|
|

(Viết để đánh dấu 31 năm, từ ngày có
hàng triệu người bỏ nước ra đi)


C ả hai tuần nay, mấy quan chức sở "bảo vệ súc vật"
thành phố thường xuyên đến thăm gia đ́nh tôi, để t́m hiểu lư do v́ sao,
trước mùa đông năm nay những đàn chim trane không c̣n trở về vùng này nữa.
Họ đă cho người dọn dẹp lại khu bờ sông, chăm sóc cánh đồng cỏ và trồng
thêm mấy hàng thông phía bên kia để đón những đàn chim, nhưng chờ măi mà
chẳng thấy bóng dáng một con trane nào trở lại.
T rane là một loài chim sống thành đàn, màu nâu đen, có
dáng như con hạc ở quê nhà. Là một giống chim không chịu lạnh, nên hàng
năm, cứ trời sắp sang đông là tụ tập từng đàn ở một nơi nào đó rồi chia
nhau bay t́m những xứ nóng phương nam. Ở Bắc Âu có nhiều loài chim trốn
lạnh, nhưng loại trane này nhiều nhất, có tổ chức khá qui củ, và khi bay
đi chúng bay thành từng nhóm theo h́nh những mũi tên, có khoảng cách đều
nhau, rất đẹp.
Đ ịnh cư ở Nauy hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đ́nh và việc
học hành của mấy đứa con tạm ổn định, cũng là lúc vợ chồng tôi bắt đầu có
thời gian để hồi tưởng về quá khứ, và nhớ quê hương. Chúng tôi quyết định
mua một ngôi nhà, dưới thung lũng nhỏ, bên bờ sông Nitelva yên tỉnh, bên
kia là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có
mang một chút h́nh dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi
khi thấy ḷng trăn trở, nhung nhớ một điều ǵ.
N hững lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nh́n ra
phía cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương ḿnh như đang ở
phía bên kia triền núi đó. Không những vợ chồng tôi mà mấy đứa con đều
thích thú ngôi nhà này, v́ nó khá rộng răi đủ để mỗi đứa có một pḥng
riêng, trang trí, sắp xếp theo sở thích của ḿnh. Trong thung lũng nhỏ này,
ngoài chúng tôi, chỉ có ba gia đ́nh láng giềng, một đến từ Thụy Điển, một
đến từ Tây Đức, chỉ có một gia đ́nh là dân bản xứ chính tông. Có lẽ sống
trong một khu "hợp chủng quốc" bé nhỏ nhất trên lục địa này, nên chúng tôi
sớm gần gũi, thân t́nh.
D ọn đến cuối mùa xuân, nên suốt hè năm ấy, chúng tôi
lần lượt là khách mời của mấy người bạn láng giềng. Ông bà người Thụy Điển
có chiếc du thuyền lớn với đầy đủ tiện nghi. Cả nhà chúng tôi được cùng họ
xuôi ngược cả một tuần trên con sông Nitelva chảy dài qua những rừng thông,
đồng cỏ và một vài vùng quê, yên tĩnh và lăng mạn. Những ngày c̣n lại,
cùng với gia đ́nh ông bà người Đức vào rừng cắm trại, đi săn, rồi cùng với
gia đ́nh ông bà Nauy đi cắm lều bên kia bờ sông, vừa câu cá vừa ngắm những
cặp thiên nga tung tăng bơi lội.
Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi xuống, trời đột
nhiên trở lạnh, báo hiệu sắp chấm dứt mùa thu bắc âu thơ mộng, cũng là lúc
chúng tôi bắt đầu chuẩn bị mọi thứ cho một mùa đông băng giá kéo dài cả
năm, sáu tháng.
M ột buổi tối, khi ngồi ở pḥng khách đọc mấy tờ báo,
tôi nghe tiếng chim kêu, mỗi lúc một nhiều, vang động cả một vùng xưa nay
tĩnh mịch. Tiếng chim có cái âm sắc như đang t́m nhau, gọi nhau, mừng rỡ.
Hôm sau, hỏi ông láng giềng người Đức, tôi mới biết là chính ngả ba sông
ngay trước nhà tôi, từ bao nhiêu năm nay, là nơi nhiều đàn chim
trane di
xứ chọn làm địa điểm tập trung để bay về phương nam trước khi mùa đông đến.
Cả mấy đêm liền sau đó, cứ vào khoảng chín giờ tối,
những đàn chim từ mọi nơi bắt đầu kéo về tụ tập ở bờ sông và cánh đồng cỏ
bên kia, kêu gọi nhau cả đêm. Đến mờ sáng, chia nhau từng nhóm chừng hai
mươi con, nối tiếp bay đi, theo h́nh những mũi tên, vẻ lên nền trời mờ hơi
sương một bức tranh tuyệt đẹp.
N hiều đêm, tôi lặng lẽ ra bờ sông, ngồi cả mấy tiếng
đồng hồ, nh́n chim từng đàn bay tới, cả trăm, rồi hàng vạn con. Chúng đón
nhau gọi nhau líu lo mừng rỡ. Tiếc là loài người đă không hiểu được ngôn
ngữ của loài chim, để nghe nó chào nhau, nói với nhau những lời t́nh tự,
và bàn nhau phân công, tổ chức, sắp xếp từng đàn lần lượt bay đi trong
trật tự. Tôi miên man hồi tưởng thời gian hơn mười năm trong lính. Rồi bất
ngờ nảy ra một ư tưởng so sánh lạ kỳ: Những “đội quân” chim trane này có
tinh thần kỷ luật và t́nh đồng đội. Các “vị chỉ huy” của nó c̣n tài giỏi
hơn nhiều ông quan chỉ huy của bọn tôi ngày trước. Con chim dẫn dầu trong
một đội h́nh mũi tên chắc chắn phải là con chim chỉ huy cấp nhỏ nhất, nhóm
trưởng. Con chim "tổng tư lệnh" phải là con chim bay lên ở nhóm cuối cùng.
Phải như thế mới có được một cuộc "hành quân triệt thoái" diễn ra trong
trật tự và đẹp đẻ như tôi vừa chứng kiến.. Cái may mắn, là chúng có cả một
không gian yên b́nh để sắp xếp những chuyến ra đi, khác với những người
lính chúng tôi vào những ngày cuối tháng tư, với bom đạn xe pháo dày đặc
của cả một khối liên minh đối phương kéo từ phương Bắc. Trong lúc chúng
tôi bị người bạn đồng minh bội phản, và điều đáng buồn hơn, đă có nhiều
cấp chỉ huy hèn mạt, xa chạy cao bay trong khi chúng tôi vẫn c̣n kiên
cường chiến đấu.
N hững năm sau đó, năm nào cũng thế, khi trời chỉ mới
vào thu là tôi đă bắt đầu ngóng chờ những con chim trane trở lại. Tôi chờ
chúng như đă từng chờ những chiến hữu của ḿnh. Tôi thấy như ḿnh trẻ lại,
ḷng rộn ră niềm vui. Cho dù cứ mỗi lần đàn chim tụ tập về đây là tôi có
nhiều đêm mất ngủ, trăn trở nghĩ suy về quê hương và số phận của ḿnh cùng
những bạn bè xưa.
H ầu hết bạn bè tôi, nếu c̣n sống sót sau cuộc chiến
tang thương đó, kẻ đă phải ra đi trong loạn lạc, ly tan, người th́ được
ông bạn đồng minh phản bội năm xưa, can thiệp với kẻ cựu thù cho "ra đi
trong ṿng trật tự" sau nhiều năm bị đày đọa ngục tù, vợ con nheo nhóc, để
giờ này mỗi người trôi dạt một phương, mang theo những vết thương không
lành được trong ḷng. Biết đến khi nào chúng tôi mới đuợc như những con
chim trane đang tụ tập ca hót líu lo ngoài kia, trươc giờ bay xuống phương
nam ?
C ó một lần, dường như vào mùa đông thứ năm, khác với
mọi năm, khi trời đă sáng hẳn rồi mà đàn chim cuối cùng vẫn chưa rời khỏi
địa điểm tập trung, kêu lên những tiếng kêu lạ, buồn và khắc khoải. Tôi ṭ
ṃ chạy ra xem. Lúc ấy những con chim vội vàng tung cánh bay lên rồi lần
lượt xếp lại thành đội h́nh mũi tên, nhưng vẫn bay ṿng lại mấy lần và
tiếp tục những tiếng kêu buồn không dứt. Tôi đứng nh́n theo, ḷng lắng
xuống như muốn nhắn gởi theo từng cánh chim một ít nỗi niềm. Nghe có tiếng
sột soạt trong một hốc đá, tôi chạy lại t́m. Một chú chim, chẵng hiểu v́
sao bị gảy đôi chân, nằm sâu trong đó, bên cạnh có khá nhiều hạt lúa ḿ,
thức ăn dành cho nó. Tôi bế con chim vào nhà. Nó nh́n tôi như van lơn, đôi
mắt của nó ướt nhè. Tôi có cảm tưởng là nó đang khóc. Tôi lại chợt nhớ tới
những đồng đội bất hạnh, bị trọng thương trong những ngày cuối cuộc chiến,
đau đớn, cô đơn, rồi lang thang sau khi bị đuổi ra khỏi các quân y viện.
Mắt tôi bỗng nḥe đi khi nghĩ đến mấy vị tướng oai hùng, cùng ở lại sống
chết với anh em rồi tuẫn tiết trước giờ thứ hai mươi lăm.
T ừ ngày có con chim trane thương tích, nhà tôi lại vui
hơn, nhất là hai cô con gái nhỏ của tôi, tha hồ nâng niu, chăm sóc và kể
cả tâm t́nh với nó. Cô bé thích sau này làm nghề y tá, th́ mang nó ra
pḥng bác sĩ thú y khám, mua thuốc băng bó cho nó. Riêng tôi, mỗi lần chăm
lo cho nó, tôi có cảm giác như đang lo cho một đồng đội bị thương tích của
ḿnh. Hơn hai tháng sau, khi đôi chân của nó lành hẳn, cũng là lúc tuyết
đang rơi trắng cả khung trời. Được thả ra khỏi lồng, nhưng nó chỉ quanh
quẩn trong nhà. Suốt gần một năm nó là một thành viên đặc biệt trong gia
đ́nh tôi và là bạn thân của hai cô con gái nhỏ.
K hi mùa thu trở lại, tôi bàn bạc, khuyên mấy đứa con
chuẩn bị trả nó lại với đàn, khi những con chim thiên di đầu tiên trở lại.
Giải thích và năn nĩ măi mấy cô mới chịu. Hôm trả nó lại sum họp với đàn,
hai cô con gái nâng niu, âu yếm tâm t́nh rồi chia tay nó. Không khí cảm
động không thua ǵ những cuộc chia ly trên thế gian này.
Một điều làm cả nhà tôi ngạc nhiên và xúc động. Cuối
mùa thu năm sau, khi những đàn chim bắt đầu trở lại, một buổi tối khi sửa
soạn đi ngủ, mấy cô con gái của tôi bất ngờ thấy con chim trane đậu ngoài
cửa sổ. Khi cửa sổ vừa mở, nó bay vào trong pḥng, kêu lên rộn ră. Nhờ vết
thương cũ c̣n in dấu trên đôi chân của nó, mấy cô con gái mới biết chắc,
nó chính là con chim năm trước. Từ đó, có thể tôi c̣n biết về loài chim
trane này nhiều hơn những nhà nghiên cứu chim muông : trung thành và có
trí nhớ.
Không ngờ, những con chim trane lại là những niềm vui,
nỗi nhớ cho gia đ́nh tôi trong những ngày lưu lạc ở một vùng bắc âu xa lạ..
B ây giờ mấy cô con gái của tôi đă thành người lớn. Tất
cả đă đi học bên Mỹ, bên Anh rồi ở lại làm việc luôn bên ấy, nhưng cứ gần
tới cuối mùa thu đều gọi về nhà hỏi thăm đàn chim trane có c̣n tụ tập
trứơc nhà, và con chim bị thương ngày trước có c̣n bay về đậu trên khung
cửa sổ.
Suốt mùa thu vừa rồi, tôi trông chờ nhưng đàn chim
không trở lại. Tôi thấy nhớ tiếc những đêm nghe tiếng chim kêu, và những
buổi sáng tinh mơ nh́n từng nhóm lặng lẽ bay theo h́nh những mũi tên hướng
về phương nam, hùng vĩ như một binh đoàn vượt tuyến xuất phát, bắt đầu một
cuộc hành quân qui mô dài hạn. Nhiều lúc tôi đă từng ước mơ có thêm đôi
cánh, để cùng được bay lên với chúng.
C ơ quan bảo vệ súc vật và sở y tế & vệ sinh thành phố,
cũng đă đến đây từ đầu mùa thu, xịt thuốc sát trùng và dọn dẹp bờ sông,
đồng cỏ, để đón những đàn chim trane trở lại. Năm nay, họ làm việc nhiều
hơn, chuẩn bị mọi điều chu đáo hơn, v́ có tin bệnh "cúm gia cầm" ở một vài
xứ nóng phía nam. Họ lo lắng những con chim trane bị lây nhiểm vi khuẩn
H5N1. Loại vi khuẩn mà cả thế giới đang bàn tán về nguy cơ một cơn đại
dịch. Hội Đồng thành phố họp liên miên, bàn bạc về khả năng những con chim
trane, có thể sẽ bị giết chết trên một xứ nóng nào đó, để ngăn ngừa mang
bệnh vào. Họ liên lạc với cơ quan y tế Liên Hiệp Quốc, gởi thư cho chính
phủ của một số nước nhiệt đới phía nam, nhằm bảo vệ cho những đàn chim
trane bay sang trốn lạnh. Họ chuẩn bị, lo lắng để đón những đàn chim của
họ quay về.
T rời đă vào đông, ngoài kia, bầu trời đă đổi sang màu
trắng đục, trên ḍng sông Nitelva dày đặïc sương mù, báo hiệu những hạt
tuyết đầu mùa sắp rơi. Bà Anne-Mari, trưởng Sở bảo vệ súc vật thành phố,
cùng một số nhân viên đến nhà tôi từ chiều nay. Họ kiên nhẫn ngồi chờ để
hy vọng được đón những đàn chim trane có thể trở lại muộn màng. Họ cùng vợ
chồng tôi uống hết mấy b́nh trà, rồi chia tay lúc nữa đêm. Tuyết bắt đầu
rơi. Chắc chắn giờ này những con chim trane không c̣n đến nữa. Khi đứng
lên chia tay, nh́n họ thoáng buồn nhưng không tuyệt vọng. Mỗi người đều
nắm chặt tay tôi và nói lời cầu nguyện bằng an cho những con chim trane di
xứ, dù nó đang trôi dạt ở nơi đâu cũng mong cuối mùa thu năm sau sẽ kéo
nhau trở lại nơi này.
S uốt cả đêm tôi không hề chợp mắt. Không phải tôi nghĩ
đến những con chim trane, mà nghĩ đến thân phận của chính ḿnh và những
người đồng hương đang lưu lạc khắp năm châu. Ngược lại với loài chim trane
thiên di, bay về nam t́m nắng ấm, chúng tôi đă phải bỏ quê hương bốn mùa
nắng ấm để đi t́m tự do và t́nh người ở những vùng băng tuyết xa xăm.
Những mùa đông kéo dài, trong cái lạnh lẽo. mới thấy thấm thía tận cùng
nỗi cô đơn xa xứ.
T ự dưng, tôi nghĩ đến một điều : Biết đến khi nào chính
quyền ở quê nhà thật ḷng xem những người ra đi là "khúc ruột ngàn dặm",
là " một bộ phận không thể tách rời", để biết yêu thương lo lắng và mong
ước đón tiếp họ trở về, như chính quyền của cái thành phố nhỏ ở xứ Bắc Âu
xa xôi này - nơi từng cưu mang gia đ́nh tôi - đă lo lắng mong chờ những
con chim trane di xứ ? Điều đặc biệt hơn, là những người Việt tha phương
sẽ mang về cho quê hương biết bao nhiêu tài năng, trí tuệ, và bạc tiền,
c̣n những con chim trane kia có thể sẽ mang về cho họ những con vi khuẩn
chết người.
T ôi đắp kín chăn nhưng vẫn thấy lạnh toát, mơ hồ như
tuyết đang phủ đầy người, và vết thương cũ trong ḷng vừa mới nhói đau trở
lại.


Bắc Âu, cuối tháng tư 2006
NHỮNG
ĐÀN
CHIM
THIÊN
DI
phạmtínanninh
|