Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ & Truyện: Thùy Trang                |                 www.ninh-hoa.com

Bút hiệu:  Thùy Trang

 
   Nguyễn Thùy Trang
  cựu học sinh Trung học
   Trần B́nh Trọng NH
   niên khóa 1976-1981.
 


    Hiện cư ngụ tại Úc


 

 

 

 



---˜ ] ---

 

Ngày 14/03/2007 tôi phải đến thu thập [consent form] và những dữ kiện của sinh viên năm thứ nhất của School of Education trong giờ giảng của bà Professor Henderson và giáo sư Cooke, bởi v́ những dữ kiện về ai là người tham gia vào cuộc nghiên cứu sẽ được giữ bí mật và chỉ một ḿnh tôi là người duy nhất biết điều đó thôi.

 

Lớp toàn sinh viên nữ. Theo truyền thống chọn lựa nghề nghiệp, ngành giáo dục hầu như dành cho sinh viên nữ, nam chiếm chỉ ít hơn một phần ba. Số trung niên theo học cũng tương đối, những người đă lập gia đ́nh và có con, nay con đă lớn th́ đi học lại. Nhiều người trước giờ chỉ làm công việc dựa trên sức lao động, nay đă quá ngán ngẫm với công việc này nên quyết định đi học lại. Đây là sự khác biệt lớn lao giữa những người phụ nữ ở các nước phương Tây và phụ nữ Việt nam.

 

Ở Việt Nam, sau khi tốt nghiệp xong bằng phổ thông cấp 3, các học sinh nữ hoặc sẽ ghi danh thi đại học, trung cấp, hoặc t́m cho ḿnh một ngành nghề, hoặc lập gia đ́nh. Những phụ nữ đă chọn cho ḿnh một ngành nghề th́ sẽ sống chết măi với ngành nghề đó, hay là sẽ chuyển sang một ngành nghề khác, chứ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện ghi danh học đại học để thay đổi cuộc đời như tại các nước phương Tây này. Tuy nhiên cũng có một số rất ít người dám can đảm ghi danh học đại học với ư nghĩ sẽ làm thay đổi số phận của ḿnh. ”Can đảm” v́ họ sẽ phải đương đầu với những câu hỏi móc méo, sự trêu ghẹo của một số người không tin vào nền học vấn, hoặc nói rơ hơn là sự nghi ngờ của một số người cho rằng với cái lứa tuổi trên 26 là không c̣n là tuổi học nữa. Những người phụ nữ  đă có bằng cấp, đă đi làm và học tiếp thêm bằng thứ hai th́ dễ dàng chấp nhận, thậm chí c̣n thán phục. Nhưng không ai nghĩ đến chuyện khuyến khích một người phụ nữ trung niên, những người phụ nữ làm công việc bằng sức lao động ghi danh học đại học cả, chứ đừng nói ǵ đến chuyện thành lập những dịch vụ như giữ trẻ ngay trong trưỡng đại học để giúp đỡ họ như những trường đai học ở Mỹ, Úc, và các nước văn minh khác.

 

Trước khi buổi học bắt đầu, các sinh viên lần lượt giới thiệu về ḿnh, từ đâu đến, tại sao lại chọn ngành sư phạm, … rồi đến lượt các giáo viên. Tôi chăm chú lắng nghe những sinh viên nữ trong lứa tuổi khoảng từ 35-45 giới thiệu về họ. Đây là những người muốn thay đổi số phận và cuộc sống, muốn học để t́m cho bản thân một ngành nghề. Một trong số họ làm nghề quét dọn lao công và quyết định bỏ nghề để đi học ngành sư phạm cho cấp trung học môn Toán và Vật lư. Mọi người đều ̣a lên khi nghe nói về Toán, và cô ta đă nói là nhiều người cho cô là ngu ngốc [idiot] khi theo học môn Toán. Tôi tin là cô ta sẽ học và sẽ là giáo viên môn Toán sau này, nếu như cô ta có khiếu về Toán, có ư chí và nghị lực. Truyền thống chọn ngành nghề, môn học theo giới tính đă từ lâu ăn sâu bám rể vào đầu óc mọi người. Theo tôi th́ những ngành nghề như Công nghệ Thông tin (ICTs), Toán, Vật lư không chỉ để dành cho nam giới mà thôi. Thế nên tôi luôn khuyến khích những học sinh nữ nên chọn ngành Công nghệ Thông tin (ICTs) để học, để chứng tỏ là phụ nữ có thể vươn lên trong bất kỳ lĩnh vực nào.

 

Tôi là người giới thiệu về ḿnh sau cùng. Khi tôi nói “I am Vietnamese (tôi là người Việt Nam)….”, giáo sư Henderson đă cắt lời “Now You are Australian” (Bây giờ cô đă là người Úc)… “Well, I am Australian now, but I came from Vietnam in 1998…” (À, bây giờ tôi là người Úc, nhưng tôi đến từ Việt Nam năm 1998). Bà giáo sư thường hay nhấn mạnh tôi là người Úc trước đám đông, trước sinh viên Úc và thường hay kể lại cuộc đời gian nan khổ cực của tôi để trở thành một cô giáo trường TAFE college, và bây giờ là trợ giảng và cũng là project manager cho một dự án nghiên cứu về [mental models] (dịch nôm na là tâm thức) trong việc học của sinh viên. Lư do bà giáo sư nhấn mạnh tôi là người Úc chỉ v́  tôi làm project manager cho một đề án nghiên cứu hơn gần cả ngàn sinh viên Úc theo học các ngành khác nhau như giáo dục học, kinh tế thương mại, nghệ thuật, kỹ thuật… Thế nên bà muốn tôi được kính nể, một sự đồng t́nh của dân bản xứ. Bà giáo sư e rằng sẽ có một vài người nào đó lên tiếng phản đối là tại sao lại để cho một tên Việt Nam da vàng mũi tẹt đi làm những cái nghiên cứu về tư duy [cognition], [metacognition], [mental modes] của người Úc.

 

“ I am Aussie”, “I am Australian”. Tôi cảm nhận rơ rệt được sự khác nhau khi tôi là người Úc và khi tôi là người Việt năm 2000.  Là người Việt sống tại Úc, xin visa du lịch qua Thụy Sĩ tôi phải có giấy chứng nhận của trường Đại học là tôi đang học và sẽ về tiếp tục học, đồng thời phải chứng minh tài khoản một số tiền tương đương mười ngàn Franc Thụy Sĩ để bảo đảm tôi có tiền tiêu xài trong thời gian ba tháng du lịch ở đây. Khi được vô quốc tịch Úc, năm 2002 tôi chỉ cần bỏ tiền mua vé máy bay đi qua Thụy Sĩ, không một giấy tờ xin phép nhập cảnh vào đất nước họ. Thậm chí qua hải quan Thụy Sĩ, họ cũng chẳng màng đóng con dấu vào hộ chiếu.

 

Là người Việt Nam ở Việt Nam, xin được giấy thông hành đi chơi ở các nước đă là một điều rất khó khăn và ngoài giấc mơ của tôi. Nhưng khi c̣n là người Việt ở Úc, tôi cũng đâu có thể ngang nhiên đi đến nước khác mà không cần visa, giấy tờ xin phép đến các nước như Mỹ, Anh cũng rất rắc rối, phải chứng minh tài khoản để họ tin chắc rằng tôi không đến đó để đi làm trong thời gian lưu lại nước đó. Nếu tôi không chứng minh được tài khoản th́ phải có người thân chứng minh số tài khoản đó. Thế nên khi biến thành người Úc, tôi mừng quá, và dù tôi là tên Úc nghèo mạt lúc bấy giờ nhưng tôi vẫn chạy đi chơi lung tung nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Ư, Canada và nhiều nước Á Châu khác. V́ trong con mắt của những nhà quan chức tại các nước này, th́ tôi xuất thân từ con nhà giàu và đủ tiền chi phí cho cuộc sống du lịch của tôi.

 

Là người Úc, sống tại Úc, vói một nền tự do dân chủ, tôi hoàn toàn có tự do về đời sống cá nhân, không e dè ngần ngại khi nói chuyện như ở Việt nam. Tôi là người Úc trong cung cách làm việc, nhưng mặt mũi, vóc dáng của tôi hoàn toàn là người Việt Nam, suy nghĩ của tôi trên một số quan điểm nào đó vẫn c̣n thuần suy nghĩ Việt Nam. Thế nhưng nhờ cái danh hiệu là người Úc mà tôi có thể dễ dàng kiếm việc làm v́ rất nhiều công việc hiện nay chỉ dành cho người Úc.  Nói ǵ th́ nói, thích tôi là người Úc trong con mắt cộng đồng của dân Úc, nhưng thực chất, tôi vẫn là người Việt da vàng mũi tẹt. Và tôi tự hào ḿnh là người Việt Nam, tự tin vào bản thân, trọng chữ tín.

 

Tôi là người Úc nhưng vẫn cảm thấy xa lạ trong cuộc sống ở đất nước Úc này.Tôi sống ở Úc đă gần 9 năm, một thời gian tương đối dài. Tôi học và làm, làm và học trong thời gian đó, không ngừng.  Tôi chỉ nói tóm tắt về công việc làm của tôi trong thời gian sống ở Úc này, nhưng bà giáo sư đă tiếp lời kể lại câu chuyện thời gian tôi làm ruộng khổ cực tại Việt Nam, việc Cha tôi làm việc cho chế độ miền Nam Việt Nam và thế rồi tôi không được bước vào ngưỡng cửa đại học khi tốt nghiệp cấp 3, phải đến gần 10 năm sau đó khi Việt Nam có đại học mở rộng tôi mới có thể nộp đơn xin học để rồi có cái bằng đại học để có thể xin đi dạy kèm kiếm cơm sống qua ngày tại quê nhà.

 

À, bà giáo sư biết được đây là phần gây ấn tượng cho các sinh viên, nhất là các sinh viên nữ giới trung niên. V́ họ sẽ nh́n tôi như là một kiểu mẫu, nếu tôi đă thành công ở nước Úc này sau gần 10 năm rời học đường, th́ họ cũng sẽ thành công nếu như họ có ư chí quyết tâm. Và quả đúng như vậy, khi chỉ c̣n riêng tôi trong pḥng với sinh viên, nhiều sinh viên nữ đă nói chuyện với tôi về mơ ước của họ.

 

Ḷng tôi dấy lên một nỗi buồn về thân phận những người phụ nữ ở Việt Nam đă cùng hoàn cảnh với tôi trước đây nhưng không có cơ hội như tôi. Ước ǵ, họ cũng may mắn như tôi, có cơ hội vươn lên trong cuộc sống.

 

Kết thúc câu chuyện, tôi xin đính kèm lời của một sinh viên cao học ở Cairns gởi đến tôi:

 

“I hope that you can go somewhere to help the Vietnamese community, educate the Vietnamese university students....I feel like you invested your time in JCU and then will give back your intelligence and hard work for the Vietnamese….By teaching students that are Vietnamese, you are provided a role model in a silent way, saying "If you try hard like me, you can be like me"... That's why I envy you so much, you are fantastic.” -- Master student in Education

 

Tạm dịch:

 

Tôi hy vọng rằng cô có thể đến những nơi nào đó dể dạy các sinh viên Việt Nam. Tôi có cảm nghĩ rằng cô dồn thời gian học và làm việc của cô ở JCU và rồi sẽ đem tài sức của cô hướng dẫn những sinh viên Việt Nam. Cô sẽ là một kiểu mẫu âm thầm cho những sinh viên Việt Nam: “nếu các em cố hết sức, các em sẽ như cô”. Đó là lư do em ganh tị với cô lắm đấy. Cô thật là tuyệt!

 

 

 

---˜ ] ---

Thùy Trang
20 April 2007

 

 

Trang Thơ & Truyện: Thùy Trang               |                 www.ninh-hoa.com