|
|
P
H Ư Ơ N G
N
G Ữ N
I N H H
Ò A
Nguyễn Văn Thành


Phần 7:
Q ua những 10 câu chuyện, ta nhận thấy một số người Ninh
Hòa phát âm "ôi" thành "âu" trong khi một số người Ninh Hòa khác phát âm "ôi"
thành ơi". Các trường hợp biến đổi ấy được lập lại như sau::
tổ nội
tổ nợi
tổ nậu
đầu gối
đầu gới
đầu gấu
nó ngồi rồi
nó ngời rời
nó ngầu rầu
thôi rồi
thơi rời
thâu rầu
........
Hiện tượng biến âm này rất thông thường trong tiếng Việt,
đặc biệt ở Ninh Hòa, . Biến âm trở thành tạo từ miễn sao ngắn gọn, dễ hiểu
và tiện dùng trong sự giao tiếp hàng ngày. Trong tiếng Việt phổ thông từ "vậy"
như một thí dụ, giống như người Nam bộ phát âm thành "dậy", và người Ninh
Hòa cải âm thành "dị" rồi ghép chữ "hửng" thành "dị hửng"
N ói đến từ ghép trong tiếng Việt phổ thông, tức là những
chữ đã quen đi với nhau thành một nhóm từ hai chữ, thí dụ nói vế màu trắng
thì ta phải ghép chữ bóc thành "trắng bóc", tựa như "bóc vỏ" một trái bưởi
ra là một màu trắng toát. Một thí dụ khác cũng trong dạng màu sắc, từ "đen”
được ghép với từ "thui" thành "đen thui" giống như một con bê được thui
thành than, có màu đen. Vậy từ "thui" dùng để bổ nghĩa từ “đen” cũng như
nhấn mạnh khi nói và làm tăng thêm màu đen, đen còn đen hơn thành "đen
thui". Cũng có thể chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả, chẳng
hạn "tím rịm".... Tổ tiên ta đã ghép những từ này lại với nhau để nhấn
mạnh hoặc tô màu thêm cho chữ nọ, không ai biết nguồn gốc từ đâu ra và có
từ đời nào.
Trước khi bàn tiếp tục "Phương Ngữ Ninh Hòa", một số từ
ghép trong tiếng Việt phổ thông được người Ninh Hòa dùng trong khi
giao tiếp
với người Ninh Hòa trong cuộc sống hàng ngày được liệt kê như sau:
Màu Sắc:
Trắng bóc (trắng như bông bưởi, như quả trứng luộc vừa
bóc vỏ ra),
Đen thui (đen thui như ông kẹ, như thui một vật gì),
Đỏ chéc (choét),
Vàng khè (chạch),
Tím rịm,
Xanh lè (lòe)
Mùi Vị:
Mặn chằng (chát)
Chua lèm (lòm, loét),
Đắng nghét,
Ngọt ngay (nồi chè ngọt ngay),
Chát ngầm,
Thúi ình,
Hôi rình,
Lạt nhách (lẽo)....
Hình Thể:
Sưng thù lù (ù, húp – cái mụt nhọt sưng thù lù),
Dẹp (xẹp) lép (Bánh xe xẹp lép),
Trẹt lét (Thúng tẹt lét),
Tẹt lét (Mũi tẹt lét),
Móp xộp,
Đứng sựng,
Củ xì
Mới toanh
Chật ém
Nhọn quắt (hoắt),
Xấu quắc (hoắc),
Lùn xủn,
Méo xẹo,
Tròn do (vo), tròn ủm
Cong queo,
Ốm tong (teo, nhách, ròm),
Teo nhách,
Mập ù (ú, úc núc, ú tét),
Trẻ măng (trẻ như măng non)
Non chẹt (choẹt)
Lỏng le,
Đặc kẹo,
Sâu hóm,
Cạn queo,
Bóng lưỡng
Rối bù (Tóc rối bù)...
Kích Thước:
To tổ nậu (nội),
Gần xịt
Bự tổ chảng,
Nhẹ hiều (hều),
Nặng trịch,
Cao ngòng
Lùn xủn
Rộng phình
Nhỏ xíu (thó)
Cụt ngủn,
Thấp chủn,
Dài thoòng (thòng),
Dày cui
Mỏng dánh (dính)
Cảm Xúc:
Lạnh ngắt,
Nóng hẩu, hởi (hổi),
Khô queo (rang)
Ướt nhẹp,
Nhão nhẹt (nhoẹt)
Dòn rụm
Mềm xèo (xìu)
Cứng ngắt.....
Linh Tinh
Trật lất (Ðoán trật lất, làm trật lất không đúng),
Trúng phóc (Ðoán trúng phóc, đáp số trúng phóc, trả lời trúng phóc),
Dao lụt (con dao không bén),
Dao cùn (con dao rỉ sét tà đầu không bén),
Láng cón (áo quần láng xì cón),
Già háp (người quá già gọi là háp, cây đén quá lớn không nổi gọi là
cây già háp),
Sạch bách (chơi cờ bạc thua sạch bách hết)
Quay mồng mồng
Trùng trục (ở trần trùng trục)
Chè hẻ chê hê
Cô lô cô lóc
Bí xị
Rớt cái đạch, cái đụi
Nhảy dựng
(mừng quá nhảy dựng lên)...
|