|
|
 |
 |
|
Một Vài KỶ NIỆM
Quan
Dương |
|
 |
|
(viết dành riêng tưởng nhớ anh Nguyễn Lương Thuật)

Tôi
không biết phải bắt đầu hoài niệm từ đâu để viết về anh, v́ thú thật t́nh
cảm giữa tôi và anh hăy đang c̣n trong tư thế thân t́nh th́ không thể gọi
là thân t́nh mà xă giao th́ cũng không có thể gọi là xă giao.
Không
thể gọi thân t́nh bởi v́ tôi chỉ mới biết anh chị Thuật, Bích Khuê đâu
khoảng chừng 10 năm trở lại đây, sau ngày tôi định cư tại Mỹ. Mặc dù trước
75 khi đất nước hăy c̣n ch́m trong khói lữa tôi và anh được sinh ra và
cùng lớn lên trên vùng đất Nha Trang. Tôi quen anh chị Thuật Khuê qua
chiếc cầu Vơ Tánh Nữ trung học, chiếc cầu được các đồng môn liên trường
lưu lạc nơi xứ người cùng hoài niệm để thiết kế trên xa lộ không trung từ
sự giới tbiệu của cặp vợ chồng nhà văn nhà thơ Nguyễn Bá Dĩnh, Thủy Trang
ở Montreal Canada.
Không
thể gọi xă giao, bởi v́ tôi đă từng lặn lội từ Louisiana, miền Đông Nam
lên đến tận Seattle miền Tây Bắc của nước Mỹ để ghé thăm cơ ngơi anh chị,
ngược lại anh chị cũng đă từng từ Tây Bắc thân chinh xuống tận Đông Nam để
ghé thăm gia đ́nh tôi. Đó là chưa tính dến những năm đầu liên tiêp phụ
trách đặc san cho hai trường Vơ Tánh Nữ trung học, anh Nguyễn Lương Thuật
và chị Bích Khuê vừa e mail vừa gọi phone thay phiên nhau xa luân chiến
réo đ̣i nợ bài vỡ hằng ngày.
Nhờ
cùng đi chung trên chiếc cầu trường xưa bạn cũ nơi xứ lạ quê xa, tôi được
biết chị Bích Khuê là cựu học sinh Trường Nữ Trung Học. Khi chị đă tốt
nghiệp trung học th́ tôi hăy c̣n lẹt đẹt mài đũng quần ở Trường Vơ Tánh.
Sự xắp xếp thời điểm thật là tréo ngoe của định mệnh, tưởng chừng như
không thể nào có thể xăy ra cơ duyên, vậy mà cuối cùng vẫn quen nhau.
Nhiều khi nghĩ lại mới thấm được sự diệu kỳ của tạo hóa khi cấu trúc trái
đất này h́nh tṛn hẳn đă có chủ định vô cùng huyền vi. Tôi đến Mỹ sau anh
chị rất là nhiều năm. Khi mới biết bắt đầu vật lộn với sinh kế để c̣n kịp
hội hập vào đời sống Mỹ th́ anh chị Thuật, Khuê đă có cơ ngơi. Trước 75 đă
không biết anh chị là ai, sau 75 lại càng không biết ai là anh chị. Tưởng
chừng xa vời vợi như thế th́ đường ai nấy ngó mặc dù cùng chung một xứ
cùng chung nói tiếng Việt Nam. Nhưng mà giá như....giá như chị Bích Khuê
không phải là một người nhiệt thành trong công cuộc bảo tŕ chiếc cầu
tương ái Vơ Tánh, Nữ trung học và anh Nguyễn Lương Thuật người bạn đồng
hành kia của chị không một dạ hùa theo th́ có lẽ tôi không bao giờ được
dịp mà thân biết hai người dễ thương này. Trước kia tôi vốn lười, qua Mỹ
phải vật lộn với công việc làm mỗi ngày tại hăng xưởng, cơ thể đừ người
nên sự lười có cớ tăng theo. Vịn vào cái lư do hợp lệ kia nhiều khi tôi
muốn xù bài vỡ cho đặc san mỗi năm, chị Bích Khuê nào chịu tha cho, chị
gọi phone đ̣i nợ bài vờ c̣n hơn sở thuế. Một người đ̣i nợ một người khất
nợ cứ thế mà phone qua phone lại, phone thét thành quen thuộc. Chị mệt th́
có anh Thuật nhào vô tiếp sức. Anh Thuật đ̣i nợ thật tếu lâm vui hết biết,
dẫu tôi muốn lười cũng lười không xong. Cặp anh chị này giống như một
người đang hát một người đang đệm đàn làm hồn tôi cứ nao nao nhớ lại những
kỷ niệm của bạn bè thời c̣n cắp sách. Anh chị gợi xao động lại những kư ức
đang ngủ yên. Thế là tôi viết xuống thành ḍng. Tôi vừa được trả được nợ
chị Bích Khuê lại vừa được có bài lưu lại để làm của cải.
Năm
2000, anh chị Thuật Khuê du hành xuống miền Nam, anh chị ghé lại New
Orleans thăm tôi. Tôi nhớ rơ cảm giác ḿnh khi gỏ cửa khách sạn để gặp anh
chị, cảm giác hồi hộp nửa lạ lẫm nửa thân t́nh v́ đó là lần đầu tiên chúng
tôi biết mặt nhau sau nhiều năm liên lạc qua vũ trụ không gian. Khi cửa
pḥng mở, chị Bích Khuê nhỏ nhắn trẻ trung hơn tôi tưởng tượng và anh
Nguyễn Lương Thuật th́ rất tự nhiên vồn vă chạy ra ôm vai. Cử chỉ vô cùng
thân mật khiến nửa lạ lẫm kia tan biến tự khi nào. Lâu lắm mới được nghe
lại giọng nói Nha Trang thân thuộc. Giống như hai anh chị và tôi đă từng
là bạn từ lâu. Đó là vào những ngày cận tết Tân Tỵ, cái lạnh tháng chạp
của miền Nam nước Mỹ d́u dịu thâm thấm vào da chứ không chà siết đến độ
rát mặt như miền Tây Bắc nơi anh chị ở. Cũng v́ thế mà cây tắc ngọt phía
sau vườn nhà tôi trái bám vàng lên khắp các cành cây.. Trái trĩu nặng
xuống làm lộ ra những cḥm lá xanh um. Anh chị Thuật thích lắm bởi v́ cùng
vào thời điểm đó ở Seattle cây cối đều đă khô cằn và đang chơi vơi trong
tuyết. Anh nói nh́n cây tắc nhớ Nha Trang lúc này thiên hạ đang rộn ră dạo
mua cây cảnh ớ chợ Đầm và chợ xóm mới để đem về nhà chưng tết.
Tôi
đưa anh chị thăm cây cầu dài nhất thế giới bắt trên hồ
Pontchartrain
( chính nước từ chiếc hồ này theo cơn băo Katrina phá vỡ đê nhấn ch́m
thành phố New Orleans chết đuối 5 năm sau đó ). Lái xe cùng nhau chạy trên
chiếc cầu hùng vĩ mênh mông biển nước không thấy bờ, chúng tôi so sánh với
chiếc cầu xóm Bóng biểu tượng của thành phố Nha Trang. Thấy nhớ thương
khung cảnh yên lành dưới chân Tháp Bà vào mỗi mùa hè khi hàng cây phượng
vĩ rực đỏ ḥa theo tiếng ve kêu buồn bă cùng những mối t́nh thơ dại thuở
c̣n đi học. Tôi kể anh chị nghe về cái thời xách gói đu theo đít xe Khánh
Ḥa mỗi tuần từ Ninh Ḥa vào Nha Trang trọ học tại Hà Ra, cái thời nhất
quỉ nh́ ma thứ ba là học tṛ không bị cha mẹ kềm kẹp, phá như quỉ sứ. Anh
Thuật thích thú theo ḍng đời tôi kể. Nh́n anh rạng rỡ ḷng tôi vô cùng
hạnh phúc, ḷng thầm ám ơn chiến tranh đă làm chúng tôi khốn khổ nên có cớ
gặp nhau. Chị Khuê bảo tôi về những ngày tháng từ giă Trường Vơ Tánh, vĩnh
biệt tuổi học tṛ để gia nhập vào cuộc chiến tranh. Tôi kể chị nghe về
những người lính thư sinh miền Nam ngoài chiến trường làm quen với lửa đạn
đánh nhau với kẻ ác từ phương Bắc. những người lính đánh nhau vẫn biết sẽ
thua nhưng vẫn đánh v́ không thể để đối phương đè đầu cỡi cổ. Mặc dù cuối
cùng vẫn bị đè đầu cỡi cổ nhưng không phải ở thế tự tại an nhiên. Anh
Thuật chị Khuê kể tôi nghe về những ngày đầu đặt chân qua Mỹ với ước mong
làm chiếc cầu nối nhịp của nhiều thế hệ thanh niên của hai trường. Chúng
tôi nói chuyện cùng nhau vô cùng thân quen, giống y như là chúng tôi đă
từng gặp gỡ nhau nhiều lần trong mấy chục năm qua chứ không phải là lần
đầu gặp gỡ.
Anh
Thuật hiền lành nhưng năng động, anh năng động nhưng lại hài ḥa, anh hài
ḥa thành ra anh dễ thương và dễ mến. Tôi c̣n nhớ Năm 2003 tôi có việc
phải đi Vancover tiện thể tôi ghé lại Seattle thăm anh chị. Tôi ngủ lại
Seattle một đêm trong nhà của anh chị Thuật Khuê. Ngôi nhà có chiếc lưng
dựa vào sườn đồi phía sau, tôi gọi đùa nhà có lưng dựa vào nỗi nhớ. Trước
nhà là cây phong lan lá đổi màu vào mùa thu. Tôi không sống ớ vùng lạnh
nên dốt tịt về tên cây cối, nhưng tôi cảm nhận được không khí mùa hè của
seatlle rất đẹp. Nhất là ngồi trên máy bay khi sắp đáp xuống phi trường
nh́n thành phố Seattle trăi dài từng hô nước nhỏ được thiên nhiên đặt trật
tự lên mặt đất xanh um màu lá đẹp đến diệu kỳ. Khung cảnh nơi anh chị ở
yên ắng khiến cho tôi sống lại cảm giác của những ngày c̣n độc thân sau
những tháng năm miệt mài phong sương bỗng thèm được dừng chân Khung cảnh
không gian xung quanh nhà anh chị chính là nơi khiến cho ḷng tôi lâng
lâng trào dâng đầy cảm giác đó. Tôi cùng một người bạn và anh chị, bốn
chúng tôi đi tham quan thành phố. Đập vào mắt tôi là những hàng cây xanh.
Dọc trên những lề hè phố là những con heo làm bằng đất hay nhựa ǵ đó
trong mọi tư thế ngồi,nằm,đứng, trông thật là ngộ nghĩnh. Tôi chỉ ghé lại
Seattle một lần vào mùa hè và từ đó đến nay chưa có dịp đến nữa, nên tôi
không biết khung cảnh mùa thu, mùa xuân mùa đông thế nào, nhưng chắc chắn
không đẹp bằng mùa hè, do đó h́nh ảnh Seattle trong tôi là một thành phố
đẹp xanh màu mướt mắt. Ở đó có t́nh cảm đối xử của anh chị Thuật, Khuê
dành cho tôi c̣n mát hơn màu thành phố.
Năm
2005, băo Katrina tấn công New Orleans, dân cư thành phố hoảng hốt lái xe
tháo chạy. Tôi cũng tháo chạy như mọi người, nhưng không hoảng hốt. Những
ǵ tôi chứng kiến xăy ra trong cảnh tháo chạy trên xa lộ 10 không hổn loạn
như năm 1975 khi tôi cùng Thu Ba theo ḍng người tháo chạy từ Nha Trang
theo quốc lộ số 1 vào phía Nam. Dân chúng tháo chạy nhưng vẫn c̣n có cái
ǵ đó để ăn mang theo, chạy trước khi cơn băo độ bộ đến 36 tiếng đồng hồ.
Chạy biết nơi ḿnh đến sẽ an toàn, có bảo bọc th́ cuộc chạy khác ǵ một
cuộc đi chơi? Năm 75 cơn băo của sự hiểm ác con người thổi từ phương Bắc
thổi vào đất nước đuổi tôi ra khỏi căn nhà nơi ḿnh chôn nhau cắt rốn. Tôi
chạy trốn cái ác tâm đó mà không có ǵ để mang theo mà ăn và nơi đến th́
tương lai mịt mù vô định. So sánh hai cơn băo rượt trăi qua, tôi b́nh tâm
không cần hốt hoảng. Nhưng anh chị Thuật Khuê qua h́nh ảnh được chiếu trên
các kinh truyền h́nh của Mỹ đă lo sợ vô cùng cho tính mạng của tôi, t́m đủ
mọi phương cách để biết tin tức. Cơn băo ập vào rượt tôi bỏ chạy, mọi
đường phone bị cắt, tôi không có computer nên anh chị xem như không biết
tôi đang ở đâu. Măi đến vài ngày sau khi biết tôi an toàn ở Houston, anh
chị là người đầu tiên gửi tiền tiếp trợ để tôi mua thực phẩm. Sự việc này
khiến ḷng tôi vô cùng cảm động và áy náy. Tôi cảm động v́ cách đối xử của
anh chị quá ân cần, tôi áy náy v́ tôi biết rơ là ḿnh sẽ không sao hết,
chưa đến độ anh chị phải lo lắng. Sống ở Mỹ, nhà có sập th́ băo kiểm đền,
không có việc làm th́ xin tiền thất nghiệp. Tài sản có trôi theo ḍng nước
th́ xem như huề vốn v́ khi đặt chân đến nơi này tôi đâu có ǵ ngoài hai
bàn tay trắng. Anh Thuật chị Khuê không nghĩ như thế. H́nh ảnh hăi hùng từ
cuộc chiến tranh Việt Nam, đến sự hăi hùng của những người dân New Orleans
c̣n kẹt trong vùng nước ngập khiến chị liên kết lại với nhau để mà lo sợ.
Tôi gửi lời cám ơn đến anh chị và chỉ biết nói hai tiếng cám ơn lập lại
nhiều lần v́ không t́m thấy ngôn từ nào trong từ điển để diễn đạt cho tận
cùng sự cảm động của ḿnh trước những nghĩa cữ cao quí kia.
Ngày
người bạn của tôi từ Seatlle gửi e mail báo tin anh Nguyễn Lương Thuật vừa
mất v́ thoát không qua khỏi một căn bệnh hiểm nghèo, ḷng tôi chợt nhiên
đanh lại. Tôi bị quá bất ngờ. Tôi có đọc e mail của các thầy cô bạn bè
liên trường Vơ Tánh, Nữ Trung học Nha Trang chia buồn cùng chị Bích Khuê.
Trong những số đó không có tên tôi. Anh Nguyễn Lương Thuật mất, tôi cũng
buồn và buồn ghê gớm. Người ta viết cáo phó, phân ưu, chia buồn với gia
đ́nh người chết nói cho cùng ra cũng chỉ là thực hiện theo phong tục tập
quán cha ông lưu lại. Lần này tôi phá lệ. Anh Nguyễn Lương Thuật mất tôi
ôm sự buồn không chia cùng chị Bích Khuê v́ tôi biết chị là một người phụ
nữ tuy nhỏ nhắn nhưng rất can trường. Những khổ đau này rồi chị cũng sẽ
vượt qua. Chung quanh chị, ngoài con cái thành đạt, c̣n có bạn bè thầy cô
và bằng hữu.
Trước
năm 1975 tôi đă vốn không biết anh Nguyễn Lương Thuật, tuy cùng sống và
lớn lên chung địa danh Nha trang. Phải chờ măi đến hơn ba mươi năm, sau
khi lăn thân gần hết đời người mới vịn được vào bờ thành chiếc cầu Vơ Tánh,
Nữ trung học mà gặp cơ duyên. Kỷ niệm chia xẻ cay đắng ngọt bùi không
nhiều. Điều ấy rơ ràng là như vậy, nhưng không hiểu sao trước tin anh bỏ
ra đi khỏi cơi trần gian này, ḷng tôi buồn vô hạn. Tôi nhớ khuôn mặt hiền
lành của anh, nhớ lần anh đến New Orleans trên đường lái xe vào khu phố
trời đă vào đêm lạc lên lạc xuống t́m tôi không ra. Tôi nhớ nụ cười hạnh
phục khi anh quay lại bấm máy chụp h́nh chị Bích Khuê đang ngủ gục khi xe
đang chạy trên chiếc cầu 24 dậm. Tôi nhớ anh xếp hàng hai vợ chông tôi
cùng chị Bích Khuê chụp h́nh kỷ niệm đứng dưới chân cầu xe lữa cao nhất
thế giới có tên là Huey P.long. Tôi nhớ đôi kiếng cận và cách tiếp chuyện
vừa hài ḥa vừa ḷa x̣a của anh. Tôi nhớ h́nh ảnh anh nhai trái tắc hái
sau vườn nhà tôi, anh bảo anh đang ăn tết tại quê nhà. Nhưng sự nhớ rất
nhỏ nhặt kia rồi đây cũng phải theo thời gian năm tháng nguôi ngoai đế c̣n
ch́m vào quên lảng.
B iết
thế nhưng ḷng tôi vẫn sao đau đáu một sự đau.
New Orleans 5/2008
Quan
Dương
|