nước dừa, thấm giọng
cắt nghĩa thêm:
- Còn 3 ngừ (người) kia bắt buộc phải
"Hiền Bảy" tiếp. Thí dụ có 1 tay trắng dà (và) 2 tay đen thì ngừ c ó
tay trắng đương nhiên
là ngừ (người) thắng thứ ba dà (và) sẽ là ngừ (người) búng hột me thứ ba
sau khi 2 ngừ (người) thắng đầu tiên thua cuộc.
Khoa dòm thẳng các con hỏi:
- Dị 2 ngừ (người) còn lại thì sao?
Ðứa con gái thông minh trả lời:
- Thì phải "Bao Tiếng Sùm" tiếp để chọn ngừ (người) búng hột me thứ tư dà
(và) thứ năm. Dà (Và) sao nữa ba?
Khoa ngẫm nghĩ rồi tiếp:
- Sau đây ba sẽ kể cho các con
nghe lực (luật) chơi. Ngừ (Người) thắng thứ nhất sẽ là ngừ (người) u (ưu)
tiên đi trước, nắm hết tất cả số hột me trong tay dà (và) rải "ùn" (hoặc
thảy đại lên). Số hột me được trải rơi rớt ngẫu nhiên trên nền nhà hoặc
nền đất bằng phẳng dà ngừ (và người) chơi chỉ diệc (việc) tìm hai hột me
nào gần nhau nhất để búng miễn sao khi gạt ngón tay dùng để búng giữa hai
hột me mà không đụng vào một trong hai hột me đó.
Ðứa con gái vụt miệng hỏi:
- Niếu (Nếu) đụng thì sao ba hè?
Khoa cười mỉm:
- Thì thua, thì giao phiên chơi cho ngừ (người) kế tiếp.
Khoa giải thích rõ ràng hơn:
- Khi dùng ngón tay gạt giữa hai hột me rầu (rồi), ngừ (người) chơi dùng
ngón tay ấy búng hột me thứ nhứt (nhất) và trúng hột me thứ hai nằm đầu
(đối) diện. Khi hai hột me đụng nhau thì ngừ (người) chơi thắng (hay ngừ
ăn) dà (và) được quyền lấy hột me đó về phần mình. Ngừ (Người) chơi thường
có phinh (khuynh) hướng lựa những hột me nào gần để búng vì dễ dàng hơn
miễn sao có phản (khoảng) cách đủ rộng đở (để) cho ngón tay gạt ngang qua
giữa mà không chạm hai hột me đó. Sau khi thanh tán (toán) xong các hột me
nằm gần, người chơi mới búng các hột me cách xa hơn, dà (và) búng như vậy
tương tự cho đến khi còn hai hột me cuối cùng trong bàn chơi.
K hoa đặt câu hỏi:
- Các con biết hông khi có hai
hột me nằm khít nhau và hột thứ ba dùng để búng niếu (nếu) trúng một hột
rồi hột này đụng hột kia, dị ngừ (vậy người) búng có thắng hông (không) ?
Thấy các con im lặng, Khoa tự trả lời:
- Theo lực (luật), chắc chắn là không! Dà (Và) đây chính là chỗ mà các dụ
(vụ) kình lộn, quýnh (đ ánh)
đập nhau xảy ra dì (vì) ngừ (người) thì nói là không đụng, kẻ thì cải lại
có đụng nhưng chỉ đụng nhẹ thơi (thôi). Cho dù đủ chạm rung rinh mà chỉ
mắt tinh lắm mới thấy được nhưng có mấy ai chịu làm
chứng?
Khoa liên tục giảng bài:
- Hầu (hồi) còn nhỏ ba có chứng kiến mấy đứa bạn ở xóm "Gò Lăng" dà (và)
xóm "bánh tráng" quýnh nhau về cái dụ (vụ) này. Bên này cải nói "đụng" còn
bên kia thấy tận mắt nói "không đụng" nên hổng (không) ai chịu giao phần
hột me cho ngừ (người) ă n,
rời (rồi) tất cả đứng dậy cải “ủm tỏi”. Rốt cuộc, cũng hên có ông thầy Bảy
đi ngang qua ổng thấy, ông chạy lại can ngăn. Ổng làm sao các con biết
hông?
K hoa giảng tiếp trong khi các con ngồi chăm chú nghe:
- Ông thầy Bảy tịch thu hết số hột me của cả hai bên rồi ổng "thùng lùng",
ổng giải thích như vậy là quề dốn (huề vốn), ai lụm (lượm) được bao nhiêu
thì lụm (lượm), không ai cải dứ (với) ai cả.
Đứa con trai thắc mắc:
- Dị “Thùng Lùng" là gì ba hè ?
Khoa giải thích:
- "Thùng lùng" là tung quặc (hoặc) quăng "ùn" trên cao những hột me một
cách tự do để
cho số đông người lụm (lượm).
Khoa không ngớt nói:
- Ðám trẻ hậm hực, hằm hằm hí hé ông thầy Bảy này nọ nhưng bị ổng lấy cây
hèo rượt đám nhỏ chạy xịt khói.
Khoa kể tiếp:
- Ngừ (Người) xưa thường nói: " Ăn
làm dua (vua), thua làm giặc" nên
nhiều khi kẻ thắng thì thích gáy quặc (hoặc) chọc quê kẻ thua; kình lộn dì
(vì) thế xảy ra đó các con. Nhưng có một chuyện này còn ly kỳ nữa! Các con
có hiểu nghĩa của từ "hè" là gì không, nó không nằm trong nhóm "hé, hẻ, hè,
hửng" mà còn có một nghĩa khác trong phương ngữ dân gian Ninh Hòa. Ðể ba
kể một câu chiện (chuyện) khác cho các con nghe.
Khoa hớp hết ly nước dừa kêu rột rột, xong kể:
- Hầu (Hồi) đó quài (ngoài) Dốc Quán có một trự dà dứ (và dưới) làng Thanh
Châu cũng có một trự nữa. Cả hai ba gai lắm, du côn "bửa củi", chiên (chuyên)
phá phách quýnh (đánh) lộn còn hay chôm chỉa bắt trộm gà dịt (vịt) trong
xóm. Vì sẵn bản tính nghịch ngợm nên nhiều bữa đi "hè" lấy đồ chơi hay
tiền bạc của ngừ (người) khác.
Thấy các con ngơ ngác, Khoa đi sâu vào
chi tiết:
- Hai trự này thường đi
cặp với nhau đến những chỗ, những nơi mà các cuộc chơi dân gian đang hồi
cụp lạc thua đủ. Họ la to: “hè" rầu (rồi) nhào dô (vô) đám đông làm xáo
trộn cuộc chơi, hột me dăng (văng) tứ phía. Lợi dụng “Nước đục thả câu",
họ giành giựt lấy số hột me dứ (với) người chơi đó con!
Ba thấy chẳng ai dám quýnh
lại hai thằng đó.
Ðưa con gái nhanh nhẹn nhắc ba:
- Còn hai hột me cuối cùng trong bàn chơi làm sao bi (bây) giờ ?
Khoa tằng hắng một hơi lắng giọng,
xong trả lời:
- Người chơi bắt buộc búng
trúng hai lần mới được phép ăn hết 2 hột me cuối cùng này. Nếu không, quặc
trật hoặc trúng chỉ một lần, ngừ (người) chơi phải giao cho phiên cho ngừ
(người) kế tiếp.
Khoa kể thêm:
- Ba có mấy ngừ (người) bạn học chơi búng hột me thay dì (vì) ăn hột me,
mấy bạn ba lại giao hẹn búng dành (vành) tai quặc
cú đầu gấu (gối). Chơi này thì dui (vui)
thiệt nhưng đau lắm, ba thấy có vài đứa khóc có tai sưng bùng bùng vì bị
búng mạnh hoặc đầu gấu (gối) bị ê bánh chè.
Có đứa rên: “Cú đau đầu gấu tổ nậu !”
Bữa cơm chiều cũng vừa dọn ra, Khoa
cũng vừa chấm dứt câu chuyện trò chơi dân gian "Búng Hột Me". Từ hướng nhà
dưới, chị Khoa vọng tiếng mời:
- Bốn cha con dào ăn cuôm !!!
|